Thứ năm 30/04/2026 20:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật lao động về thời giờ làm thêm - Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị

- Số giờ làm thêm: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về thời giờ làm thêm
- Số giờ làm thêm: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động. Số giờ làm thêm của người lao động (NLĐ) được đảm bảo không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm. Một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm (đó là các trường hợp: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại địa phương nơi sử dụng người lao động làm thêm giờ.

Thực tế, so với các quốc gia trong khu vực, thì số giờ làm thêm tối đa của NLĐ Việt Nam hiện ở mức thấp (giờ làm thêm tối đa ở Indonesia là 56 giờ/tháng, Singapore là 72 giờ/tháng, Malaysia là 104 giờ/tháng, Thái Lan là 36 giờ/tuần). Tuy nhiên, việc so sánh này phải gắn với quy định thời giờ làm việc ở Việt Nam (tối đa 48 giờ/tuần). Theo tính toán của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nếu cộng thêm với thời giờ làm thêm (là 400 giờ/năm), thì tổng quỹ thời gian làm việc trung bình của NLĐ Việt Nam có thể lên đến 2.720 giờ/năm. Trong khi đó, ở Hàn Quốc quy định số giờ làm thêm là 624 giờ/năm, còn tại Trung Quốc là 432 giờ/năm. Tuy nhiên, cộng cả giờ làm chính thức và giờ làm thêm tối đa theo quy định thì quỹ thời gian làm việc của NLĐ ở các nước này đều thấp hơn tại Việt Nam[1]. Như vậy, có thể nói thực chất quỹ thời gian làm việc của NLĐ Việt Nam đang ở mức cao.

- Quyền lợi của người lao động khi làm thêm giờ: Theo khảo sát của ILO, năm 2012, trong 162 nước có 18 nước không quy định mức lương thời giờ làm thêm; trong số 144 nước quy định về mức lương làm thêm giờ trong ngày, có 24 nước quy định số giờ làm thêm ít nhất tăng thêm 20% lương làm việc trong ngày; 41 nước quy định mức lương thời gian làm thêm ít nhất tăng thêm từ 25 - 40% so với thời gian trong ngày; 71 nước quy định mức lương thời gian làm thêm trong ngày ít nhất tăng thêm 50% thời gian ngày; 08 nước quy định mức lương tăng thêm thời gian làm thêm bằng từ 75 - 100% so với thời gian làm việc bình thường trong ngày (bao gồm Tunisia, Bangladesh, Romania, Bolivia, El Salvado, Mexico, Nicargua, Uruguay)[2]. Việt Nam nằm trong nhóm 71 nước có quy định thời gian làm thêm giờ mức lương trả cao hơn ít nhất 50%.

- Theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2012, mức tiền lương làm thêm giờ phụ thuộc vào thời điểm NLĐ được huy động làm thêm. Cụ thể:

+ NLĐ hưởng lương theo thời gian được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do NSDLĐ quy định (Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2012). Tiền lương làm thêm được được tính bằng tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường nhân mức ít nhất 150%, 200% hoặc 300% nhân với số giờ làm thêm.

+ Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc theo định mức lao động đã thỏa thuận.

Theo đó, tiền lương làm thêm giờ được tính bằng đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường nhân mức ít nhất 150%, 200% hoặc 300% nhân với số sản phẩm làm thêm.

- Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

+ Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = (Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%) + (Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30%) + (20% x Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số giờ làm thêm vào ban đêm).

+ Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = (Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%) + (Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30%) + (20% x Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số sản phẩm làm thêm vào ban đêm).

- Làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt: Theo Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, khi huy động làm thêm giờ, NSDLĐ phải thỏa thuận với NLĐ. Nếu NLĐ đồng ý, NSDLĐ mới được phép huy động NLĐ làm thêm giờ. Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ, thể hiện sự tôn trọng ý chí của NLĐ và sự nỗ lực của pháp luật trong việc cân bằng vị thế của NLĐ và NSDLĐ. Mặt khác, quy định này cũng hạn chế tình trạng lao động cưỡng bức. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, NSDLĐ được thực hiện quyền đơn phương huy động người lao động làm thêm giờ bất cứ ngày nào mà NLĐ không được quyền từ chối, đó là các trường hợp quy định tại Điều 107.

2. Một số kiến nghị

2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về thời giờ làm thêm trên cơ sở tương thích với các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và pháp luật các quốc gia khác trong khu vực

Thứ nhất, quy định thời giờ làm thêm giới hạn theo ngày, tháng, năm nhưng có sự linh hoạt. Cụ thể: (i) Giữ nguyên mức giới hạn về số giờ làm thêm theo năm. Tính cả thời gian làm việc chính thức và thời gian làm thêm giờ của NLĐ như hiện nay thì Việt Nam có số giờ làm việc vào diện cao nhất trên thế giới; bên cạnh đó, muốn tăng số giờ làm thêm lên thì một phương án được đề ra là số giờ làm việc tiêu chuẩn hiện nay (08 giờ/ngày) phải giảm xuống, tuy nhiên, phương án này trong thực tế là thiếu khả thi hơn so với việc giữ nguyên số giờ làm thêm ở mức thấp như hiện nay. (ii) Quy định giới hạn làm thêm giờ không quá 30 giờ/tháng, trong một số trường hợp nhằm phù hợp với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể vượt quá 30 giờ nhưng tổng số thời gian làm thêm giờ trong 01 năm của NLĐ không được vượt quá 200 giờ và 300 giờ trong một số trường hợp Chính phủ quy định. Không thể bỏ quy định giới hạn số giờ làm thêm theo tháng, vì khi không có quy định này sẽ dẫn đến trường hợp NSDLĐ huy động NLĐ làm thêm liên tục trong nhiều ngày liền cho đến khi chạm mức trần giới hạn số giờ làm thêm theo năm, ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khỏe của NLĐ. Tuy nhiên, cũng không thể cứng nhắc số giờ làm thêm không quá 30 giờ/tháng vì trên thực tiễn, quy định như vậy không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay. Cũng cần phải quy định cụ thể những trường hợp được tăng số giờ làm thêm của NLĐ vượt ngưỡng 30 giờ/tháng để tránh việc NSDLĐ lợi dụng lý do này huy động NLĐ làm thêm giờ. (iii) Quy định số giờ làm thêm xác định theo ngày, ấn định bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 02 giờ/ngày. Đây là phương án nhóm tác giả nhận được sự tán thành đông đảo nhất từ phía NLĐ khi tiến hành khảo sát. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, thì thời giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày. Như vậy, tối đa NLĐ có thể phải làm việc liên tục 12 giờ/ngày cộng với trường hợp NLĐ được huy động làm thêm giờ nhiều ngày liên tục thì khả năng suy giảm sức khỏe, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp, xảy ra tai nạn lao động là rất cao. Thêm vào đó, xét về cơ sở sinh học, khoảng thời gian tối đa 02 giờ làm thêm trong một ngày, cộng với số giờ làm việc bình thường là 08 giờ phù hợp với thời gian hoạt động hiệu quả của cơ thể, đảm bảo an toàn về sức khỏe cho NLĐ, đảm bảo thời gian phục hồi và tái tạo sức lao động của NLĐ.

Thứ hai, bổ sung các quy định nhằm hạn chế tác động bất lợi của làm thêm giờ. Cụ thể: (i) Bổ sung thời gian nghỉ giữa giờ trong thời gian làm thêm (phải là thời gian nghỉ ngơi bắt buộc, không cho làm việc để tính là giờ làm thêm), thời gian nghỉ giữa 02 ca làm việc liền kề, sau một số ngày làm thêm liên tục; quy định giới hạn số ngày trong tuần, số tháng trong năm được làm thêm liên tục; (ii) Chỉ cho phép một số ngành nghề đặc thù, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định mới cho làm thêm quá 300 giờ như: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất...; (iii) Bổ sung, sửa đổi quy định nhằm tăng cường chia sẻ lợi ích kinh tế, trách nhiệm xã hội như: Tăng cường khám sức khỏe tại nơi làm việc, tăng lương tương ứng theo số giờ làm thêm tích kũy trong năm; ưu tiên NSDLĐ thực hiện tốt điều kiện phúc lợi xã hội (nơi nghỉ ngơi, giải trí, nhà trẻ, trường học…), sử dụng lao động nữ sau độ tuổi 35...; (iv) Pháp luật lao động hiện nay chỉ hạn chế NSDLĐ thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không hạn chế NLĐ ký nhiều hợp đồng lao động với nhiều NSDLĐ (tức là làm thêm giờ không hạn chế với NLĐ làm việc cho nhiều người). Vì vậy, nếu cho rằng hạn chế làm thêm là để bảo vệ sức khỏe NLĐ thì cũng phải hạn chế cả việc NLĐ ký nhiều hợp đồng nếu đã làm đủ 08 giờ/ngày; (v) Cần thiết bổ sung quy định thời hạn báo trước ít nhất 12 giờ khi huy động người lao động làm thêm giờ (trừ trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, sự cố) để người lao động chủ động bố trí thời gian cho công việc gia đình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ trong hoạt động báo trước; (vi) Để hạn chế tình trạng làm thêm giờ tràn lan và tạo điều kiện cho những người chưa có việc làm kiếm được việc làm, Nhà nước cần có một số quy định cấm doanh nghiệp áp dụng việc làm thêm trong một số trường hợp đặc biệt (ví dụ như trong trường hợp tình trạng thất nghiệp gia tăng) và yêu cầu tăng cường tuyển dụng nhằm tạo điều kiện kiếm việc làm cho những người đang thất nghiệp.

2.2. Nâng cao hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về làm thêm giờ

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về làm thêm giờ, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời giờ thêm thông qua các kênh thông tin đại chúng, các hoạt động phổ biến pháp luật tới người lao động nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật lao động, giúp người lao động biết và có thể đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Đồng thời, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể liên quan, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về lao động và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc nói chung và quy định của pháp luật về làm thêm giờ nói riêng.

Tăng cường hiệu quả giám sát, bảo vệ quyền lợi người lao động, xử lý các hành vi vi phạm như: Quy định phương thức thỏa thuận, tham khảo ý kiến của công đoàn cơ sở, đăng ký hoặc khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động... Tổ chức đại diện của NLĐ, nhất là tổ chức đại diện của NLĐ ở cơ sở phải thực sự quyết liệt trong việc đấu tranh bảo vệ NLĐ trong trường hợp NSDLĐ vi phạm quy định về thời giờ làm thêm, xâm phạm tới quyền lợi của NLĐ. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nói chung và thời giờ làm thêm nói riêng.

Hoàng Minh Anh

Bùi Đan Linh

Sinh viên Khóa 41, Đại học Luật Hà Nội



[1]. Bùi Đức Nhưỡng, “Một số giải pháp hoàn thiện quy định về làm thêm giờ và thời giờ nghỉ ngơi trong ngày làm việc”, Trang thông tin Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, Tạp chí An toàn vệ sinh lao động số 04/2018, đăng tải ngày 22/5/2018, tham khảo: http://vnniosh.vn/Details/id/7881/Mot-so-giai-phap-hoan-thien-quy-dinh-ve-lam-them-gio-va-thoi-gio-nghi-ngoi-trong-ngay-lam-viec.

[2]. Working Conditions Law Report 2012 - A global review.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: