Thứ hai 24/08/2026 15:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích pháp luật hiện hành về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Theo tác giả, pháp luật về vấn đề này cần tiệm cận hơn với pháp luật của các nước phát triển. Đồng thời, để thực thi có hiệu quả pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại cần có sự chủ động từ phía cơ quan quản lý nhà nước và cả doanh nghiệp.

1. Khái quát chung về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại

Biện pháp tự vệ là một trong ba bộ phận cấu thành của biện pháp phòng vệ thương mại (bên cạnh biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp). Theo đó, phòng vệ thương mại là các công cụ được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho phép các thành viên sử dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước tình trạng nhập khẩu gia tăng gây thiệt hại cho sản xuất trong nước[1]. Khác với hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, biện pháp tự vệ thường được coi như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu. Biện pháp tự vệ có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp. Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại[2].

Trong hoạt động thương mại toàn cầu, tình trạng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (trong đó có biện pháp tự vệ) thường xuyên xảy ra. Đây là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ một quốc gia nào đó. Để tránh trường hợp đó xảy ra, pháp luật đã có những quy định về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

Lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại là một trong những hành vi trốn tránh việc thực thi phòng vệ thương mại. Do đó, có thể hiểu, lẩn tránh tự vệ thương mại là hành vi của chủ thể đáng ra bị áp dụng các biện pháp hạn chế hàng hóa vào thị trường của quốc gia sở tại do hàng hóa đó có: (i) Hàng hóa liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng; (ii) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa đó bị thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nói trên. Tuy nhiên, chủ thể này lại tìm cách trốn tránh việc áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu của quốc gia sở tại thông qua các hành vi nhất định. Như vậy, lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại là hành vi thay đổi nguồn gốc hoặc loại hàng hóa để tránh biện pháp phòng vệ thương mại đang áp dụng, từ đó, làm giảm hiệu quả các biện pháp này.

Chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại được hiểu là các biện pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chống lại, đối kháng lại hành vi lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp tự vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ một quốc gia như: Áp dụng thuế tự vệ; áp dụng hạn ngạch nhập khẩu; áp dụng hạn ngạch thuế quan; cấp giấy phép nhập khẩu; các biện pháp tự vệ khác.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại

Hiện nay, pháp luật về phòng vệ thương mại các quốc gia đều nhấn mạnh rằng, khi tiến hành biện pháp tự vệ, mục tiêu của Chính phủ phải nhằm thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu và khuyến khích chứ không hạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Để đạt được mục đích đó, các biện pháp tự vệ chỉ áp dụng trong giai đoạn tạm thời để ngành sản xuất bị tác động tiến hành như những bước tự điều chỉnh đối với sự cạnh tranh phát sinh sau khi hủy bỏ các biện pháp ấy. Việc điều chỉnh diễn ra dưới dạng áp dụng công nghệ mới hoặc hợp lý hóa cơ cấu sản xuất. Các biện pháp tự vệ sẽ chỉ áp dụng ở mức độ cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh và trên cơ sở không phân biệt đối xử với nhập khẩu từ mọi nguồn. Các hành động tự vệ được tiến hành như tăng thuế hay hạn chế định lượng nhập khẩu sẽ do cơ quan điều tra quyết định. Khi sử dụng những hạn chế về định lượng thì hạn ngạch có thể phân bổ giữa các nước cung cấp. Trong trường hợp này, từng hạn ngạch riêng được phân bổ có tham khảo ý kiến các nước cung cấp, trên cơ sở phần nhập khẩu của họ trong thời kỳ tiêu biểu trước đây. Trong việc phân bổ từng phần dựa trên cơ sở này, cũng sẽ xem xét thỏa đáng lợi ích của các nhà cung cấp mới. Trong trường hợp ngoại lệ, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO (GATT) cho phép các nước thành viên, xuất phát từ quy tắc không phân biệt đối xử và chỉ áp dụng hạn chế hạn ngạch với một hay nhiều nước khi nhập khẩu từ nước này tăng tỷ lệ phần trăm mất cân đối với tổng số tăng nhập khẩu của sản phẩm liên quan trong thời kỳ tiêu biểu. Để bảo đảm những hành động này chỉ tiến hành trong trường hợp ngoại lệ, Hiệp định GATT quy định những hành động này được tiến hành sau khi đã tham khảo ý kiến và được Ủy ban tự vệ phê duyệt.

Ở Việt Nam, pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ được quy định tại Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại (Nghị định số 10/2018/NĐ-CP) và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo khoản 1 Điều 72 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (trong đó có biện pháp tự vệ) được hiểu là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam. Đây là một định nghĩa tương đối rộng, tạo điều kiện cho Việt Nam có thể dễ dàng khởi xướng, điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại trên thực tế. Quy định này của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 cũng cho thấy sự quan tâm của Nhà nước khi hướng đến hàng hóa nhập khẩu phải đi vào lãnh thổ của Việt Nam thì mới xem xét có hay không có hiện tượng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và biện pháp tự vệ nói riêng[3]. Những hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại được quy định cụ thể tại Điều 73 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP. Trong số toàn bộ các loại hàng hóa được Điều 73 Nghị định này liệt kê đối với hành vi mở rộng phạm vi áp dụng phòng vệ thương mại, có thể thấy, tiêu chí mà pháp luật Việt Nam quan tâm chính là nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia đang bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của hàng hóa đó hoặc hàng hóa nhập khẩu không có sự khác biệt đáng kể với hàng hóa đó nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam; hoặc thành phần để sản xuất ra hàng hóa nhập khẩu đó hay thành phần để sản xuất ra hàng hóa nhập khẩu tương tự với hàng hóa đó có nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia đang bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại (trong đó có biện pháp tự vệ thương mại)[4].

Có thể nhận thấy, vấn đề chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại đã được quy định khá đầy đủ trong Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 và các văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành chế định này còn có những hạn chế, bất cập nhất định:

- Nội dung các hành vi lẩn tránh quy định tại các điều 74, 76, 77 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP chưa bao gồm cả hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại như pháp luật của nhiều nước phát triển;

- Pháp luật chưa quy định cụ thể các hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại của hai loại hàng hóa: (i) Hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được chuyển tải thông qua nước thứ ba; (ii) Hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được thay đổi hình thức kinh doanh và kênh phân phối để hưởng lợi từ mức áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại thấp hơn mức đang áp dụng;

- Pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam quy định một thời hạn điều tra chung cho các hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại là chưa thực sự phù hợp bởi mỗi hành vi có phạm vi nội dung, mức độ rộng hẹp khác nhau;

- Chưa có sự đồng bộ trong việc quy định về cơ quan có thẩm quyền điều tra lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại: Thẩm quyền được giao cho Cục Phòng vệ thương mại theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 37/2019/TT-BCT ngày 29/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại (Thông tư số 37/2019/TT-BCT); khoản 3 Điều 72 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định: “Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại căn cứ vào yêu cầu của đại diện ngành sản xuất trong nước hoặc các thông tin mà cơ quan điều tra có được”; Điều 80 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định cơ quan điều tra tiến hành lập hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại gửi Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét quyết định điều tra. Như vậy, quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 dễ dẫn đến cách hiểu cơ quan điều tra có thể tự tiến hành điều tra mà không cần phải thông qua Bộ trưởng Bộ Công Thương. Điều này chưa đồng bộ với các quy định tại Nghị định số 10/2018/NĐ-CP và Thông tư số 37/2019/TT-BCT đã nêu.

3. Thực tiễn thực thi pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, tính đến tháng 12/2022, các nước trên thế giới đã tiến hành điều tra 225 vụ việc phòng vệ thương mại với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam[5]. Trước các vụ việc này, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài và đã đem lại những kết quả tích cực.

Tính đến năm 2023, Việt Nam chỉ mới thực hiện điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (cũng là vụ duy nhất liên quan đến biện pháp tự vệ) vào năm 2018. Ngày 26/7/2018, Bộ Công Thương Việt Nam ban hành quyết định khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm thép dây/thép cuộn nhập khẩu vào Việt Nam từ các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Đây là vụ điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đầu tiên mà Việt Nam tiến hành. Vụ kiện này dựa trên nghi ngờ có hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại từ vụ kiện gốc có mã vụ việc là SG04, sau khi Việt Nam áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam. Ngày 13/5/2019, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1230/QĐ-BCT áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm thép dây, thép cuộn nhập khẩu vào Việt Nam. Biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng dưới hình thức thuế nhập khẩu bổ sung với mức thuế là 10,9% kể từ ngày 28/5/2019 đến hết ngày 21/3/2020 (nếu biện pháp tự vệ ban đầu không gia hạn)[6].

Thực tiễn thực thi pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại cũng cho thấy còn có những hạn chế, khó khăn nhất định. Cơ quan quản lý còn lúng túng trong quá trình thực thi pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu[7]. Nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về các biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại nói riêng chưa đầy đủ và khả năng khởi kiện còn hạn chế. Các doanh nghiệp chưa thể chủ động trong việc sử dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của chính doanh nghiệp mình. Khả năng phát hiện và ứng phó kịp thời khi xuất hiện các dấu hiệu cho thấy cần phải áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại của cộng đồng doanh nghiệp còn chưa cao. Các doanh nghiệp còn lúng túng, thiếu kỹ năng trong việc chuẩn bị số liệu, thông tin để tiến hành các vụ việc phòng vệ thương mại[8]. Việc thu thập dữ liệu thông tin để yêu cầu khởi kiện điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại của các doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn. Các thông tin liên quan đến nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam vẫn còn thiếu, không công khai, minh bạch, thông tin công khai từ các nguồn khác nhau lại không tương thích với nhau. Bên cạnh đó, nguồn lực tìm kiếm thông tin thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp còn hạn chế, việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp với nhau gần như chưa được thực hiện... Điều này khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng một bộ hồ sơ khởi kiện khi quyết định sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại nói riêng.

4. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại ở Việt Nam

Qua phân tích ở phần trên cho thấy, cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện pháp luật phòng vệ thương mại của Việt Nam nói chung và chống lẩn tránh phòng vệ thương mại nói riêng (trong đó có biện pháp tự vệ thương mại) nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đồng bộ, phù hợp và thống nhất với các cam kết quốc tế, cũng như đơn giản hóa thủ tục cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này cho các chủ thể có liên quan.

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại.

Quy định về các hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại là căn cứ để phát hiện, xác định và điều tra chống lẩn tránh các biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại. Việc quy định không đầy đủ, rõ ràng các hành vi lẩn tránh có thể sẽ giới hạn việc điều tra, gây khó khăn cho cơ quan điều tra khi tiến hành, cũng như làm giảm hiệu quả tổng thể của biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại khi bỏ qua những trường hợp có thể mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần bổ sung quy định tại Điều 74, Điều 76 và Điều 77 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP theo hướng bao gồm cả hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại như cách quy định của pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại một số quốc gia phát triển.

Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu thực thi pháp luật hiệu quả, cũng như quy định rõ hơn về các điều kiện, tiêu chí xác định hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP cần sửa đổi, bổ sung theo hướng chuyển tải thông qua nước thứ ba như quy định của pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại Úc. Theo đó, lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại thông qua thay đổi hình thức kinh doanh và kênh phân phối để hưởng lợi từ mức áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại thấp hơn mức đang áp dụng như cách mà pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại Úc quy định về xuất khẩu thông qua dàn xếp giữa các nhà xuất khẩu. Đồng thời, cần quy định cụ thể về vấn đề mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại đối với hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại thông qua việc làm rõ mức thuế áp dụng biện pháp chống lẩn tránh.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn điều tra khác nhau cho các hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại khác nhau phù hợp với tính chất của từng hành vi.

Hiện nay, pháp luật chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam quy định một thời hạn điều tra chung cho các hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Úc… cho thấy, cần có quy định về thời hạn điều tra khác nhau cho các hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại khác nhau phù hợp với tính chất của từng hành vi. Do đó, cần nghiên cứu thực tiễn các nước và điều kiện ở Việt Nam để quy định các thời hạn điều tra khác nhau cho các hành vi khác nhau, phù hợp với tính chất của từng hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về cơ sở tiến hành điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Theo đó, cần sửa đổi Điều 72 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 để bảo đảm phù hợp với thực tiễn. Pháp luật hiện nay quy định, Cục Phòng vệ thương mại chỉ có thể trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét quyết định điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại nói riêng và biện pháp phòng vệ thương mại nói chung. Do đó, để bảo đảm tính đồng bộ, cần sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 72 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 theo hướng: “Cơ quan điều tra kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công Thương tiến hành điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại căn cứ vào hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại hợp lệ của đại diện ngành sản xuất trong nước hoặc các thông tin mà cơ quan điều tra có được.”

Thứ tư, các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp tự vệ thương mại cho các chủ thể có liên quan:

- Cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về nội dung các biện pháp phòng vệ thương mại; những hoạt động “tiền phòng vệ thương mại” nhằm thực thi hiệu quả các chính sách, biện pháp phòng vệ thương mại[9]. Bộ Công Thương và các bộ, ngành có liên quan cần thực hiện nghiêm túc và có sự giám sát việc thực hiện Quyết định số 2074/QĐ-BCT ngày 05/8/2020 của Bộ Công Thương ban hành Chương trình hành động thực hiện Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 01/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng và vận hành hiệu quả Hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại”.

- Cần xây dựng các hiệp hội ngành hàng uy tín, mạnh về chất lượng[10]. Trong thực tế, các vụ khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại có thể bắt đầu với bị đơn là một doanh nghiệp hoặc một vài doanh nghiệp. Vụ việc của họ gắn với lợi ích của một ngành hàng, gắn với nền sản xuất của cả nước. Do lợi ích chung như vậy, nên vai trò của các hiệp hội, các tổ chức đại diện doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh là rất lớn. Cần thực hiện cảnh báo sớm nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ hàng hóa thông qua giám sát hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu (kể cả tạm nhập tái xuất, trung chuyển, quá cảnh) các mặt hàng đang bị các đối tác kinh tế quan trọng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để đưa ra khuyến nghị kịp thời (theo Quyết định số 824/QĐ-TTg ngày 04/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án “Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ”).

- Trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải sự đối phó của phía nước ngoài bằng biện pháp tự vệ thì các doanh nghiệp cần[11]: (i) Có hiểu biết chung về biện pháp tự vệ, cũng như nhận biết về sự tồn tại của nguy cơ bị kiện tại các thị trường xuất khẩu và cơ chế vận hành của chúng, nhóm thị trường và mặt hàng thường bị kiện; (ii) Xây dựng chiến lược trong kinh doanh một cách cụ thể và bài bản. Cần phải tính đến khả năng bị kiện khi xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng hóa của mình để có kế hoạch chủ động phòng ngừa và xử lý khi không phòng ngừa được, ví dụ như: Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh phát triển quá nóng một thị trường, tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng, tiến tới giảm dần cạnh tranh bằng giá rẻ… (iii) Tích cực hợp tác khi vụ kiện xảy ra. Phối hợp, liên kết với các doanh nghiệp có cùng mặt hàng xuất khẩu để có chương trình, kế hoạch đối phó chung đối với các vụ kiện có thể xảy ra; sử dụng các chuyên gia tư vấn và luật sư trong những tình huống cần thiết và thích hợp; giữ liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về thương mại để các cơ quan này có tiếng nói bảo vệ quyền lợi tốt hơn cho doanh nghiệp, kể cả việc đàm phán các hiệp định có cam kết không áp dụng hoặc hạn chế áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa của nhau, bày tỏ quan điểm đối với các nước áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa của Việt Nam, yêu cầu có bồi thường quyền lợi thương mại khi có việc nước khác áp dụng biện pháp tự vệ[12].

TS. Trần Viết Long

Trường Đại học Luật - Đại học Huế

[1]. Uyên Chi (2022), Hệ thống pháp luật quy định về phòng vệ thương mại tại Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/he-thong-phap-luat-quy-dinh-ve-phong-ve-thuong-mai-tai-viet-nam-101629.htm, truy cập ngày 10/9/2023.

[2]. Phạm Nguyệt Hằng, Biện pháp tự vệ trong phòng vệ thương mại, https://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/pldn/Pages/pho-bien-pl-doanh-nghiep.aspx?ItemID=26, truy cập ngày 10/9/2023.

[3]. Lâm Hồng Loan Chị, Nguyễn Hoàng Thiện (2022), Pháp luật Việt Nam về chống lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế, Trường Đại học Tây Đô, số 15, tr. 154 - 165.

[4]. Lâm Hồng Loan Chị, Nguyễn Hoàng Thiện (2022), tlđd.

[5]. Đăng Huy (2022), Tăng cường rà soát, hoàn thiện pháp luật về phòng vệ thương mại, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tang-cuong-ra-soat-hoan-thien-phap-luat-ve-phong-ve-thuong-mai-102105.htm, truy cập ngày 10/9/2023.

[6]. Xem thêm nội dung vụ điều tra tại: Thép dây, thép cuộn - Việt Nam điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (AC01.SG04), https://chongbanphagia.vn/thep-day-thep-cuon-viet-nam-dieu-tra-ap-dung-bien-phap-chong-lan-tranh-bien-phap-phong-ve-thuong-ma-n18059.html, truy cập ngày 10/9/2023.

[7]. Xem các thông tin tại: Viết Đoàn, Chí Kiên, Duy Tấn (2021), Người trồng mía kêu cứu, https://nhandan.vn/nguoi-trong-mia-keu-cuu-post641315.html, truy cập ngày 10/9/2023; https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-1514-QD-BCT-2022-chong-lan-tranh-bien-phap-phong-ve-thuong-mai-duong-mia-524444.aspx, truy cập ngày 10/9/2023; Đường mía - Việt Nam điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (AC02.AD13-AS01), https://chongbanphagia.vn/duong-mia—viet-nam-dieu-tra-chong-lan-tranh-bien-phap-phong-ve-thuong-mai-ac02ad13-as01-n24068.html, truy cập ngày 10/9/2023.

[8]. Xem hồ sơ vụ điều tra tại: Sợi dài làm từ polyester - Việt Nam điều tra chống bán phá giá (AD10), https://chongbanphagia.vn/soi-dai-lam-tu-polyester—viet-nam-dieu-tra-chong-ban-pha-gia-ad10-n20908.html, truy cập ngày 10/9/2023.

[9]. Trương Vĩnh Xuân, Nguyễn Việt Anh (2020), Nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21 (421), tr. 11 - 19.

[10]. Trương Vĩnh Xuân, Nguyễn Việt Anh (2020), tlđd.

[11]. Khôi Nguyên (2009), Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=1091, truy cập ngày 10/9/2023.

[12]. Hoàng Phương (2022), Ứng phó với phòng vệ thương mại và vai trò của doanh nghiệp, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/ung-pho-voi-phong-ve-thuong-mai-va-vai-tro-cua-doanh-nghiep-102065.htm, ngày 26/12/2022, truy cập ngày 10/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: