Chủ nhật 09/08/2026 20:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật lao động về thời giờ làm thêm - Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị

- Số giờ làm thêm: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về thời giờ làm thêm
- Số giờ làm thêm: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động. Số giờ làm thêm của người lao động (NLĐ) được đảm bảo không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm. Một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm (đó là các trường hợp: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại địa phương nơi sử dụng người lao động làm thêm giờ.

Thực tế, so với các quốc gia trong khu vực, thì số giờ làm thêm tối đa của NLĐ Việt Nam hiện ở mức thấp (giờ làm thêm tối đa ở Indonesia là 56 giờ/tháng, Singapore là 72 giờ/tháng, Malaysia là 104 giờ/tháng, Thái Lan là 36 giờ/tuần). Tuy nhiên, việc so sánh này phải gắn với quy định thời giờ làm việc ở Việt Nam (tối đa 48 giờ/tuần). Theo tính toán của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nếu cộng thêm với thời giờ làm thêm (là 400 giờ/năm), thì tổng quỹ thời gian làm việc trung bình của NLĐ Việt Nam có thể lên đến 2.720 giờ/năm. Trong khi đó, ở Hàn Quốc quy định số giờ làm thêm là 624 giờ/năm, còn tại Trung Quốc là 432 giờ/năm. Tuy nhiên, cộng cả giờ làm chính thức và giờ làm thêm tối đa theo quy định thì quỹ thời gian làm việc của NLĐ ở các nước này đều thấp hơn tại Việt Nam[1]. Như vậy, có thể nói thực chất quỹ thời gian làm việc của NLĐ Việt Nam đang ở mức cao.

- Quyền lợi của người lao động khi làm thêm giờ: Theo khảo sát của ILO, năm 2012, trong 162 nước có 18 nước không quy định mức lương thời giờ làm thêm; trong số 144 nước quy định về mức lương làm thêm giờ trong ngày, có 24 nước quy định số giờ làm thêm ít nhất tăng thêm 20% lương làm việc trong ngày; 41 nước quy định mức lương thời gian làm thêm ít nhất tăng thêm từ 25 - 40% so với thời gian trong ngày; 71 nước quy định mức lương thời gian làm thêm trong ngày ít nhất tăng thêm 50% thời gian ngày; 08 nước quy định mức lương tăng thêm thời gian làm thêm bằng từ 75 - 100% so với thời gian làm việc bình thường trong ngày (bao gồm Tunisia, Bangladesh, Romania, Bolivia, El Salvado, Mexico, Nicargua, Uruguay)[2]. Việt Nam nằm trong nhóm 71 nước có quy định thời gian làm thêm giờ mức lương trả cao hơn ít nhất 50%.

- Theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2012, mức tiền lương làm thêm giờ phụ thuộc vào thời điểm NLĐ được huy động làm thêm. Cụ thể:

+ NLĐ hưởng lương theo thời gian được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do NSDLĐ quy định (Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2012). Tiền lương làm thêm được được tính bằng tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường nhân mức ít nhất 150%, 200% hoặc 300% nhân với số giờ làm thêm.

+ Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc theo định mức lao động đã thỏa thuận.

Theo đó, tiền lương làm thêm giờ được tính bằng đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường nhân mức ít nhất 150%, 200% hoặc 300% nhân với số sản phẩm làm thêm.

- Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

+ Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = (Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%) + (Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30%) + (20% x Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số giờ làm thêm vào ban đêm).

+ Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = (Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%) + (Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30%) + (20% x Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số sản phẩm làm thêm vào ban đêm).

- Làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt: Theo Điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012, khi huy động làm thêm giờ, NSDLĐ phải thỏa thuận với NLĐ. Nếu NLĐ đồng ý, NSDLĐ mới được phép huy động NLĐ làm thêm giờ. Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ, thể hiện sự tôn trọng ý chí của NLĐ và sự nỗ lực của pháp luật trong việc cân bằng vị thế của NLĐ và NSDLĐ. Mặt khác, quy định này cũng hạn chế tình trạng lao động cưỡng bức. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, NSDLĐ được thực hiện quyền đơn phương huy động người lao động làm thêm giờ bất cứ ngày nào mà NLĐ không được quyền từ chối, đó là các trường hợp quy định tại Điều 107.

2. Một số kiến nghị

2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về thời giờ làm thêm trên cơ sở tương thích với các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và pháp luật các quốc gia khác trong khu vực

Thứ nhất, quy định thời giờ làm thêm giới hạn theo ngày, tháng, năm nhưng có sự linh hoạt. Cụ thể: (i) Giữ nguyên mức giới hạn về số giờ làm thêm theo năm. Tính cả thời gian làm việc chính thức và thời gian làm thêm giờ của NLĐ như hiện nay thì Việt Nam có số giờ làm việc vào diện cao nhất trên thế giới; bên cạnh đó, muốn tăng số giờ làm thêm lên thì một phương án được đề ra là số giờ làm việc tiêu chuẩn hiện nay (08 giờ/ngày) phải giảm xuống, tuy nhiên, phương án này trong thực tế là thiếu khả thi hơn so với việc giữ nguyên số giờ làm thêm ở mức thấp như hiện nay. (ii) Quy định giới hạn làm thêm giờ không quá 30 giờ/tháng, trong một số trường hợp nhằm phù hợp với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể vượt quá 30 giờ nhưng tổng số thời gian làm thêm giờ trong 01 năm của NLĐ không được vượt quá 200 giờ và 300 giờ trong một số trường hợp Chính phủ quy định. Không thể bỏ quy định giới hạn số giờ làm thêm theo tháng, vì khi không có quy định này sẽ dẫn đến trường hợp NSDLĐ huy động NLĐ làm thêm liên tục trong nhiều ngày liền cho đến khi chạm mức trần giới hạn số giờ làm thêm theo năm, ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khỏe của NLĐ. Tuy nhiên, cũng không thể cứng nhắc số giờ làm thêm không quá 30 giờ/tháng vì trên thực tiễn, quy định như vậy không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay. Cũng cần phải quy định cụ thể những trường hợp được tăng số giờ làm thêm của NLĐ vượt ngưỡng 30 giờ/tháng để tránh việc NSDLĐ lợi dụng lý do này huy động NLĐ làm thêm giờ. (iii) Quy định số giờ làm thêm xác định theo ngày, ấn định bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 02 giờ/ngày. Đây là phương án nhóm tác giả nhận được sự tán thành đông đảo nhất từ phía NLĐ khi tiến hành khảo sát. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, thì thời giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày. Như vậy, tối đa NLĐ có thể phải làm việc liên tục 12 giờ/ngày cộng với trường hợp NLĐ được huy động làm thêm giờ nhiều ngày liên tục thì khả năng suy giảm sức khỏe, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp, xảy ra tai nạn lao động là rất cao. Thêm vào đó, xét về cơ sở sinh học, khoảng thời gian tối đa 02 giờ làm thêm trong một ngày, cộng với số giờ làm việc bình thường là 08 giờ phù hợp với thời gian hoạt động hiệu quả của cơ thể, đảm bảo an toàn về sức khỏe cho NLĐ, đảm bảo thời gian phục hồi và tái tạo sức lao động của NLĐ.

Thứ hai, bổ sung các quy định nhằm hạn chế tác động bất lợi của làm thêm giờ. Cụ thể: (i) Bổ sung thời gian nghỉ giữa giờ trong thời gian làm thêm (phải là thời gian nghỉ ngơi bắt buộc, không cho làm việc để tính là giờ làm thêm), thời gian nghỉ giữa 02 ca làm việc liền kề, sau một số ngày làm thêm liên tục; quy định giới hạn số ngày trong tuần, số tháng trong năm được làm thêm liên tục; (ii) Chỉ cho phép một số ngành nghề đặc thù, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định mới cho làm thêm quá 300 giờ như: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất...; (iii) Bổ sung, sửa đổi quy định nhằm tăng cường chia sẻ lợi ích kinh tế, trách nhiệm xã hội như: Tăng cường khám sức khỏe tại nơi làm việc, tăng lương tương ứng theo số giờ làm thêm tích kũy trong năm; ưu tiên NSDLĐ thực hiện tốt điều kiện phúc lợi xã hội (nơi nghỉ ngơi, giải trí, nhà trẻ, trường học…), sử dụng lao động nữ sau độ tuổi 35...; (iv) Pháp luật lao động hiện nay chỉ hạn chế NSDLĐ thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không hạn chế NLĐ ký nhiều hợp đồng lao động với nhiều NSDLĐ (tức là làm thêm giờ không hạn chế với NLĐ làm việc cho nhiều người). Vì vậy, nếu cho rằng hạn chế làm thêm là để bảo vệ sức khỏe NLĐ thì cũng phải hạn chế cả việc NLĐ ký nhiều hợp đồng nếu đã làm đủ 08 giờ/ngày; (v) Cần thiết bổ sung quy định thời hạn báo trước ít nhất 12 giờ khi huy động người lao động làm thêm giờ (trừ trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, sự cố) để người lao động chủ động bố trí thời gian cho công việc gia đình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ trong hoạt động báo trước; (vi) Để hạn chế tình trạng làm thêm giờ tràn lan và tạo điều kiện cho những người chưa có việc làm kiếm được việc làm, Nhà nước cần có một số quy định cấm doanh nghiệp áp dụng việc làm thêm trong một số trường hợp đặc biệt (ví dụ như trong trường hợp tình trạng thất nghiệp gia tăng) và yêu cầu tăng cường tuyển dụng nhằm tạo điều kiện kiếm việc làm cho những người đang thất nghiệp.

2.2. Nâng cao hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về làm thêm giờ

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về làm thêm giờ, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời giờ thêm thông qua các kênh thông tin đại chúng, các hoạt động phổ biến pháp luật tới người lao động nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật lao động, giúp người lao động biết và có thể đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Đồng thời, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể liên quan, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về lao động và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc nói chung và quy định của pháp luật về làm thêm giờ nói riêng.

Tăng cường hiệu quả giám sát, bảo vệ quyền lợi người lao động, xử lý các hành vi vi phạm như: Quy định phương thức thỏa thuận, tham khảo ý kiến của công đoàn cơ sở, đăng ký hoặc khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động... Tổ chức đại diện của NLĐ, nhất là tổ chức đại diện của NLĐ ở cơ sở phải thực sự quyết liệt trong việc đấu tranh bảo vệ NLĐ trong trường hợp NSDLĐ vi phạm quy định về thời giờ làm thêm, xâm phạm tới quyền lợi của NLĐ. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nói chung và thời giờ làm thêm nói riêng.

Hoàng Minh Anh

Bùi Đan Linh

Sinh viên Khóa 41, Đại học Luật Hà Nội



[1]. Bùi Đức Nhưỡng, “Một số giải pháp hoàn thiện quy định về làm thêm giờ và thời giờ nghỉ ngơi trong ngày làm việc”, Trang thông tin Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, Tạp chí An toàn vệ sinh lao động số 04/2018, đăng tải ngày 22/5/2018, tham khảo: http://vnniosh.vn/Details/id/7881/Mot-so-giai-phap-hoan-thien-quy-dinh-ve-lam-them-gio-va-thoi-gio-nghi-ngoi-trong-ngay-lam-viec.

[2]. Working Conditions Law Report 2012 - A global review.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: