Thứ sáu 16/01/2026 10:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phạm tội do dùng rượu, bia và trách nhiệm hình sự

Theo đó, để bảo đảm giải quyết thỏa đáng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia và bảo đảm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia, cần hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) về trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Abstract: This article analyzes and evaluates the current situation of Vietnam's criminal law regulations on criminal liability of offenders in the state of alcohol and beer use and proposes to improve legal regulations on this issue.

1. Đặt vấn đề

Ngoài các tác hại về sức khỏe, lạm dụng rượu, bia còn là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác như bạo lực cá nhân, mất trật tự, an toàn xã hội, tội phạm, phân hóa xã hội và gánh nặng về kinh tế đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội do liên quan đến các phí tổn về chăm sóc sức khỏe, giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác[1].

Pháp luật hình sự ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều không loại trừ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khi họ thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của tình trạng này đối với trách nhiệm hình sự, theo tác giả, không chỉ dừng lại ở việc pháp luật hình sự ghi nhận rằng, người phạm tội có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Trên thực tế, rượu, bia là chất kích thích có tác động mạnh đến thần kinh trung ương và nếu lạm dụng quá mức sẽ làm cho người sử dụng không làm chủ được những hành vi, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng[2]. Sự tác động của việc sử dụng rượu, bia đối với tội phạm ở nhiều khía cạnh: (i) Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tội phạm (ngay cả đối với trường hợp người phạm tội có ý định phạm tội từ trước khi sử dụng rượu, bia hoặc không); (ii) Do trạng thái tâm lý hưng phấn do sử dụng rượu, bia dẫn đến kích động, khiến cho hành vi phạm tội gây ra hậu quả nguy hiểm đáng kể hơn.

Theo đó, để bảo đảm giải quyết thỏa đáng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia và bảo đảm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia, cần hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) về trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia.

2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia

Về trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia được Bộ luật Hình sự hiện hành quy định như sau:

Thứ nhất, Điều 13 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Bộ luật Hình sự đã sửa tên của điều luật từ “phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác” (Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 1999) thành “phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác” (Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 2015) và sửa quy định “người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác…” (Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 1999) thành quy định “người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia…”.

Một trong những điều kiện cơ bản của chủ thể khi thực hiện hành vi phạm tội là phải có năng lực trách nhiệm hình sự[3], tuy nhiên, nếu họ thực hiện hành vi trong tình trạng mất năng lực nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do sử dụng rượu, bia thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo quan điểm lập pháp, thì trường hợp này, người phạm tội mất năng lực nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do sử dụng bia, rượu là do họ tự đặt mình vào tình trạng trên nên không loại trừ trách nhiệm hình sự. Mặt khác, trên thực tế, việc say rượu, bia là thói xấu trong xã hội, việc người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm khi rơi vào trạng thái họ có thể lường trước được còn là biểu thị sự nghiêm khắc của xã hội đối với hành vi này.

Ngoài trường hợp say do tự nguyện uống rượu, bia thì thực tế, tình trạng say có thể do bị ép buộc, bị lừa dối hoặc say rượu bệnh lý. Say rượu bệnh lý là chứng loạn tâm thần cấp tính lâm thời, hết sức hiếm, xuất hiện sau khi uống rượu và tiến triển theo kiểu trạng thái ý thức hoàng hôn; rối loạn ý thức phát triển đột ngột, không phụ thuộc vào lượng rượu đã uống; thường thấy sau khi người bệnh dùng một lượng rượu tương đối nhỏ và trước đó không có bệnh cảnh say rượu thông thường nặng. Người bệnh bị mù mờ về ý thức, tri giác về xung quanh và định hướng bị rối loạn, lệch lạc nghiêm trọng; hành vi của họ phần lớn là kích động, công kích; nổi bật lên cảm giác sợ hãi, giận dữ, độc ác; hoang tưởng bị đe dọa, bị theo dõi, các ảo giác và thính giác lẻ tẻ… Người bệnh hoàn toàn không tiếp xúc với xung quanh; có thể có biểu hiện kích động kiểu động kinh không kèm theo rối loạn ngôn ngữ… Trong trạng thái đó, người bệnh có thể có hành động tấn công nguy hiểm hoàn toàn vô cớ, thậm chí giết người hàng loạt. Say rượu bệnh lý khác với say rượu thông thường, thường không có rối loạn vận động và ngôn ngữ, phối hợp động tác vẫn còn; kéo dài không quá một vài giờ và kết thúc đột ngột bằng một giấc ngủ, người bệnh khi đã tỉnh dậy hoàn toàn không nhớ những gì đã xảy ra hoặc nhớ hết sức vụn vặt. Ở người đã có hành động nguy hiểm, việc xác định say rượu bệnh lý là cơ sở để coi họ là mất năng lực trách nhiệm hình sự[4].

Như vậy, đối với người say rượu bệnh lý thì thuộc những trường hợp “bệnh khác” theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự, làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình[5]. Còn đối với tình trạng say mà không phải do lỗi của mình gây ra (bị ép buộc, bị lừa dối) nếu đến mức không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì một số tài liệu cho rằng, trường hợp này được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự[6].

Thứ hai, người phạm tội trong tình trạng có sử dụng rượu, bia còn bị coi là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn so với người bình thường trong một số tội phạm đó là: Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ); điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự (Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt); điểm b khoản 2 Điều 272 Bộ luật Hình sự (Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt). Đây là một số công việc có tính chất đặc biệt, cấm người thực hiện công việc đó sử dụng rượu, bia.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Hình sự, trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong tình trạng sử dụng rượu, bia được quy định ở hai khía cạnh, đó là không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu việc sử dụng rượu, bia dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và việc sử dụng rượu, bia trong một số trường hợp (Điều 260, Điều 267 và Điều 272) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

3. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thực tế không thể phủ nhận trách nhiệm hình sự của người phạm tội mà khi thực hiện hành vi phạm tội, họ bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển của mình do sử dụng rượu, bia. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hình sự hiện hành về vấn đề này vẫn còn những bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung.

Thứ nhất, pháp luật hình sự Việt Nam cần nhìn nhận sự ảnh hưởng của tình trạng sử dụng rượu, bia khi thực hiện hành vi phạm tội ở một phạm vi rộng hơn, bởi sự ảnh hưởng của tình trạng này ở người phạm tội trong mỗi trường hợp là khác nhau. Có thể lý giải rõ hơn từ yếu tố lỗi, rõ ràng, một người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và vô ý thì sự tác động của yếu tố sử dụng rượu, bia là khác nhau. Ví dụ: A có ý định giết B nhưng A chưa dám thực hiện vì còn lo sợ. A quyết định uống rượu cho say để lấy tinh thần đi giết B. Dưới tác dụng của rượu, A sẽ tự tin hơn với ý định đã có từ trước, sự quyết tâm cũng được nâng cao hơn. Trên thực tế, có rất nhiều vụ án xảy ra trong tình trạng say rượu, bia dẫn đến hậu quả khôn lường như các vụ thảm án chết nhiều người, giết người thân khi có mâu thuẫn với nhau trong thời gian dài…

Như vậy, với những trường hợp người phạm tội rõ ràng đã có ý định phạm tội từ trước mà sử dụng rượu, bia trong khi thực hiện hành vi phạm tội thì nên tăng nặng trách nhiệm hình sự. Thực tế, pháp luật một số nước cũng ghi nhận việc tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường hợp này như: Điều 18 (Phạm tội hình sự khi say rượu) của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Albania năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ghi nhận: “Khi say rượu được gây ra với ý định phạm tội, tình tiết này sẽ được xem xét để tăng nặng bản án”; khoản 14 Điều 63 (Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm và hình phạt) của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Armenia cũng ghi nhận “phạm tội dưới ảnh hưởng của rượu, ma tuý hoặc các chất say khác” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị nên ghi nhận việc “phạm tội dưới ảnh hưởng của rượu, bia đối với những người có ý định phạm tội” là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Thứ hai, sự ảnh hưởng của rượu, bia đối với người uống trong một số trường hợp ngẫu nhiên, hoàn toàn không có ý định phạm tội từ trước hoặc trong trường hợp người phạm tội bị lừa dối, ép buộc thì hành vi phạm tội nên được lý giải theo hướng biện minh cho hành vi phạm tội. Tức là, nếu như người phạm tội không dùng rượu, bia trong hoàn cảnh đó thì họ không thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Như vậy, đối với người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý mà chứng minh được nguyên nhân phạm tội xuất phát từ sự hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi do tác dụng của rượu, bia thì nên được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối với trường hợp này, nên được hướng dẫn thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm l khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: “Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra” hoặc xem xét quy định thành một tình tiết giảm nhẹ riêng.

Thứ ba, theo khoản 7 Điều 10 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019, các địa điểm công cộng là nơi không được uống rượu, bia nhằm giảm bớt tác hại của rượu, bia. Hành vi gây rối trật tự công cộng trong tình trạng có sử dụng rượu, bia làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và có nguy cơ tăng mức độ nguy hiểm của hành vi hơn trường hợp bình thường do rượu, bia ảnh hưởng đến khả năng kiềm chế hành vi của người phạm tội. Vì vậy, theo tác giả, ngoài các tội phạm quy định tại Điều 260, Điều 267 và Điều 270 về người phạm tội có sử dụng rượu, bia là tình tiết định khung tăng nặng vì liên quan đến tính chất công việc có khả năng gây nguy hiểm cho nhiều người, nên bổ sung tình tiết người phạm tội trong tình trạng sử dụng rượu, bia vào khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự nhằm tăng mức hình phạt, bảo đảm hiệu quả răn đe người thực hiện hành vi phạm tội này.

Huỳnh Thị Lệ Kha
Khoa Luật, Đại học Thủ Dầu Một



[1]. Bộ Y tế, Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong Dự án Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia, Hà Nội, tháng 11/2016.

[2]. Bia rượu, dưới góc nhìn về an ninh trật tự, http://congan.travinh.gov.vn/ch26/306-Bia-ruou-duoi-goc-nhin-ve-an-ninh-trat-tu.html, truy cập ngày 22/12/2021.

[3]. Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”.

[4]. Tâm thần học, Nxb. “MIR” - Matcova và Nxb. Y học Hà Nội, 1980.

[5]. Đinh Văn Quế, Say rượu bệnh lý có thoát tội?, https://plo.vn/plo/say-ruou-benh-ly-co-thoat-toi-19748.html.

[6]. Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung (Tái bản lần thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, năm 2019, tr. 145.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: