Thứ năm 08/10/2026 13:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới cơ bản trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Sau hơn 10 năm thi hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, tổ chức chính quyền địa phương được cũng cố, hoàn thiện, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

Tuy nhiên, trong tổ chức hoạt động cần bổ sung các quy định để hoàn thiện hơn tổ chức chính quyền địa phương như: Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong tổ chức chính quyền địa phương; gắn kết trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền theo từng địa bàn; phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, phân cấp, phân quyền, ủy quyền của các cấp chính quyền; việc giám sát của nhân dân trong hoạt động chính quyền… Để đáp ứng yêu cầu trên, Hiến pháp năm 2013 đã xác định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong các văn bản luật quy định cụ thể.

Trên cơ sở kế thừa các quy định về cấu trúc các đơn vị hành chính và bổ sung quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính tương đương quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Hiến pháp năm 2013 quy định “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường; Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập” (Điều 110, Hiến pháp năm 2013).

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, ngày 19/6/2015 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương và có hiệu lực vào ngày 01/01/2016. So với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương có một số quy định mới sau:

1. Về kỹ thuật: Bố cục Luật gồm 8 chương và 143 điều, tăng 2 chương và 3 điều so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

2. Phạm vi điều chỉnh: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định “Luật này quy định về đơn vị hành chính và tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính” (Điều 1, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, và các chủ thể liên quan, như: Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Bổ sung một số quy định về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.

3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương

Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; Hiện đại, minh bạch, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân; Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số; Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (Điều 5, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Đây là quy định mới, điều luật này bao quát từ việc tổ chức thực hiện, mục đích thực hiện nhiệm vụ của chính quyền, tổ chức thực hiện và xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ, trong đó trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân được nêu rõ hơn trong tổ chức và hoạt động. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, nguyên tắc tổ chức và hoạt động quy định trong văn bản luật, nhưng chưa quy định thành một điều luật trong cơ cấu tổ chức mà quy định một khoản trong cơ cấu tổ chức của các chủ thể.

4. Phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho chính quyền địa phương

Trong nền hành chính nhà nước thì việc chấp hành và điều hành trên phương pháp mệnh lệnh quyền uy, trên cơ sở quy định pháp luật chính quyền địa phương có nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu là tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương. Để đảm bảo sự vận hành đồng bộ của chính quyền địa phương, tạo cơ chế cho chính quyền địa phương có thể ủy quyền cho cấp dưới khi thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Luật tổ chức Chính quyền địa phương bổ sung quy định mới như: Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương (Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); phân quyền cho chính quyền địa phương (Điều 12, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); phân cấp cho chính quyền địa phương (Điều 13, Luật tổ chức Chính quyền địa phương); ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Điều 14, Luật tổ chức Chính quyền địa phương), quy định các điều kiện thực hiện phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện.

5. Cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương

Theo Hiến pháp năm 2013 xác định “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định” (Điều 111, Hiến pháp năm 2013). Quy định khái quát này là cơ sở để văn bản luật cụ thể phù hợp với chính quyền địa phương ở từng địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (quy định tại các điều: Điều 16, Điều 23, Điều 30; Điều 44; Điều 37; Điều 51; Điều 58; Điều 65, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân có Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân; bộ máy giúp việc của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

5.1. Hội đồng nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên; Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân” (Điều 113, Hiến pháp năm 2013). Trên cơ sở Hiến pháp, Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1, Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Thường trực Hội đồng nhân dân: Thường trực Hội đồng nhân dân thành lập ở cả 03 cấp chính quyền địa phương: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

+ Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2, Điều 18; khoản 2, Điều 39; khoản 2, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

+ Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân (khoản 2, Điều 25; khoản 2, Điều 46; khoản 2, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

+ Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch Hội đồng nhân dân và một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách (khoản 2, Điều 32; khoản 2, Điều 60; khoản 2, Điều 67, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

+ Tăng cường vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân “Thường trực Hội đồng nhân dân họp thường kỳ mỗi tháng một lần” (khoản 2, Điều 106, Luật tổ chức Chính quyền địa phương). Đối với cấp xã khi có đơn yêu cầu có chữ ký của trên mười phần trăm tổng số cử tri trên địa bàn thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân bất thường (khoản 3, Điều 78, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Các Ban của Hội đồng nhân dân: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập Ban Pháp chế; Ban Kinh tế - Ngân sách; Ban Văn hóa - xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban Dân tộc (khoản 3, Điều 18, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); thành phố trực thuộc trung ương thành lập Ban Đô thị (khoản 3, Điều 39, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

+ Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban Dân tộc (khoản 3, Điều 25; khoản 3, Điều 46; khoản 3, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

+ Đối với Hội đồng nhân dân cấp xã thành lập ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội, các Trưởng ban, Phó Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm (khoản 3, Điều 32; khoản 3, Điều 60; khoản 3, Điều 67, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Phê chuẩn kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân: Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban Hội đồng nhân dân, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ngay sau khi được bầu. Áp dụng phê chuẩn đối với các chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Thẩm quyền phê chuẩn kết quả bầu cử như sau: Ủy ban thường vụ Quốc hội “Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” (khoản 5, Điều 53, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2015). Thẩm quyền phê chuẩn các cấp như sau “Kết quả bầu cử Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn; kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân cấp dưới do Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên phê chuẩn” (khoản 6, Điều 83, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại Điều 7. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định cụ thể mỗi cấp: Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh từ 50 đại biểu trở lên theo số dân, địa bàn nhưng không quá 95 đại biểu (khoản 1, Điều 18, Luật Tổ chức chính quyền địa phương), riêng thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bầu 105 đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 1, Điều 39, Luật tổ chức Chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân cấp huyện số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân từ 30 đại biểu đến không quá 45 đại biểu (khoản 1, Điều 25; khoản 1, Điều 46; khoản 1, Điều 53, Luật tổ chức Chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân cấp xã từ 15 đến không quá 35 đại biểu (khoản 1, Điều 32; khoản 1, Điều 60; khoản 1, Điều 67, Luật tổ chức Chính quyền địa phương).

- Tổ đại biểu: Thực tiễn trong hoạt động của Hội đồng nhân dân đã cho thấy cần tổ chức đại biểu thành tổ để nâng cao hiệu quả hoạt động, trao đổi chuyên môn và phối hợp trong công tác. Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung tổ đại biểu trong cơ cấu của Hội đồng nhân dân. Tổ đại biểu thành lập ở Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 4, Điều 18; khoản 4, Điều 39, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); và Hội đồng nhân dân cấp huyện (khoản 4, Điều 25; khoản 4, Điều 46; khoản 4, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn không thành lập Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Đại biểu hoạt động chuyên trách: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban Hội đồng nhân dân có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách (quy định tại khoản 3 các Điều: Điều 18, Điều 67, Điều 25, Điều 46, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với cấp xã Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm (quy định tại khoản 3 các Điều: Điều 32, Điều 60, Điều 67).

5.2. Ủy ban nhân dân: Theo Hiến pháp năm 2013 “Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao” (Điều 114, Hiến pháp năm 2013).

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định, Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định” (Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Tổ chức Ủy ban nhân dân: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định mức tối đa số Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân như sau: Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh loại I không quá bốn Phó Chủ tịch, tỉnh loại II và tỉnh loại III không quá ba Phó Chủ tịch; Ủy viên Ủy ban nhân dân gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách Công an (Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá năm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (khoản 1, Điều 41, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Ủy ban nhân dân cấp huyện loại I không quá 03 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cấp huyện loại II, cấp huyện loại III không quá hai Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (Điều 27, Điều 48, Điều 55, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên; cấp xã loại I bố trí không quá hai Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cấp xã loại II và cấp xã loại III bố trí một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (Điều 34, Điều 62, Điều 69, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ ngay sau khi được bầu. Áp dụng chế độ phê chuẩn đối với các chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ “Phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” (khoản 7, Điều 28, Luật Tổ chức chính phủ năm 2015). Thẩm quyền phê chuẩn các cấp quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương như sau “Kết quả bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn; kết quả bầu cử Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn” (khoản 7, Điều 83, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định tối đa số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân mỗi cấp, mở rộng Ủy viên Ủy ban nhân dân là các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, không thực hiện việc phê chuẩn chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, giao cho Chính phủ quy định “Số lượng thành viên và số Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân của mỗi cấp do Chính phủ quy định” (Điều 122, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003) và các thành viên Ủy ban nhân dân phải được phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền.

5.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được xác định “là người đứng đầu Ủy ban nhân dân”, đề cao trách nhiệm cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong công tác lãnh đạo, điều hành công việc Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân. Điều này thể hiện trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân “Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân” (khoản 4, Điều 5, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Để thống nhất trong công tác quản lý hành chính Thủ tướng Chính phủ có quyền “...yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao hoặc vi phạm pháp luật” (khoản 7, Điều 28, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015). Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh “…yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đình chỉ, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc vi phạm pháp luật…”(khoản 2, Điều 22, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đây là điểm mới trong công tác tổ chức chính quyền địa phương để thực hiện nguyên tắc phân cấp, phân quyền, ủy quyền trong tổ chức thực hiện các quy định pháp luật.

6. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể

Theo Hiến pháp năm 2013 nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên; Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều 112, Hiến pháp năm 2013). Theo Luật tổ chức Chính quyền địa phương, tổ chức chính quyền địa phương được xác định là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được tổ chức trên các địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, nhưng nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể ở mỗi lĩnh vực là quy định trên cơ sở địa bàn hoạt động. Luật tổ chức Chính quyền địa phương xác định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong tổ chức chính quyền địa phương như: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, trên cơ sở phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho chính quyền địa phương phù hợp với từng địa bàn: Nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; phù hợp với từng chủ thể trong cùng cấp chính quyền.

- Xét theo tính chất nhiệm vụ, quyền hạn. Các chủ thể trong tổ chức chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ở địa bàn thể hiện rõ tính chất đặc thù của địa bàn đô thị và địa bàn nông thôn. Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định theo hướng, trên cơ sở các quy định về chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn, Chính quyền địa phương ở địa bàn đô thị quy định thêm một số lĩnh vực về quản lý, quy hoạch đô thị. Chủ thể trong tổ chức chính quyền theo địa bàn đô thị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhiều và mang tính chuyên ngành hơn chính quyền địa bàn nông thôn. Ví dụ: Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 09 lĩnh vực (Điều 19, Luật Tổ chức chính quyền địa phương), nhưng Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 13 lĩnh vực (Điều 40, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 08 lĩnh vực (Điều 21, Luật Tổ chức chính quyền địa phương), nhưng Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 14 lĩnh vực (Điều 42, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 11 lĩnh vực (Điều 22, Luật Tổ chức chính quyền địa phương), nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 18 lĩnh vực (Điều 43, Luật Tổ chức chính quyền địa phương)…

- Để thấy được sự khác nhau về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các địa bàn; nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trên với cấp dưới có thể tiếp cận theo số học và theo mô hình “đường tròn đồng tâm”. Theo số học cho chúng ta thấy nội dung quản lý thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trên nhiều hơn cấp dưới, đô thị nhiều hơn nông thôn; tiếp cận theo đường tròn đồng tâm cho ta thấy được thẩm quyền của mỗi cấp chính quyền địa phương trong cùng một nội dung quản lý.

+ Về số học: Tính theo nội dung quản lý thì nhiệm vụ, quyền hạn thì Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định theo hướng tăng trách nhiệm quyền hạn của cấp trên đối với cấp dưới; nhiệm vụ, quyền hạn tập trung ở cấp tỉnh trong cùng địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo. Ví dụ, quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp như sau: Chính quyền địa phương cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 07 lĩnh vực (Điều 17, Điều 38, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); chính quyền địa phương cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 06 lĩnh vực (Điều 24, Điều 45, Điều 52, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); chính quyền địa phương ở xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 05 lĩnh vực (Điều 31, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); chính quyền ở phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 06 lĩnh vực (Điều 59, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); chính quyền ở thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 05 lĩnh vực (Điều 66, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Quy định nhiệm vụ chính quyền ở địa bàn đô thị nhiều hơn so với chính quyền ở địa bàn nông thôn trong cùng cấp, thể hiện sự khác nhau trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền ở địa bàn đô thị và chính quyền ở địa bàn nông thôn.

+ Tiếp cận theo mô hình đường tròn đồng tâm. Tiếp cận theo mô hình này sẽ thấy rõ nhất về thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp trong tổ chức chính quyền địa phương. Đặt các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý trên địa giới hành chính địa phương là một phần tương ứng của vòng tròn, và các cấp chính quyền địa phương là các vòng trong có diện tích to, nhỏ theo cấp hành chính, có thể thấy ngoài những cụm từ dùng để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như: Phê chuẩn, thực hiện, điều hành …thì các cụm từ thể hiện thẩm quyền, như: Hội đồng nhân dân dùng nhiều cụm từ “quyết định biện pháp”, “quyết định chủ trương”; Ủy ban nhân dân sử dụng các cụm từ “thực hiện”, “tổ chức thực hiện”, “xây dựng và tổ chức thực hiện”…; Chủ tịch Ủy ban nhân dân sử dụng các cụm từ mang tính thực hiện điều hành như: “lãnh đạo”, “điều hành”, “chỉ đạo”, “tổ chức việc phối hợp”, “quản lý”…

6.1. Nhiệm vụ, quyền hạn các cấp chính quyền như sau: Chính quyền địa phương cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 07 lĩnh vực (Điều 17, Điều 38, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chính quyền địa phương cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 06 lĩnh vực (Điều 24, Điều 45, Điều 52, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chính quyền địa phương cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 05 lĩnh vực (Điều 31, Điều 59, Điều 66, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

6.2 Hội đồng nhân dân: Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 09 lĩnh vực (Điều 19, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 05 lĩnh vực (Điều 26, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 08 lĩnh vực (Điều 33, Luật Tổ chức vhính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 07 lĩnh vực (Điều 68, Luật Tổ chức chính quyền địa phương)

- Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 13 lĩnh vực (Điều 40, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân quận thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn 11 lĩnh vực (Điều 47, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 08 lĩnh vực (Điều 54, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 07 lĩnh vực (Điều 61, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

6.3 Ủy ban nhân dân: Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ở 08 lĩnh vực (Điều 21, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 08 lĩnh vực (Điều 28, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 05 lĩnh vực (Điều 35, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 14 lĩnh vực (Điều 42, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân quận thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ở 09 lĩnh vực (Điều 49, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 13 lĩnh vực (Điều 56, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Ủy ban nhân dân phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong trong 04 lĩnh vực (Điều 63, Điều 70, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

6.4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 11 lĩnh vực (Điều 22, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 10 lĩnh vực (Điều 29, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 07 lĩnh vực (Điều 36, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 18 lĩnh vực (Điều 43, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong trong 11 lĩnh vực (Điều 50, Luật tổ chức Chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 14 lĩnh vực (Điều 57, Luật tổ chức Chính quyền địa phương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 09 lĩnh vực (Điều 64, Luật Tổ chức chính quyền địa phương) và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 09 lĩnh vực (Điều 71, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

7. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính

Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thẩm quyền “…thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt…” (khoản 9, Điều 70, Hiến pháp năm 2013). Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” (khoản 8, Điều 74, Hiến pháp năm 2013). Đối với việc thay đổi địa giới hành chính Hiến pháp quy định phải lấy ý kiến nhân dân “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương theo trình tự, thủ tục do luật định” (khoản 2, Điều 110, Hiến pháp năm 2013). Trên cơ sở Hiến pháp, tại Chương VII, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cụ thể nguyên tắc, điều kiện thẩm quyền; quy trình lấy ý kiến nhân dân và tổ chức chính quyền địa phương trong việc thay đổi địa giới hành chính. Luật quy định, sau khi lấy ý kiến nhân dân về thay đổi địa giới hành chính mà có trên năm mươi phần trăm tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án hoàn chỉnh hồ sơ gửi cơ quan có thẩm quyền (khoản 1, Điều 132, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

8. Ngoài ra, Luật tổ chức Chính quyền địa phương còn quy định về chính quyền địa phương ở hải đảo (Chương IV, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (Chương V, Luật Tổ chức chính quyền địa phương), thẩm quyền và trình tự thủ tục thành lập, giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

9. Tổ chức hoạt động của bộ máy giúp việc chính quyền địa phương

Bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương gồm có Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện (gọi chung là Văn phòng). Luật quy định “Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và việc tổ chức công tác tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã” (khoản 4, Điều 127, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Văn phòng được xác định là “cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ” của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Hiện nay, chưa có văn bản quy định mô hình tổ chức bộ máy của Văn phòng theo Luật tổ chức Chính quyền địa phương, nhưng trên cơ sở thẩm quyền nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, tính chất của Bộ máy Văn phòng, thực tiễn giải quyết công việc bài viết có ý kiến sau:

- Về thực tiễn thấy rằng: Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có đóng góp của công tác tham mưu của bộ máy giúp việc. Trên cơ sở quy định của văn bản pháp luật[1], hiện nay Văn phòng được xem là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ thủ trưởng và tổ chức thành các phòng chức năng, các phòng chuyên môn. Khi giải quyết công việc đúng theo quy trình từ trên xuống dưới: Lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân giao cho lãnh đạo Văn phòng, Lãnh đạo văn phòng giao cho phòng chuyên môn, phòng chuyên môn giao cho công chức. Và khi ký phát hành văn bản theo quy trình từ dưới lên trên: công chức trình cho lãnh đạo phòng, lãnh đạo phòng trình lãnh đạo Văn phòng, lãnh đạo Văn phòng trình lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hiện nay nhiều địa phương xây dựng quy chế nội bộ theo “cơ chế trực tuyến”, nghĩa là lãnh đạo có thể giao trực tiếp cho một công chức thực hiện việc tham mưu vấn đề cụ thể, quy trình thực tế này đã phát huy được hiệu quả cao trong công việc ở một số địa phương. Từ thực tế này đã tồn tại khái niệm “siêu giám đốc” dành cho đội ngũ công chức Văn phòng. Ở góc độ chuyên môn khái niệm này cho thấy công chức Văn phòng phải biết được toàn bộ chuyên môn của một hoặc một số sở, ban, ngành của địa phương mới tham mưu cho lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Qua công tác cho thấy thì đây là yêu cầu tối thiểu để công chức có thể “sàng lọc” trình lên lãnh đạo Ủy ban nhân dân phương án tối ưu nhất trong thực hiện nhiệm vụ. Nhưng xét về cơ cấu tổ chức, thực hiện nhiệm vụ: Đây là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân với đầy đủ các phòng chức năng, có cơ cấu lãnh đạo hàm giám đốc, có lãnh đạo các phòng chức năng. Khi cơ quan chuyên môn tham mưu một nội dung trình lên lãnh đạo Ủy ban nhân dân, khi đó công chức Văn phòng “tham mưu lại” thì có thể chồng chéo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và có trường hợp vô hiệu các ý kiến tham mưu của cơ quan chuyên môn. Về quy định các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân là các cơ quan tham mưu chuyên sâu về ngành, lĩnh vực do pháp luật và Ủy ban nhân dân giao, lãnh đạo cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân về thực hiện nhiệm vụ.

- Về tính chất tham mưu: Cùng thực hiện chức năng “tham mưu”, nhưng tham mưu của công chức Văn phòng so với các cơ quan chuyên môn cần phải nhìn nhận và thực hiện công tác tham mưu khác nhau về chất. Vì, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân là các chủ thể thực hiện các chức năng quản lý thuộc thẩm quyền chung; thực hiện chức năng cơ năng cơ bản hàng đầu của chính quyền địa phương là đảm bảo thực hiện Hiến pháp, pháp luật tại địa phương, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ xuất phát từ đặc thù địa phương, thì việc tham mưu cần mang tính chất “tổng hợp tham mưu” thì mới thể hiện được tính “siêu giám đốc”, còn như “tham mưu lại” theo đúng quy trình xử lý trong cơ quan thực hiện theo chế độ thủ trưởng, thì công tác Văn phòng có thể chồng chéo với các cơ quan chuyên môn.

- Về công tác cải cách hành chính cho thấy: Văn phòng là cơ quan tiếp nhận, giải quyết nhiều nhiệm vụ liên quan đến cải cách hành chính, hiệu quả công tác cải cách hành chính địa phương phụ thuộc nhiều vào quy trình giải quyết của Văn phòng. Thực tiễn cho thấy, Văn phòng là một trong những cơ quan có tác động lớn đến công tác cải cách hành chính địa phương, hiệu quả của nền hành chính, tiến trình cải cách hành chính nhà nước.

Từ thẩm quyền các chủ thể trong tổ chức chính quyền địa phương, thực tiễn công tác, hiệu quả trong giải quyết công việc, để phù hợp với tiến trình trong công tác cải cách hành chính, bài viết có ý kiến sau:

Thứ nhất, về mô hình Văn phòng. Xuất phát từ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân là thực hiện quản lý theo thẩm quyền chung; trên cơ sở cơ cấu, tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, thì tính chất trong công tác tham mưu của Văn phòng cũng phải xuất phát từ thẩm quyền của chủ thể đó là thực hiện mang tính “tổng hợp tham mưu”. Để phát huy trách nhiệm trong công tác chuyên môn của thủ trưởng cơ quan chuyên môn, phát huy tối đa năng lực công chức Văn phòng, nâng cao hiệu quả trong xử lý công việc và đáp ứng được yêu cầu công tác cải cách hành chính, thì công tác Văn phòng hoạt động theo chế độ thủ trưởng và có các phòng chức năng, nhưng trong công tác chuyên môn thành lập phòng quản lý chuyên môn chung giúp việc cho lãnh đạo Văn phòng để có thể tham mưu được những vấn đề mang tính tổng hợp trên địa bàn.

Thứ hai, đối với văn bản triển khai, hướng dẫn thực hiện. Khi triển khai thực hiện các quy định của cấp trên, trên cơ sở hiệu lực thứ bậc văn vản quy phạm pháp luật thì văn bản của các Bộ, ban, ngành trung ương cần sử dụng những cụm từ sát với thẩm quyền của các chủ thể có thẩm quyền của địa phương, những chủ thể nào thẩm quyền triển khai thực hiện, chủ thể nào trình, chủ thể nào quyết định cần căn cứ vào thẩm quyền của các chủ thể quy định ở Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản pháp luật liên quan. Có nhiều phương pháp để tiếp cận thẩm quyền về nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền tổ chức chính quyền địa phương, nhưng tiếp cận theo mô hình vòng tròn đồng tâm sẽ thấy rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp chính quyền, từng chủ thể trong tổ chức thực hiện.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền trong tổ chức chính quyền địa phương, nhưng công tác Văn phòng góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách, pháp luật trên địa bàn, trong đó có công tác cải cách hành chính ở địa phương, nên mô hình và tổ chức hoạt động của Văn phòng cần chú trọng phát huy các kiến thức chuyên ngành của cơ quan chuyên môn, năng lực công chức Văn phòng trong công tác; hiệu quả trong xử lý công việc và đáp ứng được yêu cầu công tác cải cách hành chính của nhà nước.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai


[1] Hiện nay các văn phòng địa phương đang thực hiện theo các văn bản sau: Nghị quyết 545/2007/NQ-UBTVQH12 về việc Thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, ngày 04 tháng 04 năm 2014 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Nghị định 37/2014/NĐ-CP, ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: