Thứ tư 18/03/2026 06:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những quy định mới của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tác động đến công tác thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động cuối cùng bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội; tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quyết định, bản án của toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trong thực tế.

Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng dân sự, bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành nghiêm. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định rõ ràng, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo đảm tính thực tế, đương sự phát huy được quyền đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên tòa, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng dân sự được bảo đảm theo đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những tác động không nhỏ đến công tác thi hành án dân sự, điều này được tác giả phân tích kỹ trong bài viết, đồng thời nêu ra một số hạn chế đang tồn tại của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với công tác thi hành án.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định rõ ràng, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo đảm tính thực tế, đương sự phát huy được quyền đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên tòa, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng dân sự được bảo đảm theo đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua cùng với các bộ luật và luật lớn khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015… tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nội dung và hình thức đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đất nước đổi mới, tham gia sâu rộng vào các quan hệ pháp lý quốc tế.

Đối với công tác thi hành án dân sự, khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ra đời với những quy định mới sẽ giúp cho công tác này khắc phục được nhiều khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn đặt ra.

1. Một số quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tác động đến công tác thi hành án dân sự

1.1. Quy định những tranh chấp và yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tiếp thu, kế thừa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 bổ sung quy định những tranh chấp và yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tạo hành lang pháp lý theo hướng mở rộng phạm vi các tranh chấp, yêu cầu dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, từ đó cơ quan thi hành án dân sự có thể yêu cầu hoặc hướng dẫn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn thi hành án quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, phục vụ cho công tác thi hành án dân sự, cụ thể:

- Khoản 12, khoản 13 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.

Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế trên thực tế thường phát sinh dưới các dạng sau: Tranh chấp với bên thứ ba về quyền sử hữu tài sản hoặc tài sản cưỡng chế bị đưa vào tham gia các giao dịch dân sự với bên thứ ba (như bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho…) nhằm mục đích tẩu tán, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của bên phải thi hành án. Quy định trên hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) về giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì tài sản bán đấu giá thành sẽ được Nhà nước bảo đảm giao cho người trúng đấu giá, kể cả trong trường hợp sau đó bản án, quyết định của Tòa án bị tuyên hủy, sửa đổi (theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế để giao tài sản cho người trúng bán đấu giá, trừ trường hợp thủ tục bán đấu giá vi phạm theo quy định của pháp luật về bán đấu giá.

Tranh chấp về phí tổn trong bán đấu giá thuộc phạm vi giải quyết việc dân sự của Tòa án hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về bán tài sản kê biên.

- Khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự”.

Quy định này thường được áp dụng trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản mà người phải thi hành án có quyền sở hữu chung với người khác như tài sản chung vợ chồng, vốn góp tại doanh nghiệp... Quy định này hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án.

1.2. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Song song với việc mở rộng phạm vi các tranh chấp, yêu cầu về dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án để cơ quan thi hành án dân sự, đương sự thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết, điểm n khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: “Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự”.

1.3. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quy định nhiều biện pháp mới từ khoản 13 đến khoản 16 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo đó, bổ sung khoản 13 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ”. Về cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa với việc công tác thi hành án, vì thông qua áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh sẽ góp phần ngăn ngừa tình trạng người có nghĩa vụ trong giai đoạn xét xử, khi bản án, quyết định có hiệu lực thường trở thành người phải thi hành án trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, qua đó, tăng cường ý thức, trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ và làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sau này.

1.4. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Khi Tòa án xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa có thẩm quyền giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (quy định tại các điều 344, 346, 347 và 357 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Số lượng bản án, quyết định của Tòa án qua giám đốc thẩm, tái thẩm bị hủy, sửa tuy không nhiều nhưng trên cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, bảo đảm công bằng xã hội, cần quy định rõ trách nhiệm của Tòa án phải giải quyết đối với vụ việc đang thi hành hoặc đã thi hành xong bản án, quyết định nhưng sau đó bị hủy, sửa là rất cần thiết. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải giải quyết “hậu quả” của việc thi hành án. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành vụ việc theo phán quyết của Tòa án.

1.5. Thủ tục giải quyết việc dân sự

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) ghi nhận chấp hành viên, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, pháp luật về tố tụng dân sự trước đây chưa có quy định cụ thể, rõ ràng trình tự, thủ tục thực hiện, nên chấp hành viên, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi yêu cầu Tòa án thụ lý và giải quyết.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung một số quy định mới tại Chương XXIII từ Điều 361 đến Điều 375 như thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, các trường hợp trả lại đơn, thông báo thụ lý đơn, chuẩn bị xét xử, gửi quyết định giải quyết việc dân sự, thủ tục kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự. Với quy định mới tại Chương XXIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục, thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự và thủ tục tố tụng tại Tòa án được quy định cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho chấp hành viên, đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án.

1.6. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, tại Điều 5 về thỏa thuận thi hành án quy định, đương sự có thể thỏa thuận việc thi hành án khi bản án, quyết định có hiệu lực; sau khi cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành, đương sự có quyền yêu cầu chấp hành viên chứng kiến thỏa thuận và tổ chức thi hành theo nội dung thỏa thuận nếu thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án (trong quy trình giải quyết tranh chấp về đất đai thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã phải được thực hiện, nếu hòa giải không thành mới đưa tranh chấp ra Tòa án giải quyết).

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới có tác dụng hỗ trợ cho công tác thi hành án dân sự, Điều 416 về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án quy định: “Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”

Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được quy định rất cụ thể tại Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, chấp hành viên nhận thấy các bên đương sự thỏa thuận thi hành án chứa đựng nhiều nội dung vượt quá khả năng của mình khi đánh giá tính chất pháp lý của thỏa thuận, trong trường hợp này, chấp hành viên có thể hướng dẫn cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án làm cơ sở cho việc tiếp tục tổ chức thi hành án, ví dụ như trong lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao dây chuyền máy móc, công nghệ cao, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài (dẫn chiếu pháp luật nước ngoài điều chỉnh)…

2. Một số hạn chế, tồn tại của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với công tác thi hành án dân sự

Thứ nhất, khoản 1 Điều 362 Bộ luât Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “… Trường hợp chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Quy định này bộc lộ một số hạn chế sau:

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự như đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (quyền và nghĩa vụ được quy định từ Điều 70 đến Điều 73). Điều này sẽ tạo khó khăn cho chấp hành viên, người yêu cầu giải quyết việc dân sự trong quá trình tham gia tố tụng.

- Quy định địa vị pháp lý của chấp hành viên khi yêu cầu giải quyết việc dân sự giống với người yêu cầu giải quyết việc dân sự khác “hoàn toàn không phù hợp”, vì chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định, công tác của chấp hành viên mang tính chất quyền lực nhà nước (thực thi công vụ). Do đó, phải có cơ chế pháp lý phù hợp hơn, hiệu quả hơn khi chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự liên quan đến công tác thi hành án.

Thứ hai, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) cùng quy định về một vấn đề còn khác nhau:

- Quy định về trường hợp những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị tại khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị gồm: Khoản về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công.

- Thời hạn Tòa án trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại khoản 2 Điều 170 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) (không quá 90 ngày) và Điều 487 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (không quá 3 tháng, trường hợp phức tạp không quá 4 tháng).

ThS. Đinh Phạm Văn Minh

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: