Thứ ba 13/10/2026 10:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những quy định mới của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tác động đến công tác thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động cuối cùng bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội; tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quyết định, bản án của toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trong thực tế.

Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng dân sự, bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành nghiêm. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định rõ ràng, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo đảm tính thực tế, đương sự phát huy được quyền đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên tòa, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng dân sự được bảo đảm theo đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những tác động không nhỏ đến công tác thi hành án dân sự, điều này được tác giả phân tích kỹ trong bài viết, đồng thời nêu ra một số hạn chế đang tồn tại của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với công tác thi hành án.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua chứa đựng nhiều điểm mới, tiến bộ như bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, hoàn thiện hơn quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định rõ ràng, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo đảm tính thực tế, đương sự phát huy được quyền đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, bảo đảm quyền tranh luận tại phiên tòa, qua đó các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng dân sự được bảo đảm theo đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua cùng với các bộ luật và luật lớn khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015… tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nội dung và hình thức đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đất nước đổi mới, tham gia sâu rộng vào các quan hệ pháp lý quốc tế.

Đối với công tác thi hành án dân sự, khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ra đời với những quy định mới sẽ giúp cho công tác này khắc phục được nhiều khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn đặt ra.

1. Một số quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tác động đến công tác thi hành án dân sự

1.1. Quy định những tranh chấp và yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tiếp thu, kế thừa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 bổ sung quy định những tranh chấp và yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tạo hành lang pháp lý theo hướng mở rộng phạm vi các tranh chấp, yêu cầu dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, từ đó cơ quan thi hành án dân sự có thể yêu cầu hoặc hướng dẫn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn thi hành án quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, phục vụ cho công tác thi hành án dân sự, cụ thể:

- Khoản 12, khoản 13 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.

Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế trên thực tế thường phát sinh dưới các dạng sau: Tranh chấp với bên thứ ba về quyền sử hữu tài sản hoặc tài sản cưỡng chế bị đưa vào tham gia các giao dịch dân sự với bên thứ ba (như bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho…) nhằm mục đích tẩu tán, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của bên phải thi hành án. Quy định trên hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) về giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì tài sản bán đấu giá thành sẽ được Nhà nước bảo đảm giao cho người trúng đấu giá, kể cả trong trường hợp sau đó bản án, quyết định của Tòa án bị tuyên hủy, sửa đổi (theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế để giao tài sản cho người trúng bán đấu giá, trừ trường hợp thủ tục bán đấu giá vi phạm theo quy định của pháp luật về bán đấu giá.

Tranh chấp về phí tổn trong bán đấu giá thuộc phạm vi giải quyết việc dân sự của Tòa án hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về bán tài sản kê biên.

- Khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự”.

Quy định này thường được áp dụng trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản mà người phải thi hành án có quyền sở hữu chung với người khác như tài sản chung vợ chồng, vốn góp tại doanh nghiệp... Quy định này hoàn toàn phù hợp và hỗ trợ cho khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án.

1.2. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Song song với việc mở rộng phạm vi các tranh chấp, yêu cầu về dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án để cơ quan thi hành án dân sự, đương sự thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết, điểm n khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: “Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự”.

1.3. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quy định nhiều biện pháp mới từ khoản 13 đến khoản 16 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo đó, bổ sung khoản 13 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ”. Về cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa với việc công tác thi hành án, vì thông qua áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh sẽ góp phần ngăn ngừa tình trạng người có nghĩa vụ trong giai đoạn xét xử, khi bản án, quyết định có hiệu lực thường trở thành người phải thi hành án trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, qua đó, tăng cường ý thức, trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ và làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sau này.

1.4. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Khi Tòa án xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa có thẩm quyền giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (quy định tại các điều 344, 346, 347 và 357 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Số lượng bản án, quyết định của Tòa án qua giám đốc thẩm, tái thẩm bị hủy, sửa tuy không nhiều nhưng trên cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, bảo đảm công bằng xã hội, cần quy định rõ trách nhiệm của Tòa án phải giải quyết đối với vụ việc đang thi hành hoặc đã thi hành xong bản án, quyết định nhưng sau đó bị hủy, sửa là rất cần thiết. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải giải quyết “hậu quả” của việc thi hành án. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành vụ việc theo phán quyết của Tòa án.

1.5. Thủ tục giải quyết việc dân sự

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) ghi nhận chấp hành viên, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, pháp luật về tố tụng dân sự trước đây chưa có quy định cụ thể, rõ ràng trình tự, thủ tục thực hiện, nên chấp hành viên, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi yêu cầu Tòa án thụ lý và giải quyết.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung một số quy định mới tại Chương XXIII từ Điều 361 đến Điều 375 như thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, các trường hợp trả lại đơn, thông báo thụ lý đơn, chuẩn bị xét xử, gửi quyết định giải quyết việc dân sự, thủ tục kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự. Với quy định mới tại Chương XXIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục, thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự và thủ tục tố tụng tại Tòa án được quy định cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho chấp hành viên, đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án.

1.6. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, tại Điều 5 về thỏa thuận thi hành án quy định, đương sự có thể thỏa thuận việc thi hành án khi bản án, quyết định có hiệu lực; sau khi cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành, đương sự có quyền yêu cầu chấp hành viên chứng kiến thỏa thuận và tổ chức thi hành theo nội dung thỏa thuận nếu thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án (trong quy trình giải quyết tranh chấp về đất đai thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã phải được thực hiện, nếu hòa giải không thành mới đưa tranh chấp ra Tòa án giải quyết).

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới có tác dụng hỗ trợ cho công tác thi hành án dân sự, Điều 416 về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án quy định: “Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”

Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được quy định rất cụ thể tại Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, chấp hành viên nhận thấy các bên đương sự thỏa thuận thi hành án chứa đựng nhiều nội dung vượt quá khả năng của mình khi đánh giá tính chất pháp lý của thỏa thuận, trong trường hợp này, chấp hành viên có thể hướng dẫn cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án làm cơ sở cho việc tiếp tục tổ chức thi hành án, ví dụ như trong lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao dây chuyền máy móc, công nghệ cao, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài (dẫn chiếu pháp luật nước ngoài điều chỉnh)…

2. Một số hạn chế, tồn tại của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với công tác thi hành án dân sự

Thứ nhất, khoản 1 Điều 362 Bộ luât Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “… Trường hợp chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Quy định này bộc lộ một số hạn chế sau:

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự như đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (quyền và nghĩa vụ được quy định từ Điều 70 đến Điều 73). Điều này sẽ tạo khó khăn cho chấp hành viên, người yêu cầu giải quyết việc dân sự trong quá trình tham gia tố tụng.

- Quy định địa vị pháp lý của chấp hành viên khi yêu cầu giải quyết việc dân sự giống với người yêu cầu giải quyết việc dân sự khác “hoàn toàn không phù hợp”, vì chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định, công tác của chấp hành viên mang tính chất quyền lực nhà nước (thực thi công vụ). Do đó, phải có cơ chế pháp lý phù hợp hơn, hiệu quả hơn khi chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự liên quan đến công tác thi hành án.

Thứ hai, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) cùng quy định về một vấn đề còn khác nhau:

- Quy định về trường hợp những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị tại khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị gồm: Khoản về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công.

- Thời hạn Tòa án trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại khoản 2 Điều 170 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) (không quá 90 ngày) và Điều 487 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (không quá 3 tháng, trường hợp phức tạp không quá 4 tháng).

ThS. Đinh Phạm Văn Minh

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: