Thứ ba 03/03/2026 23:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới về kinh phí và thủ tục chi trả tiền bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Bài viết đề cập đến một số quan điểm trong quá trình xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, đồng thời, phân tích những điểm mới về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường được quy định trong Luật này.

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã chính thức được Quốc hội thông qua với 92,46 % số phiếu tán thành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có nhiều điểm mới cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và đáp ứng những đòi hỏi của thực tế đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bồi thường Nhà nước, trong đó có vấn đề về kinh phí bồi thường.

1. Kinh phí bồi thường và một số quan điểm trong quá trình xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Kinh phí bồi thường có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, kinh phí bồi thường là một khoản tiền do Nhà nước cấp cho cơ quan có thẩm quyền để tổ chức thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1]. Dưới góc độ luật thực định, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 không quy định giải thích thuật ngữ “kinh phí bồi thường”. Tuy nhiên, thông qua các quy định trong Luật này thì kinh phí bồi thường được hiểu là kinh phí để chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường tại Chương VI với 04 điều luật (các điều 52, 53, 54 và 55), trong đó, quy định về các nội dung: Kinh phí bồi thường; lập dự toán kinh phí bồi thường; trình tự, thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường; quyết toán kinh phí bồi thường. Để triển khai thực hiện được các quy định này trên thực tế, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy, các quy định về kinh phí bồi thường còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Quy định về việc lập dự toán kinh phí bồi thường chưa hợp lý; trình tự chi trả tiền bồi thường rất phức tạp, phải trải qua nhiều cấp có thẩm quyền xem xét nên đã làm chậm việc chi trả tiền bồi thường...[2]; quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường chưa phù hợp, có sự chồng chéo trách nhiệm giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ; theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định nhiều cơ quan khác nhau có thẩm quyền kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí (các cơ quan cấp trên của cơ quan giải quyết bồi thường và Sở Tài chính hoặc Bộ Tài chính) trong khi đó lại không quy định rõ về nội dung, trình tự, thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí dẫn tới việc giải quyết bồi thường kéo dài, không đúng thời hạn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, tạo dư luận xã hội không tốt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[3].

Đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, trong quá trình xây dựng còn nhiều quan điểm khác nhau về kinh phí bồi thường, cụ thể như sau:

1.1. Về nguồn kinh phí bồi thường

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần thành lập Quỹ bồi thường nhà nước vì việc có quỹ bồi thường sẽ bảo đảm việc chi trả tiền bồi thường được nhanh chóng. Bên cạnh đó, do kinh phí bồi thường là loại kinh phí đặc biệt, chỉ phát sinh khi có sai phạm của người thi hành công vụ gây thiệt hại, do đó, rất khó có thể lập dự toán trước được[4]. Để hiện thực hóa đề xuất này, một số ý kiến cho rằng, Quỹ bồi thường nhà nước có thể được hình thành từ tiền hoàn trả của người thi hành công vụ hoặc cơ chế bảo hiểm trách nhiệm công vụ hoặc có thể trích một phần từ tiền xử lý vi phạm hành chính[5], tiền do phạm tội mà có. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, quan điểm này không phù hợp vì hiện nay, Luật Ngân sách Nhà nước chưa có quy định về việc thành lập Quỹ từ ngân sách nhà nước, hơn nữa, để quản lý Quỹ này có thể lại phát sinh thêm bộ máy, con người. Đồng thời, cũng có ý kiến cho rằng, cần cân nhắc đề xuất thành lập Quỹ bồi thường này vì trong thời gian qua, nhiều cơ quan đã đề xuất thành lập nhiều loại quỹ và thực tiễn cho thấy, nhiều quỹ sau khi được thành lập thì hoạt động lại không hiệu quả. Do đó, để đề xuất thành lập Quỹ bồi thường nhà nước thì cần lập luận chặt chẽ, giải trình chi tiết tính khả thi và hiệu quả trong triển khai thực tiễn thì mới có thể bảo vệ được đề xuất này[6].

- Quan điểm thứ hai cho rằng, để luôn bảo đảm sẵn sàng nguồn kinh phí cho việc bồi thường thì cần quy định theo hướng: Trong mục lục ngân sách nhà nước có một mục riêng về kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[7], vì nếu quy định như vậy sẽ khẳng định cam kết và sẵn sàng của Nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, khắc phục tình trạng các bên đã thống nhất được việc giải quyết bồi thường; bản án, quyết định về giải quyết bồi thường đã được ban hành nhưng người bị thiệt hại phải chờ đợi lâu mới nhận được tiền bồi thường[8]. Tuy nhiên, ý kiến của đại diện Bộ Tài chính cho rằng, trong thực tiễn tổ chức thi hành các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì kinh phí bồi thường đã được quy định là một mục trong mục lục ngân sách nhà nước[9], do đó, không cần thiết phải quy định theo quan điểm nêu trên.

Quan điểm cuối cùng được chấp thuận đó là, giữ quy định về nguồn kinh phí như hiện hành nhưng cần quy định rõ hơn theo hướng Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để kịp thời chi trả, khắc phục trình trạng quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị thiệt hại phải đợi lâu mới nhận được tiền bồi thường[10].

1.2. Về trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần giữ nguyên quy định về việc lập dự toán kinh phí bồi thường như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, theo đó, dự toán kinh phí được lập trên cơ sở căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn vị cùng cấp lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường. Tuy nhiên, nếu theo quan điểm này thì sẽ không giải quyết được những bất cập, hạn chế trong thực tiễn vì giải quyết bồi thường không phải là hoạt động có tính chất thường xuyên, cơ quan nhà nước chỉ phải thực hiện nếu có phát sinh yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, do đó, việc lập dự toán kinh phí bồi thường là không có căn cứ để thực hiện được[11].

- Quan điểm thứ hai cho rằng, cần thống nhất đầu mối lập dự toán kinh phí bồi thường ở trung ương và địa phương, theo đó, việc lập dự toán kinh phí bồi thường được giao cho cơ quan tài chính có thẩm quyền. Hàng năm, căn cứ vào thực tế cấp phát kinh phí bồi thường của năm trước thì cơ quan tài chính có cơ sở thuận lợi hơn trong việc lập dự toán và quyết toán kinh phí bồi thường. Hơn nữa, kinh phí bồi thường không cấp ngay cho các cơ quan nhà nước mà chỉ cấp khi có đề nghị cấp kinh phí bồi thường[12]. Quan điểm này đã được chấp thuận và được thể hiện trong quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

1.3. Về cấp phát kinh phí bồi thường

Trong quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, các quan điểm thống nhất cao với việc sửa đổi quy định về việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn. Việc cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường chỉ căn cứ vào quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường. Cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí bồi thường khi quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật. Ngay sau khi được cấp kinh phí, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm chi trả cho người bị thiệt hại. Cơ quan tài chính cũng phải kịp thời cấp phát kinh phí tạm ứng khi có văn bản đề nghị của cơ quan giải quyết bồi thường[13].

2. Những điểm mới trong quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

So với Chương VI Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Chương VI Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo hướng:

Thứ nhất, sửa đổi quy định về cơ quan có trách nhiệm lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, chuyển trách nhiệm này từ cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sang cơ quan tài chính có thẩm quyền[14]. Việc sửa đổi như vậy là nhằm thống nhất đầu mối lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường ở trung ương và cấp tỉnh, tránh tình trạng tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, trong khi bồi thường nhà nước không phải là công việc thường xuyên, chỉ phát sinh khi có vụ việc cụ thể. Mặt khác, hàng năm, căn cứ vào thực tế cấp phát kinh phí bồi thường của năm trước thì cơ quan tài chính có cơ sở và thuận lợi hơn trong việc lập dự toán kinh phí bồi thường.

Thứ hai, mở rộng cách hiểu “kinh phí bồi thường” so với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại được coi là một loại kinh phí bồi thường và được bảo đảm từ ngân sách nhà nước. Theo quy định này thì “chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại” sẽ được ngân sách nhà nước cấp bổ sung mà không lấy vào kinh phí hoạt động của cơ quan giải quyết bồi thường như quy định của Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng, bởi sẽ không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước[15].

Thứ ba, bỏ quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền và cơ quan chủ quản (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại. Việc bỏ quy định này là bởi, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính có thẩm quyền phải tham gia quá trình giải quyết bồi thường ngay từ giai đoạn xác minh thiệt hại nếu có đề nghị và giai đoạn thương lượng việc bồi thường để bảo đảm tính chặt chẽ, đúng pháp luật của quá trình giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ.

Thứ tư, bổ sung quy định về hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường đã được quy định tại Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước.

Thứ năm, bổ sung quyền hạn của cơ quan tài chính có thẩm quyền nếu không đồng ý với mức bồi thường hoặc nếu cho rằng hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường không đáp ứng yêu cầu.

Thứ sáu, bổ sung quy định về sung quỹ nhà nước nếu người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường trong thời hạn luật định. Quy định này được bổ sung nhằm khắc phục tình trạng, cơ quan giải quyết bồi thường đã thực hiện chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật nhưng người bị thiệt hại không hợp tác, không nhận tiền bồi thường, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết bồi thường khiến cho vụ việc không được giải quyết dứt điểm.

Thứ bảy, bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ phải gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí cho phù hợp với quy định về trách nhiệm quyết toán của cơ quan tài chính có thẩm quyền vì việc chi trả tiền bồi thường không phải do cơ quan tài chính thực hiện mà vẫn do cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện[16].

3. Quy định cụ thể về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

3.1. Về kinh phí bồi thường (Điều 60)

Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, kinh phí bồi thường được quy định như sau:

- Về trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường: Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm cấp phát kịp thời và đầy đủ kinh phí bồi thường.

- Về kinh phí bồi thường: Kinh phí bồi thường được xác định bao gồm: Tiền chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại.

- Về nguồn kinh phí bồi thường: Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương; trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách cấp tỉnh.

3.2. Trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường, quyết toán kinh phí bồi thường (Điều 61 và Điều 63)

a. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Bộ Tài chính và Sở Tài chính có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường như sau:

- Hàng năm, căn cứ thực tế số tiền bồi thường, chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước, Bộ Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

- Hàng năm, căn cứ thực tế số tiền bồi thường, chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước, Sở Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

b. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định việc quyết toán kinh phí bồi thường được thực hiện như sau:

- Sau khi chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí để quyết toán theo quy định của pháp luật.

- Kết thúc năm ngân sách, Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm quyết toán kinh phí bồi thường theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

3.3. Cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường (Điều 62)

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định việc cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường, cụ thể như sau:

a. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải gửi hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đến cơ quan tài chính có thẩm quyền.

b. Hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đối với trường hợp giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc trường hợp giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đủ thông tin về người bị thiệt hại, căn cứ để xác định các khoản tiền bồi thường, các khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể, số tiền đã tạm ứng (nếu có) và tổng số tiền đề nghị được cấp để thực hiện việc chi trả tiền bồi thường;

- Bản sao văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

- Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền về giải quyết yêu cầu bồi thường.

c. Hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường trong trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường kết hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hoặc vụ án hành chính bao gồm:

- Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đủ thông tin về người bị thiệt hại, căn cứ để xác định các khoản tiền bồi thường, các khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị được cấp để thực hiện việc chi trả tiền bồi thường;

- Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.

d. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 62 của Luật, cơ quan tài chính phải hoàn thành việc cấp phát kinh phí bồi thường cho cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.

đ. Thẩm quyền của cơ quan tài chính nếu cho rằng mức bồi thường không phù hợp hoặc hồ sơ không đáp ứng yêu cầu:

- Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 62 hoặc mức bồi thường không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường để hoàn thiện hồ sơ, cấp phát kinh phí bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường.

- Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường (bao gồm bản án, quyết định của Tòa án được ban hành trong thủ tục tố tụng hình sự hoặc tố tụng dân sự hoặc tố tụng hành chính) không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng.

e. Về chi trả tiền bồi thường.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kinh phí do cơ quan tài chính cấp, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả tiền bồi thường.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải tiến hành chi trả tiền bồi thường.

f. Về hậu quả pháp lý trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường.

Hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 5 Điều 62 mà người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại làm thủ tục sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự không tính vào thời hạn 03 năm nêu trên.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường Nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] Trần Minh Trọng, Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh phí bồi thường nhà nước và thủ tục chi trả, Số chuyên đề “Thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 73-83.

[2] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tr. 25.

[3] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp, Tlđd, tr. 26.

[4] Báo cáo ngày 23/10/2015 của Tổ biên tập báo cáo kết quả cuộc họp lần thứ nhất Tổ biên tập dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 3 và Báo cáo số 36/BC-BTP ngày 25/01/2017 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 5.

[5] Cục Bồi thường nhà nước, Báo cáo số 148/BC-BTNN ngày 19/10/2015 kết quả hội thảo “Định hướng trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, tr. 5.

[6] Phạm Xuân Thường (2015), tham luận “Về một số định hướng sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Hội thảo “Định hướng trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” do Cục Bồi thường nhà nước tổ chức, Hải Phòng, 10/2015, tr. 4.

[7] Bộ Tư pháp, Báo cáo số 47/BC-BTP ngày 14/3/2016 báo cáo Chính phủ những định hướng lớn xây dựng dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi).

[8] Bộ Tư pháp, Tờ trình số 42 ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp trình Chính phủ dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[9] Thông báo ngày 13/6/2016 của Tổ biên tập thông báo kết quả cuộc họp lần thứ tư Tổ biên tập dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 4.

[10] Chính phủ, Tờ trình số 290/TTr-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[11] Trần Thị Thu Hằng (2016), “Hoàn thiện quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường”, Số chuyên đề về “Dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi)”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 157-166.

[12] Bộ Tư pháp, Báo cáo số 36/BC-BTP ngày 25/01/2017 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 6.

[13] Chính phủ, Tờ trình số 290/TTr-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi), tr. 11.

[14] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Những nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Nxb. Công an nhân dân, tr. 146.

[15] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Sđd, tr. 147.

[16] Cục Bồi thường nhà nước (2017), Nguyễn Văn Bốn (chủ biên), Sđd, tr. 149.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: