Thứ năm 12/03/2026 08:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư

Bài viết phân tích những hạn chế của pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những hạn chế của pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article analyzes the limitations of the current anti-corruption law in the private sector in Vietnam, on that basis, the author makes recommendations and proposals to improve the law.

1. Thực trạng pháp luật phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư
Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành đã mở rộng phạm vi điều chỉnh ra khu vực ngoài nhà nước (hay còn gọi là khu vực tư), gồm cả các quy định mang tính chất khuyến nghị cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, tổ chức tư và các quy định mang tính chất bắt buộc cho một số loại hình doanh nghiệp và tổ chức ngoài nhà nước. Có thể nói, đây là sự điều chỉnh kịp thời trong bối cảnh tham nhũng trong khu vực tư có những diễn biến phức tạp, đáp ứng yêu cầu tất yếu đặt ra đó là phòng, chống tham nhũng phải tiến hành đồng bộ trong khu vực công và khu vực tư. Trong vấn nạn tham nhũng, doanh nghiệp được nhìn nhận dưới góc độ vừa là “nạn nhân”, vừa là “tác nhân” của tình trạng này. Khu vực công và khu vực tư được nhiều chuyên gia nhìn nhận như “bình thông nhau” vì có mối quan hệ tác động qua lại, khu vực tư đôi khi là nơi ẩn giấu, là “sân sau” của hành vi tham nhũng trong khu vực công.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc áp dụng và thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay đã bộc lộ những điểm hạn chế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, để bảo đảm phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc phòng chống tham nhũng (UNCAC), trong bối cảnh tăng cường hợp tác quốc tế hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung phạm vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước vào chương tham nhũng chức vụ. Tuy nhiên, quy định hiện tại còn mâu thuẫn giữa Bộ luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Phòng, chống tham nhũng dẫn đến khó áp dụng. Cụ thể: Khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định hành vi tham nhũng khu vực tư bao gồm tham ô tài sản, nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi, cho thấy chủ thể bao gồm cả pháp nhân và cá nhân. Điều này chưa thống nhất với quy định trong Bộ luật Hình sự (Bộ luật Hình sự không có chủ thể pháp nhân tham nhũng, cũng như tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ không được xếp vào mục các tội phạm về tham nhũng).
Thứ hai, pháp luật hiện hành đã có nhiều quy định cho phép các đơn vị, pháp nhân, cá nhân tham gia vào việc thực hiện các dịch vụ công như: Công chứng, giám định, phiên dịch, cung ứng cho việc mua sắm tài sản công... việc xã hội hóa dịch vụ công mang đến “lợi ích kép” cho cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, Nhà nước giảm được gánh nặng, tập trung hơn vào công tác quản lý vĩ mô, từ đó, tạo điều kiện để khu vực tư nhân có cơ hội đầu tư và cạnh tranh phát triển. Nhiều nhà cung ứng dịch vụ công sẽ tạo ra sự cạnh tranh nên dịch vụ cung cấp được rẻ hơn, tốt hơn; mặt khác, bộ máy nhà nước cũng trở nên gọn nhẹ và tiết kiệm hơn. Do đó, việc sớm sửa đổi, bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong khu vực tư theo Điều 21 UNCAC vào Bộ luật Hình sự là rất cần thiết. Việc hình sự hóa hành vi này góp phần tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam trong thời gian tới, tạo ra sự tương đồng, phù hợp giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, qua đó, hỗ trợ hoặc tiếp nhận hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả ở Việt Nam.
Thứ ba, qua rà soát các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện hành, có rất nhiều hành vi “tiêu cực” của khu vực công đã được thể chế hóa thành các hành vi vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật và phần lớn đã có các chế tài xử lý, nhưng khi hợp nhất lại thì thấy cách gọi tên và thuật ngữ sử dụng trong các quy định không có sự thống nhất, đồng bộ với nhau, không ít hành vi chưa có chế tài xử lý. Đặc biệt, trong các văn bản pháp luật chưa có sự điều chỉnh thuật ngữ “tiêu cực” mà chủ yếu sử dụng thuật ngữ “tham nhũng”, cũng chưa có văn bản pháp luật nào quy định về chế tài xử lý những biểu hiện “tham nhũng, tiêu cực”, dẫn đến rất khó thực hiện trong thực tiễn.
Từ kết quả khảo sát của nhóm chuyên gia UNDP[1] cho thấy, các tổ chức, doanh nghiệp nhận thức tương đối tốt việc xây dựng các quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát trong doanh nghiệp. Cụ thể: Có 42% tổ chức, doanh nghiệp đã xây dựng quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát; 26% đang xây dựng và có 32% không xây dựng. Số đã xây dựng quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát đa phần là công ty cổ phần (45% số công ty cổ phần, 8% so với số các tổ chức, đơn vị được khảo sát), công ty hợp danh (50% số công ty hợp danh, 8% so với số các tổ chức, đơn vị được khảo sát), tổ chức khác ngoài nhà nước 45% số tổ chức ngoài nhà nước và 8% so với số các tổ chức, đơn vị được khảo sát) và chỉ có 9% số công ty trách nhiệm hữu hạn (2% so với số các cơ quan, tổ chức được khảo sát) 22% cơ quan nhà nước (4% so với số các cơ quan, tổ chức được khảo sát) đã xây dựng cơ chế kiểm soát. Qua đó, cho thấy các tổ chức ngoài nhà nước, công ty cổ phần và các công ty hợp danh có ý thức hơn trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát do đặc điểm ngành nghề hoạt động của họ. Các công ty cổ phần có quy mô lớn thường có cán bộ pháp luật, hành chính chuyên trách nên thường xây dựng các hệ quy tắc này để thuận lợi cho việc quản lý nhân sự và quản trị hoạt động. Các công ty hợp danh ngành nghề chủ yếu là các dịch vụ tư vấn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức cá nhân của thành viên công ty hợp danh, các thành viên công ty hợp danh thường hoạt động độc lập, nên quy tắc ứng xử hay vấn đề kiểm soát nội bộ sớm được đặt ra. Các tổ chức xã hội ngoài nhà nước thường là các tổ chức tự nguyện, hoạt động dựa trên đóng góp, số lượng thành viên tham gia đóng góp lớn nên cũng sớm ý thức về việc kiểm soát tài chính nội bộ. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất Việt Nam (tại thời điểm 31/12/2018 có 382.444 doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước)[2] và nếu tính thêm số doanh nghiệp vừa nữa thì con số này chiếm 93% số lượng doanh nghiệp trong toàn quốc, trong đó, nhóm doanh nghiệp này chưa thật sự có ý thức cao về vấn đề xây dựng cơ chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư, vì đối tượng này thường chỉ tập trung vào mục đích kinh doanh, không được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật, không có cán bộ pháp luật chuyên trách.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư
Một là, sớm sửa đổi, bổ sung thuật ngữ “tiêu cực” vào Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm tạo sự đồng bộ trong việc xử lý hành vi “tham nhũng, tiêu cực” góp phần hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện sửa đổi, bổ sung quy định về các hành vi bị cấm trong pháp luật chuyên ngành bảo đảm thống nhất với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Cụ thể, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định. Tuy nhiên, trong Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã không có quy định cấm người chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã sau khi thôi chức vụ.
Hai là, cần nghiên cứu, ban hành thông tư về thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư để có biện pháp, chế tài mạnh mẽ đối với doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện đúng quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Từ lý thuyết và thực tiễn cho thấy, việc ban hành thông tư điều chỉnh về thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là cần thiết, bởi vì từ chủ thể, nội dung, hình thức, trình tự thủ tục… cho đến thực hiện quy định pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực công có sự khác biệt với các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, do vậy, không thể áp dụng quy định của thông tư hiện hành của Thanh tra Chính phủ điều chỉnh về thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng áp dụng trong khu vực công cho khu vực tư.
Ba là, để bảo đảm tính răn đe trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư, các cơ quan chức năng cũng cần nghiên cứu, sớm ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư. Bởi vì, theo báo cáo của nhóm chuyên gia UNDP[3] cho thấy, các doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư vi phạm quy định về việc không ban hành và tổ chức thực hiện quy định về quy tắc ứng xử; không lựa chọn các hình thức công khai, minh bạch; không thực hiện công khai, kiểm toán các khoản đóng góp của nhân dân; không xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích… nhưng lại không có chế tài xử phạt vi phạm hành chính cho các hành vi này. Việc ban hành quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực tư.
Bốn là, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về phòng, chống tham nhũng theo hướng hình sự hóa thêm hành vi đưa hối lộ ở lĩnh vực tư. UNCAC có đề cập đến việc hình sự hóa tham nhũng trong lĩnh vực tư, tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng lại chưa quy định. Điều này làm cho hiệu quả trong việc xử lý các hành vi tham nhũng bị hạn chế. Vấn đề đặt ra là cần hoàn thiện Bộ luật Hình sự theo hướng: Hình sự hóa một số hành vi tham nhũng trong khu vực tư cũng như hành vi hối lộ các tổ chức quốc tế hoặc của các công chức trong các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, làm cơ sở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử những hành vi này. Mặt khác, việc hình sự hóa hành vi tham nhũng trong khu vực tư nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về “các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”, đồng thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở Việt Nam về việc xử lý hành vi tham nhũng đối với tài sản của doanh nghiệp có phần vốn góp của Nhà nước, trong đó, có sự đan xen về sở hữu mà trong nhiều trường hợp không thể tách biệt giữa tài sản, phần vốn góp của Nhà nước với tài sản, phần vốn góp của tư nhân.
Năm là, cần tội phạm hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp của công chức do lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà có. Việt Nam hiện đã gia nhập UNCAC, điều này đòi hỏi phải nội luật hóa các nội dung của UNCAC vào pháp luật trong nước trong đó phải kể đến Bộ luật Hình sự. Theo Điều 20 của Công ước có khuyến nghị quốc gia thành viên hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác nhằm quy định là tội phạm, nếu được thực hiện một cách cố ý, hành vi làm giàu bất hợp pháp, nghĩa là việc tài sản của một công chức tăng lên đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức mà công chức này không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể. Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành chưa quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp, chỉ khuyến nghị vì UNCAC cũng chỉ khuyến nghị mà không bắt buộc các quốc gia thành viên phải thực hiện quy định này. Tuy nhiên, nếu tiền tham nhũng ở khu vực công được sử dụng, “làm sạch” ở khu vực tư sẽ hình thành hành vi làm giàu bất hợp pháp. Do đó, dù UNCAC không bắt buộc nhưng nhưng hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp là cần thiết để góp phần phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Sáu là, nghiên cứu, sửa đổi, chuyển tội đưa hối lộ và tội môi giới hối lộ từ phần “Các tội phạm khác về chức vụ” lên phần “Các tội phạm tham nhũng” tại Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 để bảo đảm tính khả thi trong thi hành Bộ luật Hình sự và thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực tư và để phù hợp với điểm (b) Điều 21 UNCAC. Bên cạnh đó, cần sớm luật hóa hành vi biển thủ tài sản trong lĩnh vực tư vào Bộ luật Hình sự để phù hợp với Điều 22 “yêu cầu các quốc gia thành viên xem xét hình sự hóa hành vi của người điều hành hay làm việc, ở bất kỳ cương vị nào, cho tổ chức thuộc lĩnh vực tư biển thủ tài sản, quỹ tư hoặc chứng khoán hoặc bất kỳ thứ gì khác có giá trị mà người này được giao quản lý do vị trí của mình, nếu hành vi biển thủ đó được thực hiện một cách cố ý trong quá trình hoạt động kinh tế, tài chính hoặc thương mại” của UNCAC. Việc sửa đổi, bổ sung này là cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý đối với tội phạm tham nhũng trong khu vực tư trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Bảy là, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư phải tích cực, chủ động tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc phòng, chống tham nhũng ở khu vực tư được thực hiện đồng bộ ở cả ba cấp độ, đó là, trong nội bộ doanh nghiệp, các đối tác kinh doanh và tham gia các hành động tập thể, cụ thể như sau:
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp trong khu vực tư phải xác định được tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại nơi làm việc, lĩnh vực hoạt động của mình để chủ động xây dựng và áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng đã được chuẩn hóa như: Bộ tiêu chuẩn ISO 37001 (Hệ thống quản lý chống hối lộ) do Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) ban hành hoặc các nguyên tắc chống hối lộ trong kinh doanh do doanh nghiệp tự xây dựng; thực hiện nghiêm túc việc đánh giá hồ sơ liêm chính của người lao động trong quá trình tuyển dụng, kiểm tra, tham chiếu với nơi làm việc trước đó của người lao động.
- Cần áp dụng và thực thi hiệu quả chính sách kê khai nguy cơ xung đột lợi ích và phòng, chống xung đột lợi ích. Nếu thực hiện tốt sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, các chính sách trao nhận quà tặng, kiểm soát “chi phí hoa hồng”, chiêu đãi và chi phí công tác cần được công khai, minh bạch, nhất quán cho toàn bộ nhân viên, công nhân của doanh nghiệp để sớm phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực. Doanh nghiệp nên thiết lập và bảo đảm việc vận hành hiệu quả “kênh” tố cáo hành vi sai phạm, tham nhũng với quy định, quy trình rõ ràng, dễ hiểu và có độ tin cậy cao làm cơ sở cho việc tăng cường giám sát thực thi các chính sách liêm chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để tự vận hành hoặc thuê công ty dịch vụ độc lập thì có thể liên hệ đến các hội, hiệp hội doanh nghiệp để được giúp đỡ, tất nhiên bên giúp đỡ phải bảo đảm tính khách quan và bảo mật thông tin.
- Doanh nghiệp nên đánh giá thẩm định đối tác kinh doanh trước khi quyết định hợp tác kinh doanh. Đưa vào phạm vi rà soát những tiêu chí liên quan tới hành vi tham nhũng, hối lộ trong quá khứ và năng lực phòng, chống rủi ro tham nhũng của đối tác. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong hợp tác và nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu tham nhũng, lãng phí. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp trong khu vực tư nên ủng hộ và tham gia các hành động tập thể của hiệp hội, câu lạc bộ, nhóm doanh nghiệp… như: Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), Hiệp hội doanh nghiệp, Hội doanh nhân trẻ, các hội ngành nghề…, để cùng thúc đẩy và chia sẻ các chuẩn mực và thông lệ tốt về liêm chính trong kinh doanh, bảo vệ những doanh nghiệp là nạn nhân của tham nhũng, tố cáo những doanh nghiệp sử dụng tham nhũng để trục lợi và gây tổn hại tới doanh nghiệp khác.
Tám là, cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần chuẩn bị, đầu tư nguồn lực tốt cho lực lượng thanh tra, kiểm tra để thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực tư bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Muốn vậy, công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra phải được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, có kiến thức chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ để có thể làm việc được trong môi trường quốc tế.

ThS. Lê Quang Kiệm
Cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai




[1]. Báo cáo đánh giá quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước và đề xuất hướng dẫn đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước tại Việt Nam năm 2020 của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) phối hợp cùng Thanh tra Chính phủ và các chuyên gia thực hiện.
[2]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020, tr. 40.
[3]. Báo cáo đánh giá quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước và đề xuất hướng dẫn đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước tại Việt Nam năm 2020 của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) phối hợp cùng Thanh tra Chính phủ và các chuyên gia thực hiện.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: