Thứ tư 26/08/2026 01:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân loại các điều kiện được xác lập trong giao dịch dân sự có điều kiện

Tóm tắt: Pháp luật dân sự Việt Nam dựa vào yếu tố điều kiện là sự kiện trong quy định về giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện để phân loại giao dịch dân sự có điều kiện. Nhưng việc phân loại này là chưa đầy đủ và chưa thống nhất giữa các điều luật. Do đó, trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích các loại giao dịch dân sự có điều kiện có thể phát sinh trên thực tế.

Tóm tắt: Pháp luật dân sự Việt Nam dựa vào yếu tố điều kiện là sự kiện trong quy định về giao dịch dân sự có điều kiện và hợp đồng có điều kiện để phân loại giao dịch dân sự có điều kiện. Nhưng việc phân loại này là chưa đầy đủ và chưa thống nhất giữa các điều luật. Do đó, trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích các loại giao dịch dân sự có điều kiện có thể phát sinh trên thực tế.

Abstract: Vietnamese civil law relies upon conditions as events in regulations on conditional civil transactions and conditional contracts in order to classify conditional civil transactions. This classification is, however, incomplete and inconsistent between regulations. Therefore, the author deeply analyzes conditional civil transactions which may arise in the practice.

Giao dịch dân sự có điều kiện xuất hiện từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí và thiện chí, trung thực của các bên thì điều kiện này được các bên xác lập trong giao dịch sẽ ràng buộc trách nhiệm của các bên cao hơn.

1. Phân loại căn cứ vào khái niệm giao dịch dân sự

Khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Giao dịch dân sự có điều kiện được phân loại thành hợp đồng dân sự có điều kiện và hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện.

1.1. Hợp đồng dân sự có điều kiện

Hợp đồng dân sự có điều kiện trước năm 1995 được xác định là khế ước may rủi, là khế ước mà sự thể hiện và hậu quả tuỳ thuộc vào một sự kiện không chắc có xảy ra đến hay không[1]. Từ năm 2005 đến nay thì hợp đồng dân sự có điều kiện được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định[2]. Quy định này xác định hợp đồng dân sự có điều kiện là “hợp đồng có điều kiện”. Như vậy, hợp đồng có điều kiện bao gồm hợp đồng dân sự và các hợp đồng khác có thêm điều kiện trong hợp đồng. Tuy nhiên, quy định này cho thấy, các bên chỉ được quyền thỏa thuận “một sự kiện nhất định” và hạn chế quyền thỏa thuận của các bên. Theo tác giả Phạm Công Lạc thì: “Hợp đồng có điều kiện là những hợp đồng trong đó các bên thỏa thuận về một hoặc nhiều sự kiện là điều kiện mà khi sự kiện đó xảy ra hoặc không xảy ra thì hợp đồng được coi là phát sinh hay chấm dứt hiệu lực”[3]. Điều này có nghĩa là các bên có quyền thỏa thuận không chỉ một sự kiện mà có thể nhiều sự kiện. Do đó, hợp đồng có điều kiện được hiểu là giao dịch phụ thuộc vào điều kiện làm phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc hành động của các bên. Cách hiểu này có sự tương đồng với pháp luật của một số quốc gia. Ví dụ như ở Nga, hợp đồng có điều kiện là một trong các giao dịch được quy định trong pháp luật của Nga, trong đó việc bắt đầu hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết được áp dụng phụ thuộc vào một sự kiện hoặc hành động của các bên ký hợp đồng, nhưng đôi khi cũng là của người thứ ba[4]. Hay theo Luật hợp đồng của Trung Quốc thì hợp đồng có điều kiện là việc đương sự có thể thỏa thuận điều kiện phụ thêm về hiệu lực của hợp đồng. Vì vậy, theo tác giả, không nên đưa ra giới hạn sự kiện được xác lập trong hợp đồng dân sự có điều kiện.

1.2. Hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện

Hành vi đơn phương do ý chí độc nhất của một người mà có[5]. Hành vi pháp lý đơn phương được coi là một trong những căn cứ xác lập quyền dân sự nhưng lại chưa được quy định một cách cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện (ví dụ: Lập di chúc, từ chối việc hưởng di sản…), nhưng cũng có thể do nhiều chủ thể cùng thể hiện ý chí trong giao dịch đó (ví dụ hai cá nhân, hai tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng…). Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra cho người khác. Những người này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch[6]. Hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện chỉ phù hợp với di chúc và được gọi là di chúc có điều kiện. Do vậy, hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện là phụ thuộc vào điều kiện do người xác lập đưa ra cho người khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của bên còn lại trong quan hệ. Nhưng bên còn lại của giao dịch có thể tham gia hoặc không tham gia giao dịch. Điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan hoặc khách quan.

2. Phân loại dựa vào sự kiện được xác lập trong giao dịch dân sự có điều kiện

Bộ luật Dân sự năm 2015 xác nhận có điều kiện phát sinh và điều kiện huỷ bỏ. Nhưng hai điều kiện này chưa được làm rõ và nhiều nhà nghiên cứu còn bày tỏ quan điểm khác nhau với cách phân loại này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, tồn tại ba loại giao dịch dân sự có điều kiện, đó là: Giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, giao dịch dân sự có điều kiện thay đổi, giao dịch dân sự có điều kiện chấm dứt[7].

Quan điểm thứ hai cho rằng, giao dịch dân sự có điều kiện gồm: Giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, giao dịch dân sự có điều kiện thực hiện và giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ[8].

Tác giả ủng hộ cách phân loại thứ hai bởi những lý do sau: Thứ nhất, cách sử dụng thuật ngữ có sự thống nhất giữa “phát sinh” và “hủy bỏ”. Thứ hai, điều kiện thay đổi được hiểu như thế nào thì trong quan điểm thứ nhất chưa làm rõ. Theo tác giả, với điều kiện thay đổi có thể hiểu là điều kiện được xác lập trong giao dịch dân sự có điều kiện là một điều kiện sẽ có sự thay đổi so với ý chí của các bên trong quá trình xác lập. Vì vậy, khi điều kiện thay đổi xảy ra thì điều kiện theo ý chí của các bên không thỏa mãn và như vậy giao dịch dân sự có điều kiện không tồn tại. Đồng nghĩa với việc xác định điều kiện thay đổi sẽ tương đương với điều kiện hủy bỏ giao dịch dân sự có điều kiện.

2.1. Giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh

Giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh hay còn gọi là điều kiện đình chỉ. Điều kiện đình chỉ được hiểu là khi mà chưa chắc chắn là biến cố xảy ra, người ta nói là điều kiện chưa thực hiện[9]. Hay điều kiện đình chỉ còn được hiểu là điều kiện kèm theo sự thi hành nghĩa vụ và sự tồn tại của nghĩa vụ, đó là điều kiện đình chỉ. Ví dụ: A sẽ mua con ngựa của B nếu nó thắng một cuộc đua nào đó[10]. Với cách giải thích theo quan điểm trên, ta thấy rằng, điều kiện phát sinh dựa vào một sự kiện chưa chắc chắn và chưa thực hiện tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự có điều kiện. Nghĩa là hiệu lực của giao dịch dân sự có điều kiện chưa phát sinh và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch chưa thể thực hiện được bởi còn phụ thuộc vào điều kiện phát sinh được thỏa thuận trong giao dịch dân sự có điều kiện. Chỉ khi nào điều kiện phát sinh này xảy ra thì giao dịch mới phát sinh và quyền, nghĩa vụ của các bên sẽ bắt đầu được thực hiện. Ngược lại nếu điều kiện phát sinh không đạt được thì coi như giao dịch chưa xảy ra.

2.1. Giao dịch dân sự có điều kiện thực hiện

Khi điều kiện thực hiện chưa xảy ra, hợp đồng có giá trị pháp lý và ràng buộc các bên như hợp đồng thông thường nhưng bên phải thực hiện không phải (chưa phải) thực hiện. Do đó, chưa thể làm phát sinh hệ quả của việc vi phạm thực hiện hợp đồng[11]. Với điều kiện thực hiện này cần phân biệt với điều kiện là công việc phải thực hiện. Nếu với điều kiện là công việc phải thực hiện thì công việc này luôn gắn liền với các bên trong giao dịch, cụ thể là bên thụ hưởng phải làm công việc mà bên có quyền yêu cầu. Còn với điều kiện thực hiện thì có thể hiểu rằng việc thực hiện này sẽ do bên thứ ba thực hiện. Giả sử như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi rằng nếu bên A làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ nhận được số tiền còn lại. Vậy việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bên A là điều kiện bên A cần thực hiện và để thực hiện sẽ căn cứ vào cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xem xét. Nếu rơi vào trường hợp đất vườn thì không thể xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở được. Và do đó, điều kiện thực hiện này không thoả mãn và coi như giao dịch dân sự có điều kiện thực hiện không tồn tại.

2.2. Giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ

Điều kiện hủy bỏ có nhiều tên gọi khác nhau như điều kiện giải tiêu, điều kiện chấm dứt. Và cũng có nhiều cách giải thích khác nhau về điều kiện này. Điều kiện hủy bỏ hay còn được gọi là điều kiện giải tiêu. Điều kiện này được hiểu là các đương sự thỏa thuận là hành vi pháp lý sẽ mất hiệu lực nếu biến cố dự liệu xảy ra... Ví dụ: Một công chức mua một ngôi nhà để ở với điều kiện giải tiêu nếu bị đuổi đi nơi khác[12]. Một điều kiện khác lại hủy bỏ nghĩa vụ đã được hình thành, đó là điều kiện hủy bỏ. Ví dụ: A mua con ngựa của B, nhưng việc mua bán sẽ bị hủy bỏ nếu nó không thắng một cuộc đua nào[13]. Hay giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ là khi điều kiện này xảy ra thì giao dịch đang tồn tại hợp pháp coi như không còn tồn tại nữa do bị triệt tiêu. Do đó, hợp đồng bị hủy bỏ nên áp dụng cơ chế của hợp đồng bị hủy bỏ. Trên thực tế, việc xác định bản chất của điều kiện lại không đơn giản[14]. Vì vậy, giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ là trường hợp ngược lại của giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh. Có nghĩa là giao dịch dân sự có điều kiện đã phát sinh hiệu lực và các bên thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó theo thời hạn đã được xác định. Tuy nhiên, nếu điều kiện hủy bỏ được xác định trong giao dịch xảy ra thì hợp đồng đang được thực hiện sẽ bị chấm dứt và quyền, nghĩa vụ của các bên sẽ bị xoá bỏ.

3. Phân loại dựa vào đối tượng là công việc - điều kiện của giao dịch dân sự có điều kiện

Điều 281 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ về nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc nhất định. Trên cơ sở điều luật trên, tác giả nhận thấy, giao dịch dân sự có điều kiện có thể phân loại thành giao dịch dân sự có công việc phải thực hiện và giao dịch dân sự có công việc không được thực hiện.

3.1. Giao dịch dân sự có điều kiện là công việc phải thực hiện

Giao dịch dân sự có điều kiện là công việc phải thực hiện nghĩa là trong giao dịch có quy định về một công việc mà bên thụ hưởng phải làm thì bên có quyền sẽ trao lợi ích. Thông thường, những giao dịch dân sự có điều kiện là công việc phải thực hiện thường được ghi nhận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hoặc trong chúc thư thì thường người lập di chúc để lại điều kiện như chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng yêu cầu người hưởng di sản phải chăm lo, chăm sóc cho một ai đó hoặc cải tạo vườn ao... Tuy nhiên, công việc được thực hiện cũng cần phải xem xét phù hợp chứ không nên chỉ dựa vào quyền tự do ý chí của bên có quyền. Bởi có thể công việc được đưa ra vượt quá khả năng của bên thụ hưởng. Ví dụ như cho hưởng 10 triệu nhưng phải trả nợ 20 triệu thì điều kiện này đưa ra không đảm bảo lợi ích cho bên thụ hưởng. Vì vậy, trường hợp điều kiện là một công việc phải thực hiện thì công việc phải khả thi (tức có thể thực hiện được), nằm trong khả năng của người thụ hưởng và không ảnh hưởng tới lợi ích của người thụ hưởng.

3.2. Giao dịch dân sự có điều kiện là công việc không được thực hiện

Giao dịch dân sự có điều kiện là công việc không được thực hiện nghĩa là trong giao dịch có quy định về việc không được thực hiện một công việc và bên có quyền trao lợi ích cho bên thụ hưởng nếu bên thụ hưởng không làm việc đó. Giả sử như chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không được bán, bán ô tô nhưng không được đi cầm cố, thế chấp. Đối với điều kiện là công việc không được thực hiện sẽ căn cứ vào việc không hành động của bên thụ hưởng trong thời gian được hưởng tài sản. Ví dụ, B chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất cho A với điều kiện A không được làm hàng rào quanh nhà. Trong trường hợp A không hành động làm hàng rào thì A sẽ được quyền sử dụng mảnh đất đó. Chỉ khi A hành động làm hàng rào thì quyền sử dụng mảnh đất trên sẽ chấm dứt. Nhưng để xem xét hành vi không hành động của bên thụ hưởng còn cần dựa trên cơ sở có người làm chứng hoặc có chứng cứ chứng minh. Đối với trường hợp này thì giới hạn của điều kiện là công việc không được thực hiện không cần đặt ra, bởi việc này phụ thuộc vào quyền lựa chọn của bên thụ hưởng.

4. Phân loại dựa vào thời điểm xảy ra điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện

Đối với cách phân loại này để xác định trực tiếp trong văn bản pháp luật sẽ rất khó. Thông qua khoản 1 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”. Cách phân loại này không chỉ áp dụng cho tặng cho tài sản như quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Bởi với cách phân loại này thì trong những hợp đồng thương mại cũng thường được quy định như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng góp vốn. Do đó, theo tác giả cần bổ sung phân loại dựa vào thời điểm điều kiện xảy ra trong giao dịch dân sự có điều kiện.

4.1. Giao dịch dân sự có điều kiện xảy ra trước

Đối với giao dịch dân sự có điều kiện xảy ra trước được hiểu là phải thực hiện nghĩa vụ trước khi chuyển giao quyền. Theo Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra trước có hiệu lực khi điều kiện đó được hoàn hành”[15]. Nếu bên có nghĩa vụ đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên có quyền không giao tài sản thì phải thanh toán nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện. Vì vậy, với giao dịch dân sự có điều kiện xảy ra trước sẽ làm cho giao dịch này chưa phát sinh hiệu lực. Trường hợp bên có nghĩa vụ đã hoàn thành điều kiện thì bên có quyền không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó có thể thanh toán nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện.

4.2. Giao dịch dân sự có điều kiện xảy ra sau

Ngược lại với điều kiện xảy ra trước thì điều kiện xảy ra sau nghĩa là các bên đã đưa ra những sự kiện có khả năng xảy ra trong tương lai gần và các bên chuyển giao quyền cho nhau trước khi sự kiện đó xảy ra. Theo Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra sau sẽ hết hiệu lực khi điều kiện đó được hoàn thành”[16]. Giả sử như A bán cho B một xe máy với điều kiện rằng sau khi nhận, B sử dụng và không được bán xe máy. Để nhận được tài sản thì bên có nghĩa vụ phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện điều kiện đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên có quyền.

5. Kết luận

Dựa trên những cách xác định và phân loại giao dịch dân sự có điều kiện nêu trên, tác giả thấy rằng, Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có quy định thống nhất điều kiện được xác lập trong giao dịch dân sự có điều kiện. Thứ nhất, chưa có quy định hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện (như di chúc có điều kiện) trong khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện. Thứ hai, chưa quy định thống nhất giữa các điều kiện phát sinh, hủy bỏ trong giao dịch dân sự có điều kiện (quy định chung) với điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt trong hợp đồng có điều kiện (quy định riêng biệt). Vì vậy, dựa trên cách phân loại các điều kiện được xác lập trong giao dịch dân sự có điều kiện, tác giả đưa ra một số định hướng với giao dịch dân sự có điều kiện như sau:

Một là, giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu là việc bắt đầu hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết được áp dụng phụ thuộc vào một sự kiện hoặc hành động của các bên ký hợp đồng, nhưng đôi khi cũng là của người thứ ba.

Hai là, các bên có quyền đưa ra một hoặc nhiều điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện.

Bà là, điều kiện được xác định trong giao dịch dân sự có điều kiện là điều kiện hợp pháp hoặc điều kiện không trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội. Trường hợp trái pháp luật hoặc trái trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội thì giao dịch dân sự có điều kiện bị vô hiệu.

Bốn là, quy định cụ thể, rõ ràng và sử dụng thống nhất điều kiện phát sinh, điều kiện thực hiện và điều kiện hủy bỏ trong giao dịch dân sự có điều kiện.

ThS. Phùng Bích Ngọc

Đại học Thương mại Hà Nội



[1]. Điều thứ 658, Dân Luật Sài Gòn năm 1973.

[2]. Khoản 6 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. ThS. Phạm Công Lạc, Về điều kiện trong các hợp đồng có điều kiện, Tạp chí Luật học, số 01/1995, trang 29 - 32.

[4]. Vladimir Orlov, Introduction to Business Law in Russia, năm 2011.

[5]. TS. Nguyễn Quang Quỳnh, Dân luật, quyển 1, năm 1967, trang 118.

[6]. PGS.TS. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2008, trang 282.

[7]. ThS. Phạm Công Lạc, Góp ý dự thảo Bộ luật dân sự về giao dịch dân sự có điều kiện, Tạp chí Luật học, số 02/1995, trang 52 - 53.

[8]. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Sách chuyên khảo: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2010.

[9]. TS. Nguyễn Quang Quỳnh, tlđd, trang 125.

[10]. TS. Nguyễn Mạnh Bách, Pháp luật về hợp đồng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 1995, trang 148 - 149.

[11]. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, tlđd.

[12]. TS. Nguyễn Quang Quỳnh, tlđd, trang 125.

[13]. TS. Nguyễn Mạnh Bách, tlđd, trang 148 - 149.

[14]. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, tlđd.

[15]. Điều 145 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan.

[16]. Điều 145 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: