Thứ năm 25/06/2026 03:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới về kinh phí và thủ tục chi trả tiền bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Bài viết đề cập đến một số quan điểm trong quá trình xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, đồng thời, phân tích những điểm mới về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường được quy định trong Luật này.

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã chính thức được Quốc hội thông qua với 92,46 % số phiếu tán thành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có nhiều điểm mới cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và đáp ứng những đòi hỏi của thực tế đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bồi thường Nhà nước, trong đó có vấn đề về kinh phí bồi thường.

1. Kinh phí bồi thường và một số quan điểm trong quá trình xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Kinh phí bồi thường có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, kinh phí bồi thường là một khoản tiền do Nhà nước cấp cho cơ quan có thẩm quyền để tổ chức thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1]. Dưới góc độ luật thực định, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 không quy định giải thích thuật ngữ “kinh phí bồi thường”. Tuy nhiên, thông qua các quy định trong Luật này thì kinh phí bồi thường được hiểu là kinh phí để chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường tại Chương VI với 04 điều luật (các điều 52, 53, 54 và 55), trong đó, quy định về các nội dung: Kinh phí bồi thường; lập dự toán kinh phí bồi thường; trình tự, thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường; quyết toán kinh phí bồi thường. Để triển khai thực hiện được các quy định này trên thực tế, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy, các quy định về kinh phí bồi thường còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Quy định về việc lập dự toán kinh phí bồi thường chưa hợp lý; trình tự chi trả tiền bồi thường rất phức tạp, phải trải qua nhiều cấp có thẩm quyền xem xét nên đã làm chậm việc chi trả tiền bồi thường...[2]; quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường chưa phù hợp, có sự chồng chéo trách nhiệm giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ; theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định nhiều cơ quan khác nhau có thẩm quyền kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí (các cơ quan cấp trên của cơ quan giải quyết bồi thường và Sở Tài chính hoặc Bộ Tài chính) trong khi đó lại không quy định rõ về nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí dẫn tới việc giải quyết bồi thường kéo dài, không đúng thời hạn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, tạo dư luận xã hội không tốt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[3].

Đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, trong quá trình xây dựng còn nhiều quan điểm khác nhau về kinh phí bồi thường, cụ thể như sau:

1.1. Về nguồn kinh phí bồi thường

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần thành lập Quỹ bồi thường nhà nước vì việc có quỹ bồi thường sẽ bảo đảm việc chi trả tiền bồi thường được nhanh chóng. Bên cạnh đó, do kinh phí bồi thường là loại kinh phí đặc biệt, chỉ phát sinh khi có sai phạm của người thi hành công vụ gây thiệt hại, do đó, rất khó có thể lập dự toán trước được[4]. Để hiện thực hóa đề xuất này, một số ý kiến cho rằng, Quỹ bồi thường nhà nước có thể được hình thành từ tiền hoàn trả của người thi hành công vụ hoặc cơ chế bảo hiểm trách nhiệm công vụ hoặc có thể trích một phần từ tiền xử lý vi phạm hành chính[5], tiền do phạm tội mà có. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, quan điểm này không phù hợp vì hiện nay, Luật Ngân sách Nhà nước chưa có quy định về việc thành lập Quỹ từ ngân sách nhà nước, hơn nữa, để quản lý Quỹ này có thể lại phát sinh thêm bộ máy, con người. Đồng thời, cũng có ý kiến cho rằng, cần cân nhắc đề xuất thành lập Quỹ bồi thường này vì trong thời gian qua, nhiều cơ quan đã đề xuất thành lập nhiều loại quỹ và thực tiễn cho thấy, nhiều quỹ sau khi được thành lập thì hoạt động lại không hiệu quả. Do đó, để đề xuất thành lập Quỹ bồi thường nhà nước thì cần lập luận chặt chẽ, giải trình chi tiết tính khả thi và hiệu quả trong triển khai thực tiễn thì mới có thể bảo vệ được đề xuất này[6].

- Quan điểm thứ hai cho rằng, để luôn bảo đảm sẵn sàng nguồn kinh phí cho việc bồi thường thì cần quy định theo hướng: Trong mục lục ngân sách nhà nước có một mục riêng về kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[7], vì nếu quy định như vậy sẽ khẳng định cam kết và sẵn sàng của Nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, khắc phục tình trạng các bên đã thống nhất được việc giải quyết bồi thường; bản án, quyết định về giải quyết bồi thường đã được ban hành nhưng người bị thiệt hại phải chờ đợi lâu mới nhận được tiền bồi thường[8]. Tuy nhiên, ý kiến của đại diện Bộ Tài chính cho rằng, trong thực tiễn tổ chức thi hành các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì kinh phí bồi thường đã được quy định là một mục trong mục lục ngân sách nhà nước[9], do đó, không cần thiết phải quy định theo quan điểm nêu trên.

Quan điểm cuối cùng được chấp thuận đó là, giữ quy định về nguồn kinh phí như hiện hành nhưng cần quy định rõ hơn theo hướng Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để kịp thời chi trả, khắc phục trình trạng quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị thiệt hại phải đợi lâu mới nhận được tiền bồi thường[10].

1.2. Về trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần giữ nguyên quy định về việc lập dự toán kinh phí bồi thường như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, theo đó, dự toán kinh phí được lập trên cơ sở căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn vị cùng cấp lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường. Tuy nhiên, nếu theo quan điểm này thì sẽ không giải quyết được những bất cập, hạn chế trong thực tiễn vì giải quyết bồi thường không phải là hoạt động có tính chất thường xuyên, cơ quan nhà nước chỉ phải thực hiện nếu có phát sinh yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, do đó, việc lập dự toán kinh phí bồi thường là không có căn cứ để thực hiện được[11].

- Quan điểm thứ hai cho rằng, cần thống nhất đầu mối lập dự toán kinh phí bồi thường ở trung ương và địa phương, theo đó, việc lập dự toán kinh phí bồi thường được giao cho cơ quan tài chính có thẩm quyền. Hàng năm, căn cứ vào thực tế cấp phát kinh phí bồi thường của năm trước thì cơ quan tài chính có cơ sở thuận lợi hơn trong việc lập dự toán và quyết toán kinh phí bồi thường. Hơn nữa, kinh phí bồi thường không cấp ngay cho các cơ quan nhà nước mà chỉ cấp khi có đề nghị cấp kinh phí bồi thường[12]. Quan điểm này đã được chấp thuận và được thể hiện trong quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

1.3. Về cấp phát kinh phí bồi thường

Trong quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, các quan điểm thống nhất cao với việc sửa đổi quy định về việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn. Việc cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường chỉ căn cứ vào quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường. Cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí bồi thường khi quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật. Ngay sau khi được cấp kinh phí, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm chi trả cho người bị thiệt hại. Cơ quan tài chính cũng phải kịp thời cấp phát kinh phí tạm ứng khi có văn bản đề nghị của cơ quan giải quyết bồi thường[13].

2. Những điểm mới trong quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

So với Chương VI Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Chương VI Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo hướng:

Thứ nhất, sửa đổi quy định về cơ quan có trách nhiệm lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, chuyển trách nhiệm này từ cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sang cơ quan tài chính có thẩm quyền[14]. Việc sửa đổi như vậy là nhằm thống nhất đầu mối lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường ở trung ương và cấp tỉnh, tránh tình trạng tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, trong khi bồi thường nhà nước không phải là công việc thường xuyên, chỉ phát sinh khi có vụ việc cụ thể. Mặt khác, hàng năm, căn cứ vào thực tế cấp phát kinh phí bồi thường của năm trước thì cơ quan tài chính có cơ sở và thuận lợi hơn trong việc lập dự toán kinh phí bồi thường.

Thứ hai, mở rộng cách hiểu “kinh phí bồi thường” so với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại được coi là một loại kinh phí bồi thường và được bảo đảm từ ngân sách nhà nước. Theo quy định này thì “chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại” sẽ được ngân sách nhà nước cấp bổ sung mà không lấy vào kinh phí hoạt động của cơ quan giải quyết bồi thường như quy định của Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng, bởi sẽ không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước[15].

Thứ ba, bỏ quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền và cơ quan chủ quản (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại. Việc bỏ quy định này là bởi, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính có thẩm quyền phải tham gia quá trình giải quyết bồi thường ngay từ giai đoạn xác minh thiệt hại nếu có đề nghị và giai đoạn thương lượng việc bồi thường để bảo đảm tính chặt chẽ, đúng pháp luật của quá trình giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ.

Thứ tư, bổ sung quy định về hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường đã được quy định tại Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước.

Thứ năm, bổ sung quyền hạn của cơ quan tài chính có thẩm quyền nếu không đồng ý với mức bồi thường hoặc nếu cho rằng hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường không đáp ứng yêu cầu.

Thứ sáu, bổ sung quy định về sung quỹ nhà nước nếu người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường trong thời hạn luật định. Quy định này được bổ sung nhằm khắc phục tình trạng, cơ quan giải quyết bồi thường đã thực hiện chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật nhưng người bị thiệt hại không hợp tác, không nhận tiền bồi thường, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết bồi thường khiến cho vụ việc không được giải quyết dứt điểm.

Thứ bảy, bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ phải gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí cho phù hợp với quy định về trách nhiệm quyết toán của cơ quan tài chính có thẩm quyền vì việc chi trả tiền bồi thường không phải do cơ quan tài chính thực hiện mà vẫn do cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện[16].

3. Quy định cụ thể về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

3.1. Về kinh phí bồi thường (Điều 60)

Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, kinh phí bồi thường được quy định như sau:

- Về trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường: Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm cấp phát kịp thời và đầy đủ kinh phí bồi thường.

- Về kinh phí bồi thường: Kinh phí bồi thường được xác định bao gồm: Tiền chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại.

- Về nguồn kinh phí bồi thường: Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương; trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách cấp tỉnh.

3.2. Trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường, quyết toán kinh phí bồi thường (Điều 61 và Điều 63)

a. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Bộ Tài chính và Sở Tài chính có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường như sau:

- Hàng năm, căn cứ thực tế số tiền bồi thường, chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước, Bộ Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

- Hàng năm, căn cứ thực tế số tiền bồi thường, chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước, Sở Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

b. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định việc quyết toán kinh phí bồi thường được thực hiện như sau:

- Sau khi chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí để quyết toán theo quy định của pháp luật.

- Kết thúc năm ngân sách, Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm quyết toán kinh phí bồi thường theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

3.3. Cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường (Điều 62)

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định việc cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường, cụ thể như sau:

a. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải gửi hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đến cơ quan tài chính có thẩm quyền.

b. Hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đối với trường hợp giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc trường hợp giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đủ thông tin về người bị thiệt hại, căn cứ để xác định các khoản tiền bồi thường, các khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể, số tiền đã tạm ứng (nếu có) và tổng số tiền đề nghị được cấp để thực hiện việc chi trả tiền bồi thường;

- Bản sao văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

- Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền về giải quyết yêu cầu bồi thường.

c. Hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường trong trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường kết hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hoặc vụ án hành chính bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đủ thông tin về người bị thiệt hại, căn cứ để xác định các khoản tiền bồi thường, các khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị được cấp để thực hiện việc chi trả tiền bồi thường;

- Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.

d. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 62 của Luật, cơ quan tài chính phải hoàn thành việc cấp phát kinh phí bồi thường cho cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.

đ. Thẩm quyền của cơ quan tài chính nếu cho rằng mức bồi thường không phù hợp hoặc hồ sơ không đáp ứng yêu cầu:

- Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 62 hoặc mức bồi thường không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường để hoàn thiện hồ sơ, cấp phát kinh phí bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường.

- Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường (bao gồm bản án, quyết định của Tòa án được ban hành trong thủ tục tố tụng hình sự hoặc tố tụng dân sự hoặc tố tụng hành chính) không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng.

e. Về chi trả tiền bồi thường.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kinh phí do cơ quan tài chính cấp, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả tiền bồi thường.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải tiến hành chi trả tiền bồi thường.

f. Về hậu quả pháp lý trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường.

Hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 5 Điều 62 mà người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại làm thủ tục sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự không tính vào thời hạn 03 năm nêu trên.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường Nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] Trần Minh Trọng, Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh phí bồi thường nhà nước và thủ tục chi trả, Số chuyên đề “Thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 73-83.

[2] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tr. 25.

[3] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp, Tlđd, tr. 26.

[4] Báo cáo ngày 23/10/2015 của Tổ biên tập báo cáo kết quả cuộc họp lần thứ nhất Tổ biên tập dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 3 và Báo cáo số 36/BC-BTP ngày 25/01/2017 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 5.

[5] Cục Bồi thường nhà nước, Báo cáo số 148/BC-BTNN ngày 19/10/2015 kết quả hội thảo “Định hướng trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, tr. 5.

[6] Phạm Xuân Thường (2015), tham luận “Về một số định hướng sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Hội thảo “Định hướng trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” do Cục Bồi thường nhà nước tổ chức, Hải Phòng, 10/2015, tr. 4.

[7] Bộ Tư pháp, Báo cáo số 47/BC-BTP ngày 14/3/2016 báo cáo Chính phủ những định hướng lớn xây dựng dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi).

[8] Bộ Tư pháp, Tờ trình số 42 ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp trình Chính phủ dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[9] Thông báo ngày 13/6/2016 của Tổ biên tập thông báo kết quả cuộc họp lần thứ tư Tổ biên tập dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 4.

[10] Chính phủ, Tờ trình số 290/TTr-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[11] Trần Thị Thu Hằng (2016), “Hoàn thiện quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường”, Số chuyên đề về “Dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi)”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 157-166.

[12] Bộ Tư pháp, Báo cáo số 36/BC-BTP ngày 25/01/2017 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 6.

[13] Chính phủ, Tờ trình số 290/TTr-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[14] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Những nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Nxb. Công an nhân dân, tr. 146.

[15] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Sđd, tr. 147.

[16] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Sđd, tr. 149.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: