Thứ tư 26/08/2026 22:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về tố tụng dân sự Việt Nam về thực hiện quyền tư pháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thực hiện quyền tư pháp, chỉ ra các điểm mới của Bộ luật này và trên cơ sở đó nêu lên những thách thức, khó khăn cần phải giải quyết trong việc thực hiện quyền tư pháp theo các quy định mới này.

Abstract: This paper analyzes not only regulations of Vietnam Civil Procedure Code 2015 about implementing Judicial power but also points out several new provisions of this code. Based on that, the author also offers some challenges and difficulties which need to be solved to implementing Judicial power under these new regulations of Vietnam Civil Procedure Code 2015.

1. Khái quát chung về quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp theo pháp luật

Trong nghiên cứu khoa học pháp lý đã có rất nhiều cách giải thích về tư pháp, quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp. Từ việc tham khảo những kết quả nghiên cứu[1] có thể xác định, để nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện nhất về quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp theo pháp luật thì phải nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản sau:

- Nghiên cứu về các quy định của pháp luật về quyền xét xử, quyền giải thích luật, quyền tạo ra án lệ của Tòa án.

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động áp dụng pháp luật của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật như Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án… và các cơ quan bổ trợ tư pháp để bảo đảm thực hiện quyền xét xử đạt được hiệu quả cao nhất.

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về cơ chế kiểm soát nhằm tránh lạm dụng quyền tư pháp trong hoạt động xét xử, đảm bảo việc thực thi quyền xét xử đúng và hiệu quả.

2. Quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Trong hệ thống văn bản pháp luật tố tụng dân sự thì Bộ luật Tố tụng dân sự là văn bản điển hình, chủ yếu nhất. Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 và ngay từ Bộ luật đầu tiên này, quyền tư pháp hay cụ thể hơn là quyền xét xử đã được khẳng định là do Tòa án thực hiện. Đến nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được đánh giá có nhiều quy định cụ thể hơn, có nhiều điểm mới tạo ra bước tiến đáng ghi nhận trong thành tựu lập pháp của Việt Nam. Nghiên cứu dưới góc độ quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là một trong những văn bản pháp luật của Nhà nước thể thể hiện rõ nét và sâu sắc các vấn đề này qua các nội dung sau:

2.1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định dứt khoát, rõ ràng về quyền xét xử, quyền giải thích luật, quyền tạo ra án lệ của Tòa án

Quyền tư pháp mà trọng tâm là quyền xét xử của Tòa án không chỉ được khẳng định trước tiên trong đạo luật gốc là Hiến pháp và sau đó là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân mà trong những văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn khẳng định lại quy định này. Ngay tại điều luật đầu tiên của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyền thay mặt Nhà nước xét xử hay quyền giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của Tòa án đã được ghi nhận[2] và cũng ngay tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng khẳng định mục đích của việc thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là quyền xét xử là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật”. Sau Điều 1, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn rất nhiều điều luật khác quy định về quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử của Tòa án. Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử:

Thứ nhất, so với Bộ luật trước, quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử của Tòa án được công nhận với phạm vi rộng hơn, theo một tinh thần quyết liệt hơn.

Để minh chứng cho điều này, chúng ta có thể tham khảo một nội dung mới được quy định bổ sung trong Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Có thể nói đây là một thái độ rất quyết liệt của Nhà nước ta bởi từ trước đến nay chúng ta chưa lần nào dám vượt qua nguyên tắc việc xét xử của Tòa án phải được dựa vào luật đã có. Với quy định bổ sung này vừa tạo động lực cho Tòa án thực hiện hết thẩm quyền của mình vì quyền xét xử của Tòa án được mở rộng, nhưng đồng thời cũng lại tạo áp lực cho Tòa án: Không có luật để áp dụng thì có giải quyết được, giải quyết đúng những vụ việc đó hay không? Khi đó, Ngành Tòa án chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện quy định mới này nhưng với định hướng đã có trong luật gốc là luật dân sự[3]: Áp dụng tập quán, áp dụng tương tự, áp dụng các nguyên tắc cơ bản, áp dụng án lệ, áp dụng lẽ công bằng, bình đẳng, thì chúng ta hy vọng quyền tư pháp giao cho Tòa án sẽ được thực hiện triệt để và hiệu quả.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có bổ sung quy định một số nội dung mới về chứng minh - một trong những biện pháp quan trọng nhất, cơ bản nhất để thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là quyền xét xử của Tòa án.

Khác với tố tụng hình sự là Nhà nước phải chứng minh người có hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm thì trong tố tụng dân sự, đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết phải chứng minh bằng chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Tòa án được xem giống như trọng tài xem xét, đánh giá bên đương sự nào có chứng cứ chứng minh thuyết phục hơn thì Tòa án sẽ bảo vệ quyền, lợi ích cho bên đó. Như vậy, một trong những nguyên tắc khi Tòa án thực hiện quyền xét xử là nguyên tắc chứng minh. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có bổ sung một nội dung rất mới là trước phiên tòa, Tòa án phải mở các phiên họp để cung cấp, tiếp cận, thông tin, gửi cho nhau về chứng cứ của các bên đương sự[4]. Đây là một bước tiến mới trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chứng minh, bởi với cơ hội của đương sự được cung cấp, được biết trước chứng cứ của bên đối lập trước phiên tòa thì việc thực hiện quyền xét xử của Tòa án sẽ minh bạch, đúng đắn hơn.

Thứ ba, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) rất chú trọng khẳng định nguyên tắc thực hiện quyền xét xử của Tòa án nhưng phải tôn trọng quyền thỏa thuận, quyền được Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Khi có yêu cầu, Tòa án có quyền xét xử, giải quyết vụ việc dân sự, nhưng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải tôn trọng quyền thỏa thuận của đương sự bởi đương sự mới là chủ thể của quyền, lợi ích trong vụ án. Vì đương sự có quyền thỏa thuận với nhau nên Tòa án có trách nhiệm tạo cơ hội cho các bên đương sự thảo thuận và khi họ thỏa thuận được, Tòa án phải tôn trọng sự thỏa thuận đó bằng cách ghi nhận sự thỏa thuận trong quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự nếu đương sự yêu cầu. Các nội dung này được ghi nhận thành nguyên tắc hòa giải tại Điều 10 và được quy định cụ thể về thủ tục tại Chương XIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, một trong những biểu hiện của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thực hiện quyền tư pháp là những quy định về hoạt động hòa giải vụ án dân sự của Tòa án.

Thứ tư, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có những quy định rất mới về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự - một trong những biểu hiện rõ nét nhất về thực hiện quyền xét xử, quyền tư pháp của Tòa án.

Quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án theo chế độ sơ thẩm, phúc thẩm được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thừa nhận chung tại Điều 17. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì phiên tòa sơ thẩm thể hiện rõ nhất quyền xét xử của Tòa án. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định mới thể hiện rõ nét hơn quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử của Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm. Nếu như trước đây, quy định thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự bao gồm lần lượt các thủ tục bắt đầu, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án tại phiên tòa, thì nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được xây dựng với tinh thần tiếp thu những ưu điểm của mô hình tố tụng tranh tụng trên thế giới đã giảm đi yếu tố thẩm xét mà quy định thủ tục phiên tòa sơ thẩm bao gồm các thủ tục bắt đầu, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, thủ tục nghị án và tuyên án. Thủ tục hỏi trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ được xem như một thủ tục được thực hiện trong thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Với gần 20 điều luật quy định về tranh tụng (từ Điều 247 đến Điều 263), có thể thấy tranh tụng tại phiên tòa sẽ là hoạt động trọng tâm, chủ yếu của phiên tòa chứ không chỉ là tranh luận tại phiên tòa như trước đây. Quyền xét xử công khai, minh bạch của Tòa án không chỉ được thể hiện và thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm mà trong các phiên tòa khác như phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận và có cơ chế bảo đảm thực hiện.

Như vậy, từ những điểm nổi bật nêu trên của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử của Tòa án có thể thấy, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã rất chú trọng quy định về quyền xét xử, thực hiện quyền xét xử - nội dung cơ bản nhất của quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp.

Không chỉ dừng ở những quy định ghi nhận quyền xét xử và thực hiện quyền xét xử, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam còn thừa nhận cả các nội dung khác của quyền tư pháp như quyền giải thích luật hay quyền tạo ra án lệ của Tòa án. Sau quy định chung “Tòa án… thực hiện quyền tư pháp”[5] mà nội dung chính là quyền xét xử, thì điểm b khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao - cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án là “ban hành nghị quyết hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật”. Các nghị quyết hướng dẫn này chính là các văn bản giải thích pháp luật. Thực tế những năm qua cho thấy, sau khi Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự lần đầu tiên năm 2004, Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành. Các văn bản giải thích pháp luật này góp vai trò rất lớn trong việc bảo đảm hiệu lực thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài vai trò của Tòa án nhân dân tối cao trong việc ban hành các nghị quyết giải thích, hướng dẫn việc áp dụng pháp luật thì với mỗi Tòa án khi ra bản án, quyết định giải quyết một vụ việc cụ thể cũng phải giải thích tại sao, dựa vào căn cứ nào để ra bản án, quyết định đó và như thế cũng là biểu hiện rõ nét của quyền giải thích pháp luật của Tòa án.

Bên cạnh việc ghi nhận quyền xét xử, quyền giải thích luật của Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau một thời gian dài quan sát và cân nhắc đã mạnh dạn thừa nhận quyền tạo ra án lệ của Tòa án. Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 khẳng định, Tòa án nhân dân tối cao “lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Có thể khẳng định tại Việt Nam, quyền tạo ra án lệ là một quyền rất đặc biệt của Tòa án, là một biểu hiện mới về quyền tư pháp trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, nhưng trong thời gian tới, việc thực hiện quyền này sẽ gặp phải nhiều khó khăn, đòi hỏi Tòa án phải có sự nỗ lực rất lớn thì việc thực hiện quyền tư pháp này mới đạt hiệu quả.

2.2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cơ chế kiểm sát thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng dân sự và các hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan bổ trợ tư pháp để bảo đảm thực hiện quyền xét xử, quyền tư pháp đạt được hiệu quả cao nhất

Về cơ chế kiểm sát thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng dân sự

Nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thực hiện quyền tư pháp không thể không đề cập đến cơ chế kiểm sát thực hiện quyền tư pháp, bởi có cơ chế phù hợp để kiểm sát thực hiện quyền tư pháp thì việc thực hiện quyền tư pháp mới đảm bảo đảm đúng luật và đạt hiệu quả cao. Mặt khác, như nhiều nhà nghiên cứu về quyền tư pháp đã chỉ ra, quyền tư pháp không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là quyền xét xử của Tòa án mà còn là các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các hoạt động của cơ quan bổ trợ tư pháp.

Kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát và ngay trong Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam thì kiểm sát các hoạt động xét xử các vụ việc dân sự đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự. Không chỉ dừng lại ở quy định Viện kiểm sát có quyền kiểm sát mà Bộ luật Tố tụng dân sự còn khẳng định: Cùng với Tòa án, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự. Hiện nay, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kiểm sát các hoạt động xét xử của Tòa án cũng được quy định thành một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và cơ chế kiểm sát các hoạt động tố tụng của Tòa án được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

- Viện kiểm sát giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật ở tất cả các khâu của quá trình giải quyết vụ việc dân sự do Tòa án tiến hành. Không có thẩm quyền xét xử như Tòa án nên mặc dù là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự[6], Viện kiện kiểm sát không trực tiếp tham gia vào các hoạt động giải quyết vụ việc dân sự mà chỉ kiểm tra, giám sát các hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân thông qua hồ sơ mà Tòa án chuyển sang. Việc kiểm tra, giám sát được thực hiện ngay từ những thủ tục đầu tiên là thủ tục Tòa án thụ lý và trả lại đơn đến các thủ tục chuẩn bị và tổ chức phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự…

- Ngoài phương thức kiểm sát hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án thông qua hồ sơ, quyết định, văn bản mà Tòa án chuyển sang (kiểm sát một cách gián tiếp), Viện kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát của mình thông qua các hoạt động trực tiếp tham gia phiên tòa, phiên họp trong những trường hợp do pháp luật quy định, thực hiện kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu (kiểm sát trực tiếp). Cụ thể như theo quy định tại Điều 21 và Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, với những vụ việc dân sự thông thường thì Viện kiểm sát không cần phải trực tiếp tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, nhưng đối với một số vụ việc có đặc thù như Tòa án thu thập chứng cứ, đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở, có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi… thì Viện kiểm sát sẽ trực tiếp tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm để kiểm sát sự tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, với các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát cũng phải tham gia đầy đủ để thực hiện chức năng kiểm sát của mình. Theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, một quy định có nhiều quan điểm tranh luận trái chiều là tại phiên tòa, Viện kiểm sát không chỉ có quyền phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng mà cao hơn là có quyền phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Có quan điểm cho rằng, dù có phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án thì cũng chỉ là phát biểu về việc giải quyết vụ án của Tòa có đúng thủ tục không, có hợp lý không. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án tức là có quyền phát biểu về giải quyết nội dung vụ án. Nhưng dù theo quan điểm nào thì cũng không thể phủ nhận sự cần thiết của hoạt động kiểm sát do Viện kiểm sát thực hiện và thực hiện kiểm sát cũng chính là một biểu hiện của thực hiện quyền tư pháp.

Viện kiểm sát thực hiện kháng nghị, kiến nghị cũng là một trong những hình thức kiểm sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Thực chất, kháng nghị là việc Viện kiểm sát không đồng tình với kết quả giải quyết sơ thẩm của Tòa sơ thẩm, nên Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị, yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết lại những nội dung trong vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát cho rằng Tòa án chưa giải quyết đúng. Như vậy, quyền kháng nghị cùng với các quyền khác của Viện kiểm sát đã xây dựng nên một cơ chế kiểm sát rất chặt chẽ, bảo đảm cho các hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được đúng đắn, hiệu quả.

Về các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan bổ trợ tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự

Tiếp cận quyền tư pháp một cách toàn diện nhất thì quyền tư pháp có trọng tâm là quyền xét xử do Tòa án thực hiện, ngoài ra còn là những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội. Như vậy, quyền tư pháp được thực hiện không chỉ bởi Tòa án mà cả Viện kiểm sát, các cơ quan, tổ chức trợ giúp tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, tư vấn pháp luật… Lý do giải thích cho việc xác định này là Tòa án thực hiện quyền xét xử, nhưng để thực hiện được hiệu quả quyền xét xử thì không thể chỉ có Tòa án mà còn có sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp. Tinh thần này đã được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Trong pháp luật tố tụng dân sự, vai trò của luật sư đã bước đầu được ghi nhận. Ngay từ phần đầu của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguyên tắc của luật tố tụng dân sự thì Điều 9 đã khẳng định, đương sự có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước Tòa án. Sau đó, một loạt các điều luật đã quy định về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong tố tụng dân sự. Với kiến thức pháp lý, kỹ năng hành nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp, luật sư là người chuyên nghiệp trong việc sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, vì vậy, luật sư có vai trò rất quan trọng đối với đương sự. Với đặc thù dùng luật sư để bảo vệ luật, có thể nói ở một phương diện nhất định thì hoạt động luật sư trong tố tụng dân sự cũng góp phần thực hiện quyền tư pháp.

Với một số vụ việc dân sự, để giải quyết được đúng thì cần thiết phải tiến hành giám định hoặc phải dựa vào các văn bản đã được công chứng. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các hoạt động này cũng đã được ghi nhận tại các điều như Điều 79, Điều 80… Các hoạt động này liên quan trực tiếp và hỗ trợ trực tiếp đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự nên ở một mức độ nhất định cũng là những hoạt động thực hiện quyền tư pháp.

Thực hiện quyền tư pháp trong pháp luật tố tụng dân sự còn ghi nhận một cơ quan có vai trò rất quan trọng nữa đó là cơ quan thi hành án dân sự. Cho đến giờ vẫn diễn ra sự tranh luận sôi nổi thi hành án có phải là hoạt động trong tố tụng dân sự hay không? Nếu hoạt động tố tụng dân sự được xác định là các hoạt động giải quyết vụ việc dân sự do Tòa án tiến hành thì hoạt động thi hành án không phải là hoạt động tố tụng dân sự, nhưng nếu xác định từ chức năng, nhiệm vụ thì thi hành án dân sự rõ ràng là hoạt động do cơ quan thi hành án dân sự đảm nhận với mục đích là thi hành được trên thực tế bản án, quyết định của Tòa án, tức củng cố kết quả xét xử của Tòa án trên thực tế. Như vậy, thi hành án phải gắn liền với hoạt động giải quyết vụ việc dân sự, tức là gắn liền với thực hiện quyền tư pháp. Có lẽ xác định được điều này nên ngay từ Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã nhắc đến hoạt động thi hành án dân sự. Sau đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng đã dành hẳn một phần (Phần thứ 9) để quy định về hoạt động thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng và hoạt động thi hành án dân sự cũng là một biểu hiện của thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội.

TS. Trần Phương Thảo

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. “Quyền tư pháp và cơ quan tư pháp ở Việt Nam”, TS. Lê Thu Hà - Văn phòng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương; “Cần phải hiểu sâu, hiểu đúng về “quyền tư pháp” của Tòa án”, TS. Lưu Bình Nhưỡng; “Quyền tư pháp và kiểm soát quyền tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, TS. Cao Anh Đô - Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

[2]. Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Điều 208 - Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.

[6]. Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: