Thứ năm 27/08/2026 02:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nỗi lòng phạm nhân ăn Tết trong tù

Những ngày giáp Tết, không khí ở các trại giam náo nhiệt hơn ngày thường. Giữa những nụ cười ấm áp, vẫn có người lủi thủi, cô đơn. Họ bị người thân xa lánh, thậm chí bỏ bê. Hơn bất kỳ người nào, họ cần được động viên, chia sẻ và thèm nhận được một nụ cười thân thiện từ người thân.

Những ngày giáp Tết, không khí ở các trại giam náo nhiệt hơn ngày thường. Giữa những nụ cười ấm áp, vẫn có người lủi thủi, cô đơn. Họ bị người thân xa lánh, thậm chí bỏ bê. Hơn bất kỳ người nào, họ cần được động viên, chia sẻ và thèm nhận được một nụ cười thân thiện từ người thân.

Tết về nhớ mẹ

Giữa tiết trời se lạnh, ngồi nói chuyện với tôi là ba thanh niên trẻ. Họ vào trại Phú Sơn 4 (Phú Lương, Thái Nguyên) khi đang còn tuổi vị thành niên. Người phạm tội hiếp dâm, kẻ cướp giật tài sản nhưng bề ngoài vẻ mặt ai cũng hiền khô. Ấn tượng nhất với tôi là Sùng A Sía, 16 tuổi, người dân tộc Mông, quê Cao Bằng. Sía vào trại giam từ việc đưa bạn gái về muộn. Khi người nhà phát hiện, bạn gái khai đã lỡ bị Sía... yêu. Rồi bị bắt, bị tạm giam. Cuộc hoan ca ngẫu hứng phút chốc đã khiến Sía phải nhận mức án tù ba năm rưỡi. Mấy tháng trời ở trại giam, Sía cho biết khỏe và vui hơn ở nhà. Thấy tôi ngạc nhiên, Sía bảo, nhà ở trên núi cao, quanh năm heo hút. Đêm về trời tối thui, buồn bã. Thanh niên như Sía ngoài đi rừng không biết phải làm gì. Sía bảo, bây giờ em ân hận lắm. Với người Mông, nếu cô ấy chấp thuận thì đã không sao. “Ở trại, em được giam riêng cùng các bạn. Hằng ngày được học nghề, không phải lao động nên vui hơn ở nhà”, Sía hồn nhiên. Thoáng vẻ buồn, Sía đưa mắt nhìn xa xăm: “Năm nay không được nấu bánh chưng nữa. Tết đến rồi, em chỉ thấy nhớ nhà, nhớ mẹ”, Sía nói.

Nếu như Sía vì thiếu hiểu biết pháp luật mà phải vào tù, Nguyễn Thanh Bình lại là người một thời khét tiếng ở đất Sài Gòn. Bình sinh năm 1975, nhà ở quận 6, TP. Hồ Chí Minh, thụ án 9 năm vì tội mua bán trái phép ma túy, hiện đang thụ án tại Trại giam Thủ Đức. Mấy năm ở tù, mỗi lần Tết đến, Bình lúc nào cũng buồn vì không có người đến thăm. Vợ, con chưa có, ở nhà Bình chỉ còn người mẹ già năm nay đã ngoài 70 tuổi. “Đời em coi như đã hết. Em không những nghiện mà còn bị HIV. Tết đến em chỉ thương mẹ già, một mình lủi thủi. Vào trại rồi em mới thấy quãng thời gian qua sống hoài, sống phí. Tuổi thanh xuân qua đi vì ăn chơi vô độ. Mỗi lần nghĩ về mẹ, em lại ghê tởm và giận mình vì tội bất hiếu”, Bình bật khóc.

Trước đây, khi lên cơn, mẹ Bình lại phải van lạy vì trong nhà không còn gì để bán. Tết cận kề, nhà nhà đùm bánh chưng, trang hoàng lộng lẫy, nhưng nhà Bình hoang lạnh, thê lương. Biết Bình nghiện, lại nhiễm HIV nên ai cũng ghẻ lạnh. “Đêm giao thừa, mẹ khóc cạn nước mắt, nhưng vì lên cơn nên em vẫn lao đi. Giờ nhớ lại cảnh mẹ quỵ ngã, không ai đỡ dậy, em cắn lưỡi tới nghìn lần vẫn chưa hết giận bản thân”, Bình nói. Tôi hỏi, nếu được làm lại, Bình sẽ thế nào? Bình trả lời: Em sẽ không làm gì để mẹ phải khóc nữa. Em chỉ mong được sống đến ngày ra trại để được đùm bánh chưng cho mẹ mỗi khi Tết về.

Theo Thượng tá Trần Văn Hạnh, Phó Giám thị Trại giam Thủ Đức, khi Bình vào trại sức khỏe yếu nên được bố trí làm các việc nhẹ nhàng. Do được chăm sóc tốt, sức khỏe Bình ngày một khá lên. Nhờ được hỗ trợ thuốc làm giảm tác hại của vi rút HIV, nên bệnh của Bình có chiều hướng tốt lên mỗi ngày. “Những người như Bình ngoài chế độ Tết do Nhà nước quy định, các ngày lễ cũng như cuối năm, còn được Giám thị Trại thăm hỏi, lì xì”….

Đau lòng ánh mắt trẻ thơ

Hôm tôi đến trại Phú Sơn 4, ở khắp các phân trại mọi người đang trang hoàng đón Tết. Lọt thỏm giữa rừng cây xanh là phân trại 4, nơi đang giam giữ hơn 700 phạm nhân nữ. Từ cổng vào khuôn viên phân trại, các phạm nhân nữ đang chia nhau chặt cây, quét dọn. Bên phải phân trại, một nhóm phạm nhân nữ đang kết hoa giấy trang trí không gian chung. Theo Đại tá Nguyễn Xuân Trường, Giám thị trại Phú Sơn 4, toàn trại giam có 6 phân trại, riêng Phân trại 4 dành riêng cho phạm nhân nữ. Dù phạm nhân nam hay nữ, khi Tết đến đều được hưởng mỗi người 17 kg lương thực; 1,5 kg thịt cá; 15 kg rau xanh, rồi nước mắm, đường, mỳ chính...

Đang trò chuyện với các phạm nhân, thi thoảng lại nghe tiếng khóc của trẻ con. Thấy tôi ngạc nhiên, vị giám thị trại giam nói đó là con của các phạm nhân nữ. Hóa ra, ngay cổng Phân trại số 4 có hẳn một nhà trẻ rộng chừng vài chục mét vuông. Những đứa trẻ bụ bẫm, đang nô đùa với những trò chơi con trẻ ai nhìn cũng thấy nao lòng. “Chúng có tội tình gì mà phải ở nơi chốn này”, một đồng nghiệp xót xa.

Theo người quản trẻ tại đây, bé ít nhất 20 tháng tuổi, nhiều nhất hơn 30 tháng. Đa số các bé đều được sinh ra ở trại. Chị Đinh Thúy Hồng (quê Thái Nguyên) vào trại được một tháng là sinh. Vì phạm tội cờ bạc nên chị Hồng lĩnh 15 tháng tù giam. Tôi hỏi: “Tết về chị có nhớ gia đình, có thương chồng con không?”. Chị Hồng nghẹn ngào: “Nhớ chứ anh. Chỉ vì ham cờ bạc mà em nên nỗi này. Thương con lắm vì khi sinh ra đã phải sống chung với mẹ ở trại”… Rồi chị cho biết, may mắn là con không khai sinh ở trại giam. Đã thế, cuối ngày làm về còn được đón con về buồng giam ở cùng mẹ. Nhiều đêm em khóc thầm vì nhớ chồng, thương con. Chỉ vì mẹ phạm tội mà con cũng phải ở trại. Nay mai con lớn lên, không biết sẽ ra sao.

Cùng cảnh ngộ, chị Hoa quê ở Hà Nội, phạm tội bán ma túy. Bế trên tay bé trai kháu khỉnh, chị Hoa nghẹn ngào nói không nên lời: “Vì thua lỗ và bị dụ dỗ, em liều bán ma túy để trả nợ. Em bị bắt, rồi tạm giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Cứ nghĩ cảnh con ở tù cùng mẹ hết từ Hà Nội lên Thái Nguyên là em lại khóc”, chị Hoa chia sẻ. Được biết chồng chị Hoa làm nghề lái xe, đi sớm về hôm để kiếm tiền nuôi ba con ở nhà và trả nợ cho vợ. Dù gần Tết, nhưng chồng chị Hoa vẫn không có điều kiện để lên thăm hai mẹ con. Hoa nấc nghẹn: “Em thương chồng, nhưng giờ có hối hận cũng không kịp”.

Theo Đại tá Lương Văn Đạo, Phó Giám thị Trại giam Phú Sơn 4, những bé gái như con chị Hồng, chị Hoa còn may mắn vì có mẹ ở bênh cạnh, thiệt thòi nhất là những bé bị gia đình ruồng bỏ. Đại tá Đạo cho biết: “Giờ các bé còn nhỏ được trại chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng khi hơn ba tuổi biết nhận thức, trại phải làm hồ sơ để gửi vào các trung tâm giáo dưỡng vì môi trường trong trại sẽ không tốt cho tương lai các bé sau này”.

Rảo bước về phòng chỉ huy, Đại tá Đạo vừa đi vừa nói, mẹ có tội chứ các bé không có tội. Các bé ở trại cũng là điều bất đắc dĩ. Lẽ đó mà các dịp lễ hay Tết thế này, ngoài chế độ chung, các bé còn được lãnh đạo trại tặng rất nhiều bánh kẹo, sữa, quần áo. Đại tá Đạo cũng cho biết: “Dù được ở cùng con nhưng mẹ vẫn phải mặc áo phạm nhân. Nhìn ánh mắt ngây thơ của các bé, có lẽ nếu được sửa chữa sai lầm, các phạm nhân nữ sẽ không bao giờ phạm tội”. Chia tay Đại tá Đạo, nơi cuối con đường, các bé vẫn nô đùa nghịch ngợm. Ánh mắt trẻ thơ trong veo đến nỗi những ngày cuối đông cũng ấm dần lên và đỡ phần tê tái.

Xuân đang về...

Phong Cầm

(Theo Tiền phong - http://www.tienphong.vn/xa-hoi/an-tet-o-tu-673287.tpo)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: