Chủ nhật 15/03/2026 08:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với việc thu hồi đất để xây dựng các khu đô thị mới và chỉnh trang đô thị ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết này khái quát các dự án xây dựng khu đô thị mới, dự án chỉnh trang đô thị, bản chất của việc thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị và sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với việc thu hồi đất để xây dựng các khu đô thị mới và chỉnh trang đô thị

Abstract: This paper bings out the generalization of new urban areas building projects, new urban renewal projects, the nature of land recovery in new urban areas building projects, new urban renewal projects and the need of legal regulating land recovery for new urban areas building, new urban renewal.

1. Khái quát về việc thu hồi đất để xây dựng các khu đô thị mới và thực hiện chỉnh trang đô thị

Trong những năm qua ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thị hóa nhanh, lan tỏa diện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng và cả nước. Nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành, phát triển; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở: Đường xá, điện nước, cơ sở giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường… Các đô thị Việt Nam đang nỗ lực phát triển, nâng tầm cao với kiến trúc hiện đại.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, dự án khu đô thị mới là dự án đầu tư xây dựng một đô thị đồng bộ có hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khu dân cư và các công trình dịch vụ khác được phát triển nối tiếp đô thị hiện có hoặc hình thành khu đô thị mới trên khu đất được chuyển đổi từ các loại đất khác thành đất xây dựng đô thị, có ranh giới và chức năng được xác định phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, khu đô thị mới có địa giới hành chính thuộc địa giới cấp tỉnh. Dự án đầu tư khu đô thị mới được lập có quy mô chiếm từ 50 ha đất trở lên. Trường hợp diện tích đất để dành cho dự án nằm trong quy hoạch đất đô thị nhưng bị hạn chế bởi các dự án khác hoặc bởi khu đô thị đang tồn tại thì cho phép lập dự án khu đô thị mới có quy mô dưới 50 ha nhưng không được nhỏ hơn 20 ha. Đối với dự án khu đô thị mới có quy mô chiếm từ 50 ha đất trở lên, quy hoạch xây dựng đô thị phải được phân chia thành các khu vực có quy mô và chức năng thuận lợi cho việc phát triển các dự án khu đô thị mới, trong đó, có dành tỷ lệ diện tích để xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp và đối tượng chính sách tại các khu vực dân cư. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phải được quy hoạch và xây dựng đồng bộ, đáp ứng kế hoạch phát triển của các dự án khu đô thị mới. Cao độ mặt bằng các khu đô thị mới được khống chế nhằm bảo đảm hướng thoát nước theo quy hoạch chung đô thị. Việc lập và quản lý quy hoạch chi tiết xây dựng khu đô thị mới phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được phê duyệt. Quy hoạch chi tiết phải đảm bảo đồng bộ hệ thống các công trình hạ tầng, đáp ứng công suất vận hành, liên thông các trục đường giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc trong toàn khu đô thị mới và với đô thị đã có. Chủ đầu tư dự án khu đô thị mới tổ chức lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án khu đô thị mới, bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng của địa phương và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt1. Khi Nhà nước điều chỉnh quy hoạch xây dựng đô thị phải đảm bảo hạn chế tới mức thấp nhất việc gây tác động xấu đến các dự án khu đô thị mới đang được thực hiện và phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sự thay đổi quy hoạch gây ra đối với dự án.

Bên cạnh việc phát triển các khu đô thị mới, nhiều đô thị cũ cũng được cải tạo chỉnh trang nhằm góp phần không nhỏ vào sự thay đổi bộ mặt của các đô thị. Dự án cải tạo chỉnh trang khu đô thị là dự án cải tạo, nâng cấp mặt ngoài hoặc kết cấu các công trình trong khu vực đô thị hiện hữu, nhưng không làm thay đổi quá 10% các chỉ tiêu sử dụng đất của khu vực[2]. Mục tiêu của chỉnh trang và phát triển đô thị chính là tổ chức lại cuộc sống của dân cư, cải thiện điều kiện sống, tăng mức độ tiếp cận của người dân với các dịch vụ công, tạo môi trường sống tốt hơn, hợp lý, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan, phù hợp với sự phát triển chung của đô thị, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân[3]. Về cơ bản, dự án cải tạo chỉnh trang khu đô thị phải bảo đảm phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia, tuân thủ quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, kế hoạch triển khai khu vực phát triển đô thị, pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan; bảo đảm lợi ích của cộng đồng hài hòa với lợi ích của Nhà nước và nhà đầu tư; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và tôn tạo các di tích văn hoá, lịch sử hiện có.

Đất sử dụng để xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị bao gồm đất chỉnh trang khu vực nội thành, nội thị hiện có; đất được quy hoạch để mở rộng đô thị hoặc phát triển đô thị mới. Việc sử dụng đất xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức việc lập và giao cho tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư để chỉnh trang hoặc xây dựng khu đô thị mới. Đất cho các dự án này phải được phân bổ đồng bộ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho toàn khu vực, bao gồm đất sử dụng để xây dựng kết cấu hạ tầng, đất ở, đất xây dựng các công trình công cộng, công trình sự nghiệp, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đất cho dự án xây dựng, chỉnh trang khu đô thị bao gồm đất để mở rộng, xây dựng đường và đất hai bên đường phù hợp với yêu cầu bảo đảm cảnh quan đô thị hiện đại.

Thu hồi đất trong các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai để thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị theo quy hoạch đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đặc điểm việc thu hồi đất của Nhà nước trong các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị là thể hiện quyền lực của đại diện chủ sở hữu nhằm thực thi một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai thông qua một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội trên cơ sở các căn cứ do luật định. Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị được xác định là các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng[4]. Tuy nhiên, các dự án này phải thuộc trường hợp do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận, đồng thời, căn cứ thu hồi đất phải dựa trên kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án. Hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất liên quan đến quyền, lợi ích của Nhà nước, các chủ đầu tư và người bị thu hồi đất. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm đến lợi ích của xã hội, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với việc thu hồi đất để xây dựng các khu đô thị mới và chỉnh trang đô thị

Thứ nhất, khẳng định cơ sở pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị

Hiến pháp năm 2013 đã quy định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra, trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất và quyền này là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, mặc dù người sử dụng đất được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các cấp đã dự kiến quỹ đất sử dụng cho các mục đích, trong đó có quỹ đất dành cho các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị. Các dự án này thuộc lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, vì vậy, phải do Nhà nước thu hồi đất để bảo đảm thực hiện. Khi thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch và thực hiện giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua hình thức đấu giá, Nhà nước sẽ điều tiết được phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra, tạo nguồn thu để thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư.

Trong các dự án xây dựng khu đô thị mới và chỉnh trang đô thị, việc phải luật hóa các vấn đề liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữ vai trò quan trọng, nhằm điều chỉnh hiệu quả bằng pháp luật hai vấn đề cơ bản sau đây: (i) Khẳng định cơ sở pháp lý của việc thu hồi đất; đây không chỉ là một phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của Nhà nước trong việc đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất của quá trình phát triển các đô thị trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; (ii) Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bù đắp quyền lợi của người có đất bị thu hồi và thực hiện điều tiết lợi ích địa tô (phần giá trị tăng thêm từ đất) do chuyển các loại đất khác thành đất đô thị, cũng như việc dịch chuyển vị trí đất trong các dự án chỉnh trang đô thị.

Thứ hai, khắc phục các yếu tố ảnh hưởng trong việc thu hồi đất

Việc Nhà nước thu hồi đất chính là việc thực hiện chính sách quản lý đất đai, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, khi Nhà nước thu hồi đất sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các chủ thể liên quan, đặc biệt là người bị thu hồi đất bị ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể là: (i) Ảnh hưởng đến việc làm; do bị thu hồi tư liệu sản xuất nên một bộ phận lao động có độ tuổi cao, trình độ lao động thấp không còn đất để sản xuất, kinh doanh dịch vụ và không có khả năng tìm việc làm mới. Bên cạnh đó, việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ sai mục đích của một bộ phận dân cư dẫn đến những hệ lụy tiêu cực như không có việc làm, không có thu nhập, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật… những điều này ảnh hưởng lớn đến cộng đồng và xã hội; (ii) Ảnh hưởng đến thu nhập của người bị thu hồi đất, có những hộ mất đất nhưng không chuyển đổi được việc làm dẫn đến không có thu nhập hoặc bị mất đi phương thức kinh doanh hiện tại nên không có nguồn thu nhập; những thiệt hại này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bản thân người bị thu hồi đất và gia đình họ, tiếp theo là ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư và xã hội; (iii) Ảnh hưởng về văn hóa, xã hội cũng cần được quan tâm. Sự xuất hiện của các khu công nghiệp mới, khu đô thị mới có thể làm mất đi những phong tục tập quán tốt của địa phương như các làng nghề, ngành nghề, thay đổi văn hóa của cộng đồng dân cư theo chiều hướng tiêu cực, có thể sinh ra nhiều tệ nạn xã hội, đói nghèo, khó khăn cho một bộ phận dân cư. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, hệ quả thu hồi đất làm di động dân cư và tái định cư có thể dẫn tới những tác động tiêu cực lên đời sống của người dân như mất tài sản, thất nghiệp, thu nhập giảm, đói nghèo và dịch bệnh tăng, cấu trúc xã hội bị phá vỡ… Nếu không quan tâm giải quyết nhanh chóng, đúng mức, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, thì việc thực hiện thu hồi đất chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến khiếu kiện, tranh chấp, dư luận bức xúc… ảnh hưởng lớn đến trật tự an ninh và môi trường văn hóa xã hội. Vì vậy, đi đôi với thu hồi đất là các chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất.

Thứ ba, xem xét đo lường, đánh giá những ảnh hưởng do chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gây ra

Đánh giá này phải đảm bảo tính hai mặt, đó là các thiệt hại do thu hồi đất, di động dân cư và bồi thường, hỗ trợ tái định cư, đồng thời, cũng phải tính đến những ảnh hưởng tích cực của việc thu hồi đất, tái định cư thể hiện ở kế hoạch xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị. Do tính phức tạp, nhạy cảm của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nên việc xác định đúng, đầy đủ và khách quan những thiệt hại xảy ra khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích công cộng, phát triển kinh tế phải được đặt lên hàng đầu. Để từ đó, các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thiết lập công bằng, thỏa đáng, đảm bảo quyền và lợi ích của dân cư cũng như Nhà nước. Các thiệt hại mà chúng ta cần quan tâm gồm: (i) Thiệt hại về tài sản là thành quả lao động và kết quả đầu tư của người bị thu hồi đất được tạo ra trong quá trình sử dụng đất: Nhà cửa, các công trình kiến trúc, cây trồng và các tài sản khác gắn liền với đất; (ii) Thiệt hại về công sức đầu tư mà người bị thu hồi đất bỏ ra để làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, bao gồm cả thiệt hại về quyền khai thác và hưởng các lợi ích từ diện tích đất đai do Nhà nước thu hồi; (iii) Thiệt hại do gián đoạn hoặc mất công việc, sản xuất kinh doanh hoặc ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh; (iv) Thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất nhằm sử dụng đất mà do thu hồi đất đã không thể thực hiện để bù đắp chi phí đầu vào; (v) Thiệt hại vô hình mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu như: Khó khăn bắt đầu chỗ ở mới; chi phí sinh hoạt tăng; chi phí thay đổi nghề nghiệp; thời gian để thích nghi chỗ ở mới, chuyển công tác, trường học, chỗ ở[5]... Các thiệt hại này rất khó có thể tính toán, xác định và thẩm định. Bên cạnh đó, chúng ta cần tính toán, phân định giữa lợi ích xây dựng dự án khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị và thiệt hại mà việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mang lại. Đương nhiên, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất phục vụ cho các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị không thể vượt quá lợi ích mà dự án mang lại.

Thứ tư, giải quyết hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư từ việc thu hồi đất

Về tổng quát, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các dự án xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị sẽ mang lại lợi ích. Tuy nhiên, ở một phương diện và giai đoạn nào đó, lợi ích của các bên gồm Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư có thể trái ngược nhau. Vì vậy, khi thực hiện công việc này cần phải đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích ba bên. Ở Việt Nam, quyền sở hữu đất đai thuộc về Nhà nước, còn công dân, tổ chức, doanh nghiệp… (thường gọi là người sử dụng đất) chỉ có quyền sử dụng trên mảnh đất được Nhà nước giao. Theo lý thuyết về địa tô, những người đang có quyền sử dụng đất không có quyền trong việc thu địa tô hay địa tô thặng dư. Điều này trên thực tiễn đã và đang làm cho các chủ thể tham gia quan hệ đất đai gặp phải những vấn đề phức tạp từ việc sử dụng đất thực tế cho đến quản lý vĩ mô trong điều kiện kinh tế thị trường. Đặc biệt là việc xuất hiện tư tưởng và hành vi “độc quyền” trong việc giao đất, cho thuê đất, định giá bồi thường khi thu hồi đất, hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất… và khi những cơ chế, chính sách liên quan quy định bất hợp lý, tất yếu dẫn tới việc kìm hãm sự vận động của hàng hóa quyền sử dụng đất, thị trường bất động sản; đồng thời nó còn làm phát sinh tiêu cực cũng như những phản ứng “bất thường” của người sử dụng đất.

Có thể thấy, một phần nguồn lực đất đai vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả, tác động đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và gây thất thu cho ngân sách nhà nước, mà nguyên nhân chủ yếu còn chưa giải quyết được là quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội trong các quan hệ đất đai. Quan hệ hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi (ba bên) nhằm đảm bảo sử dụng đất đai không chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt như lợi nhuận từ đất đai (do quy hoạch) mang lại mà các chủ thể cứ ra sức khai thác chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, chuyển đổi nhiều diện tích đất đai màu mỡ sang các loại đất phi nông nghiệp, dẫn đến người dân thiếu việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp chưa được coi trọng. Thực tế quan hệ lợi ích giữa ba bên hiện nay còn nhiều bất cập, người sử dụng đất bị thu hồi luôn mong muốn được bồi thường thỏa đáng, trong khi các nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, Nhà nước chỉ thực hiện thu các khoản thuế và lệ phí từ các giao dịch đất đai. Do vậy, vai trò của Nhà nước càng trở nên quan trọng trong điều tiết quan hệ lợi ích ba bên trong sử dụng đất đai bền vững. Giải quyết lợi ích giữa ba bên là động lực của sự phát triển và phải đạt mục tiêu hài hòa về lợi ích giữa các bên, không triệt tiêu bất cứ bên nào và lợi ích của các bên cần được tôn trọng và bảo vệ. Nếu giải quyết tốt lợi ích thì sẽ phát triển, còn nếu giải quyết không tốt thì trở thành đối kháng và mâu thuẫn xã hội[6].

Nhận thức rõ quan điểm phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội trên cơ sở xem xét các yếu tố khách quan và chủ quan một cách khoa học, đánh giá đúng mức lợi ích giữa các bên, từ đó tìm ra cách giải quyết hài hòa lợi ích, tăng sự đồng thuận, phù hợp với xu hướng của xã hội hiện đại. Cũng như các loại tài nguyên thiên nhiên khác, đất đai hàm chứa những giá trị khác nhau: Giá trị sử dụng trực tiếp (giá trị về quyền sử dụng đất trên thị trường…) giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị sinh thái, duy trì và bảo vệ một hệ sinh thái nào đó…) và giá trị vô hình (giá trị mang tính tâm linh, đất thiêng…). Vì vậy, mức bồi thường cho người dân khi bị thu hồi đất như thế nào cho hợp lý và hài hòa lợi ích cần được giải quyết trong thực tế quản lý và sử dụng đất của chúng ta. Trên thực tế, nhiều trường hợp sau khi thu hồi đất của nông dân với giá bồi thường có khi chỉ vài chục ngàn đồng trên một mét vuông, doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng, khu đô thị, khu nhà ở dân cư và cho thuê hoặc chuyển nhượng có nơi lên đến vài triệu đồng trên một mét vuông mang lại lợi nhuận rất lớn. Tuy nhiên, cộng đồng dân cư bị mất đất chưa được hưởng lợi ích của sự phát triển này mà đúng ra, lợi ích của dự án phát triển kinh tế phải được phân chia một cách công bằng giữa ba bên: Nhà nước, nhà đầu tư và nhà nông. Việc Nhà nước ban hành các chính sách bồi thường hợp lý sẽ buộc các doanh nghiệp sử dụng đất tiết kiệm, phát triển theo hướng bền vững nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện môi trường. Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng một trong những mục đích cốt lõi của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và đó cũng là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các doanh nghiệp là những nhà đầu tư cần tích cực góp phần đưa giá trị quyền sử dụng đất trở thành nguồn vốn, nguồn nội lực quan trọng cho đất nước. Việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi cần được xác định rõ ràng trên cơ sở Nhà nước điều tiết lợi ích giữa nhà đầu tư với người bị thu hồi đất, đảm bảo nhà đầu tư vẫn có lãi trong khi người bị thu hồi đất chấp thuận, ổn định đời sống.

ThS. Đoàn Minh Hà

Công ty bất động sản Minh Quang

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ quy định về quản lý đầu tư phát triển đô thị.

[2]. Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ quy định về quản lý đầu tư phát triển đô thị.

[3]. Đẩy mạnh chương trình đột phá “Chỉnh trang và phát triển đô thị”, Báo Khoa học Phổ thông điện tử, http://www.khoahocphothong.com.vn/day-manh-chuong-trinh-dot-pha-chinh-trang-va-phat-trien-do-thi-46761.html.

[4]. Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

[5]. Đề án “Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư” của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2013.

[6]. ThS. Đặng Đức Long, Giải bài toán lợi ích kinh tế giữa ba chủ thể: Nhà nước, người có đất bị thu hồi và chủ đầu tư khi bị thu hồi đất, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 5/2009.





In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất đô thị và hướng hoàn thiện Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành Định giá tài sản theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: