Chủ nhật 15/03/2026 09:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong hoạt động của Tòa án nhân dân

Bài viết về thực trạng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong hoạt động của Tòa án nhân dân, từ đó, tác giả đã đề ra giải pháp, kiến nghị khắc phục để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1. Thực trạng một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong hoạt động của Tòa án nhân dân[1]

Ngày 25/5/2023, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, khi thảo luận tại tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước, khi phát biểu tại tổ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà nêu về tình trạng cán bộ, công chức, viên chức làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ. Đây là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Bởi những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đã vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm các quy định của Luật Chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Cán bộ, công chức[2].

Trong hoạt động của Tòa án, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, tại phiên trả lời chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, đại biểu Trịnh Ngọc Phương (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh) đã nêu lên một thực trạng là: Hằng năm ngày 30 tháng 9 là ngày kết thúc năm công tác của Tòa án vì vậy các Tòa án đua nhau xét xử, xét xử dồn dập để có thành tích, để không có án tồn; người dân nộp đơn vào thời điểm này thì khó được Tòa nhận, thậm chí là không nhận. Theo đó, người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát, người tham gia tố tụng kể cả luật sư cũng bị động theo… dẫn đến vi phạm tố tụng, chất lượng xét xử không tốt[3]. Thực trạng Tòa án không xử lý đơn khởi kiện đúng hạn luật định, hạn chế thụ lý vụ án để tăng tỷ lệ giải quyết án là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã nêu.

Ngoài ra, còn một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như:

(i) Tình trạng một số thẩm phán “ngại” giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp nên tìm cách hướng dẫn, giải thích pháp luật theo hướng đương sự rút đơn khởi kiện để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi Tòa án đình chỉ, vụ án không được giải quyết dứt điểm nên đương sự sẽ khởi kiện lại và được phân công cho thẩm phán khác giải quyết. Thẩm phán hướng dẫn, giải thích pháp luật cho đương sự rút đơn trước đó sẽ không được phân công vụ án đó nữa[4]. Mục đích của việc hướng dẫn, giải thích pháp luật cho đương sự rút đơn khởi kiện là để “né tránh trách nhiệm giải quyết án khó”, việc giải quyết các vụ án phức tạp sẽ làm tăng nguy cơ tỷ lệ án hủy, sửa của cá nhân thẩm phán đó. Mặt khác, trong công tác giải quyết các vụ án hành chính, một bộ phận nhỏ các thẩm phán còn tư tưởng nể nang, ngại va chạm đến cơ quan nhà nước dẫn đến tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan còn cao[5].

(ii) Tình trạng chậm giải quyết các vụ án, để các vụ án kéo dài, quá hạn theo quy định của pháp luật dẫn đến cuối năm khi bình xét thi đua, thẩm phán có các loại vụ án này sẽ bị đánh giá phân loại cán bộ, công chức là chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

(iii) Tình trạng do hạn chế về năng lực nên có một bộ phận nhỏ thẩm phán để án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan cao hơn mức quy định và một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị khác.

2. Nguyên nhân

Nguyên nhân của thực trạng xử lý đơn khởi kiện quá hạn luật định, hạn chế thụ lý vụ án là do các thẩm phán, các Tòa án vì bị áp lực về công tác thi đua khen thưởng, công tác tái bổ nhiệm của thẩm phán nên “chạy theo thành tích”“dùng thủ thuật” việc tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện để quá hạn, hạn chế thụ lý vụ án của người dân để giảm lượng án phải thụ lý giải quyết, nâng cao tỷ lệ án đã giải quyết, đảm bảo các chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết án của từng thẩm phán và Tòa án.

Cũng vì áp lực thi đua, khen thưởng nên một số thẩm phán sợ tỷ lệ án hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan vượt mức quy định[6] dẫn đến mất thi đua, khen thưởng và không được tái bổ nhiệm[7] nên một bộ phận thẩm phán sợ trách nhiệm nên tránh né, không dám giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp. Minh chứng cho thực trạng này là tình trạng làm khống 57 hồ sơ vụ án của bà Bùi Thị Dung - thẩm phán sơ cấp Tòa án nhân dân huyện Đắk Song: Năm 2016, bà Dung có tỷ lệ án hủy cao hơn 1,16%, ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm thẩm phán vào năm 2017 nên bà Dung đã gian dối tự viết đơn kiện, ứng nộp án phí 57 hồ sơ để giải quyết theo hướng nguyên đơn rút đơn, tăng tỷ lệ án xử đạt để đủ điều kiện được bổ nhiệm[8].

Một bộ phận nhỏ thẩm phán còn thiếu bản lĩnh chính trị còn tư tưởng nể nang, ngại va chạm, hạn chế về năng lực nên dẫn đến việc giải quyết án bị kéo dài, quá hạn luật định; chất lượng xét xử còn hạn chế (tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan còn vượt mức quy định).

Mặt khác, số vụ việc các thẩm phán và các Tòa án phải giải quyết ngày càng tăng cao, làm cho công tác của một số thẩm phán và Tòa án trở nên quá tải. Số lượng án phải giải quyết của từng thẩm phán trong năm công tác một số nơi cao hơn gấp hai hoặc ba lần so với mức quy định (mức quy định là mỗi thẩm phán giải quyết trong năm là 72 vụ việc).

Một số quy định của pháp luật về một số tiêu chí thi đua và xem xét xử lý trách nhiệm của những người giữ chức danh tư pháp còn xung đột nhau, gây ảnh hưởng đến tâm lý của thẩm phán trong thi hành công vụ.

3. Một số khó khăn, vướng mắc dẫn đến tình trạng có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong hoạt động của Tòa án nhân dân

3.1. Quy định về cách tính tỷ lệ án đã giải quyết

Hiện nay, cách tính tỷ lệ án đã giải quyết các loại án là tỷ lệ giữa tổng số các loại án đã được giải quyết trong năm công tác (bao gồm án xét xử, hòa giải thành, đình chỉ) trên tổng số án đã thụ lý trong năm.

Ví dụ: Mỗi tháng Tòa án thụ lý 10 vụ, trong một năm thụ lý tổng cộng là 120 vụ. Trong đó, có 80 vụ quá thời hạn chuẩn bị xét xử (đã được thụ lý trên 04 tháng); có 40 vụ mới thụ lý, dưới 04 tháng, trong thời hạn chuẩn bị xét xử.

Tòa án đã giải quyết được 90 vụ, trong đó đã giải quyết quá thời hạn chuẩn bị xét xử là 70 vụ, còn lại đã giải quyết những vụ mới thụ lý, trong thời hạn chuẩn bị xét xử là 20 vụ.

Khi đó, tỷ lệ án đã giải quyết của Tòa án trong năm sẽ là: (90 vụ đã giải quyết)/(120 vụ đã thụ lý) x 100% = 75%.

Do quy định này, nên phần lớn các Tòa án đều hạn chế thụ lý các vụ án vào những tháng cuối năm, do sợ bị ảnh hưởng đến việc bình xét thi đua khen thưởng. Giả sử trong 04 tháng cuối năm do Tòa án hạn chế thụ lý nên không thụ lý thì khi đó tổng lượng án phải giải quyết sẽ là 120 - 40 = 80 vụ. Khi đó tỷ lệ án đã giải quyết của Tòa án sẽ là (70/80) x 100% = 87,5%, đạt chỉ tiêu đã đề ra là từ 85% trở lên. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng Tòa án hạn chế thụ lý án vào những tháng cuối năm.

Tuy nhiên, nếu thẩm phán, Tòa án không thụ lý án vào những tháng cuối năm sẽ vi phạm thời hạn về Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh cán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân (Quyết định số 120/QĐ-TANDTC). Cụ thể như sau:

Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị khi thẩm phán có một trong những hành vi vi phạm trong việc xử lý đơn, thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc:

- Xử lý đơn khởi kiện để quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 121 Luật Tố tụng hành chính;

- Xử lý đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự để quá thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Điều 363 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Thụ lý vụ, việc chậm quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Điều 195; khoản 4 Điều 363 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 125 Luật Tố tụng hành chính.

Như vậy, nếu như hạn chế thụ lý án vào những tháng cuối năm thì thẩm phán đều vi phạm thời hạn xử lý đơn và đều bị xử lý trách nhiệm theo quy định. Ngược lại, nếu không hạn chế thụ lý giải quyết án để không vi phạm thời hạn xử lý đơn và không bị xử lý trách nhiệm theo quy định thì tỷ lệ án đã giải quyết của thẩm phán, Tòa án không đạt chỉ tiêu. Do đó, cách tính tỷ lệ án đã giải quyết như hiện nay đã dẫn đến các hành vi vi phạm theo một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị của từng thẩm phán và Tòa án.

3.2. Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan theo quy định tại khoản 7 Điều 9 Quyết định số 120/QĐ-TANDTC chưa phù hợp

Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án có quy định: “Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan; bảo đảm tổng số bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt quá 1,5% tổng số các loại án”.

Mục 2.4 của Chỉ thị số 01/2020/CT-CA ngày 09/01/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong tâm công tác năm 2020 của các Tòa án có quy định: “Bảo đảm tổng số bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt quá 1,5 tổng các loại án”.

Để hướng dẫn cách tính tỷ lệ án hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan, ngày 15/12/2020, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 356/TANDTC-TĐKT. Tại khoản 1 Mục III Công văn có hướng dẫn: Báo cáo chất lượng xét xử: “Tổng” số bản án, quyết định bị (hủy, sửa) do nguyên nhân chủ quan “chia 2” không vượt quá “1,5%” tổng số các vụ (án, việc) đã giải quyết, xét xử trong năm thi đua “12 tháng”.

Trong khi đó, nếu thẩm phán có tỷ lệ án bị hủy do nguyên nhân chủ quan từ 1,16% trở lên đều bị xử lý trách nhiệm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC.

Ví dụ: Trong một năm công tác hoặc một nhiệm kỳ, thẩm phán A đã giải quyết 100 vụ, bị hủy 02 vụ do nguyên nhân chủ quan, không bị sửa vụ nào với nguyên nhân chủ quan. Khi đó, tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan được tính để xét thi đua từ năm 2020 trở về sau là: ((02+00)/2)/100 x 100% = 01%. Khi đó, thẩm phán vẫn được xét thi đua, khen thưởng bình thường.

Còn tỷ lệ án bị hủy do nguyên nhân chủ quan để làm cơ sở xử lý trách nhiệm đối với thẩm phán và làm cơ sở có tái bổ nhiệm đối với thẩm phán hay không được tính là: 02/100 x 100% = 02%. Khi đó, thẩm phán sẽ bị xử lý trách nhiệm theo khoản 7 Điều 10 Quyết định số 120/QĐ-TANDTC và kèm theo đó sẽ không xét thi đua, khen thưởng đối với thẩm phán đã vi phạm.

4. Một số giải pháp, kiến nghị

Một là, cần thay đổi cách tính tỷ lệ án đã giải quyết.

Tỷ lệ các loại vụ việc đã giải quyết là tỷ lệ giữa tổng số vụ việc đã giải quyết trên tổng số vụ việc đã thụ lý và có điều kiện giải quyết[9]. Theo đó, tổng số vụ việc đã thụ lý và có điều kiện giải quyết là tổng số vụ việc đã thụ lý giải quyết quá thời hạn chuẩn bị xét xử cộng với số vụ việc đã giải quyết trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Khi đó, việc tính tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc sẽ được tính như sau:

Tỷ lệ án đã giải quyết theo dẫn chứng cứ = (Tổng số các loại vụ việc đã giải quyết (90)/tổng số các loại vụ việc đã được thụ lý và có điều kiện (80+20 = 100)) x 100% = 90%.

Với cách tính này sẽ đảm bảo cho các thẩm phán xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo đúng thời hạn luật định, không bị xử lý trách nhiệm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC nhưng tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc vẫn đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra; tháo gỡ việc thẩm phán bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ, giảm tải áp lực đối với thẩm phán và chấm dứt tình trạng các vi phạm dưới biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của thẩm phán trong thời gian qua. Mặt khác, cách tính này góp phần thúc đẩy các thẩm phán tập trung giải quyết các loại vụ việc tồn đọng, kéo dài vì nếu không giải quyết sẽ bị tính là án tồn…

Hai là, sửa đổi một số quy định của Quyết định số 120/QĐ-TANDTC.

Quyết định số 120/QĐ-TANDTC được ban hành từ năm 2017, trong khi đó, chỉ tiêu và cách tính tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan trong công tác xét thi đua, khen thưởng đã được thay đổi từ năm 2020 cho đến nay. Các quy định về xử lý trách nhiệm của thẩm phán trong Quyết định số 120/QĐ-TANDTC chỉ đặt ra tiêu chí tỷ lệ án bị hủy do nguyên nhân chủ quan, không có quy định đối với tỷ lệ án bị sửa do nguyên nhân chủ quan. Nên có thể nói, các quy định này của Quyết định số 120/QĐ-TANDTC đã “lỗi thời” cần phải được sửa đổi để đảm bảo cho thẩm phán an tâm công tác, thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ngoài ra, theo tác giả cần tiếp tục tăng cường, kỷ luật công vụ trong các Tòa án nhân dân theo Chỉ thị số 05/2020/CT-CA ngày 28/7/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ trong Tòa án nhân dân.

Trần Tú Anh & Huỳnh Minh Khánh

Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang


[1] Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề ra các giải pháp khắc phục.

[2] https://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-noi/bo-truong-noi-vu-can-bo-lam-viec-cam-chung-ne-trach-nhiem-la-suy-thoai-khong-the-benh-bao-che-210838.html, truy cập ngày 10/4/2024.

[3] https://tapchitoaan.vn/can-thay-doi-cach-tinh-ty-le-an-giai-quyet, truy cập ngày 10/7/2023.

[4] Khoản 3 Điều 53 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Trích kết quả trả lời chất vấn tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XV ngày 20/3/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[6] Khoản 1 Mục III Công văn số 356/TANDTC-TĐKT ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân tối cao: Báo cáo chất lượng xét xử: “Tổng” số bản án, quyết định bị (hủy, sửa) do nguyên nhân chủ quan “chia 2” không vượt quá “1,5%” tổng số các vụ (án, việc) đã giải quyết, xét xử trong năm thi đua “12 tháng”.

[7] Khoản 1 Điều 16 Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về ban hành quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân.

[8] Trung Tấn – Đình Cương, “Làm khống 57 bộ hồ sơ: Viện KSND tối cao vào cuộc, chánh án nói “không cấu thành tội phạm”, https://tuoitre.vn/lam-khong-57-bo-ho-so-vien-ksnd-toi-cao-vao-cuoc-chanh-an-noi-khong-cau-thanh-toi-pham-20210617143909187.htm , truy cập ngày 14/7/2023.

[9] Án có điều kiện giải quyết là án đã thụ lý và đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử (quá 04 tháng hoặc 06 tháng tùy theo tiêu chí quy định); hoặc án trong thời hạn chuẩn bị xét xử những đã được giải quyết xong.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: