Thứ năm 27/08/2026 07:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về cung cấp thông tin tài sản thi hành án

Tóm tắt: Minh bạch thông tin về tài sản của người phải thi hành án và việc kê khai, cung cấp thông tin về tài sản thi hành án của người phải thi hành án có vai trò quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án. Nhằm nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, bài viết đã chỉ ra một số hạn chế của pháp luật về cung cấp thông tin tài sản thi hành án, đồng thời cung cấp một số kinh nghiệm quốc tế bổ ích có liên quan.

Abstract: Transparency of information of judgment debtor and the enumeration, provision of information about assets for judgment execution of judgment debtor has an important role in the process of judgment execution organization. The paper points out some insufficiencies in the legal provisions about providing information about judgment execution assets, at the same time, accommodates some related international experience with a view to complete law in this area.

Việc minh bạch tài sản và nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án (THA) là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật THA dân sự, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người được THA, người phải THA và đến hiệu quả của quá trình THA. Theo nghiên cứu của TS. Wendy Kennett, nếu người phải THA có ý định chống lại việc THA thì người được THA sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ thông tin về tài sản của họ và tài sản đất đai, động sản hoặc tiền ở ngân hàng của người phải THA có thể dễ dàng chuyển giao cho người thứ ba đứng tên. Từ thực trạng trên, tác giả khẳng định rằng, chắc chắn ở một số quốc gia sẽ có sự hiện diện của những “hố đen”, mà ở đó người bị kiện và tài sản của họ có thể sẽ biến mất[1].

Nhận thức được tầm quan trọng về nghĩa vụ cung cấp thông tin tài sản của người phải THA đối với hiệu quả của công tác THA dân sự, pháp luật THA dân sự Việt Nam trong suốt thời gian qua luôn chú trọng hoàn thiện các quy định này, kể cả về số lượng các điều khoản lẫn nội dung điều chỉnh. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã có ít nhất ba điều đề cập đến thông tin về tài sản của người phải THA, đó là tại các điều 31, 89 và 92. Điều 31 quy định trong đơn yêu cầu THA mà người được THA nộp cho cơ quan THA phải có nội dung thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA. Khoản 1 Điều 89 quy định: “Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký”. Hoặc khoản 1 Điều 92 quy định: “Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải THA có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải THA để kê biên phần vốn góp đó…”. Nhìn lại các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải THA có thể dễ dàng nhận thấy rằng, hoặc là Luật chỉ yêu cầu người được THA cung cấp thông tin tài sản của người phải THA hoặc là yêu cầu các cơ quan có liên quan đang nắm giữ tài sản cung cấp thông tin về tài sản của người phải THA, trong khi thực tế thì người phải THA là người nắm rõ nhất về tất cả các thông tin về tài sản của mình, ví dụ các loại tài sản, nguồn gốc tài sản, địa chỉ nơi có tài sản, giá trị của từng loại tài sản… lại chưa được Luật quy định rõ ràng, đầy đủ về trách nhiệm cung cấp thông tin của họ. Hơn nữa, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng chưa quy định rõ về mức độ các thông tin (gồm toàn bộ các thông tin hay chỉ một phần thông tin về tài sản) được yêu cầu cung cấp. Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA và đến hiệu quả công tác THA dân sự nói chung.

Xuất phát từ những bất cập nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung và khi đó có ít nhất sáu điều (Điều 7, Điều 7a, Điều 31, Điều 44, Điều 89 và Điều 92) quy định về thông tin tài sản của người phải THA như chủ thể được quyền tiếp cận thông tin, chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin và các loại thông tin được cung cấp… Cụ thể, đối tượng được quyền xác minh, tiếp cận thông tin tài sản của người phải THA bao gồm người được THA hoặc người khác do người được THA ủy quyền (khoản 5 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014), chấp hành viên cơ quan THA dân sự (khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014) và thủ trưởng cơ quan THA dân sự (Điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải THA và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THA dân sự). Đối tượng Luật quy định cung cấp thông tin về tài sản THA bao gồm người được THA; người phải THA; các cơ quan, tổ chức có liên quan đang nắm giữ thông tin về tài sản của người phải THA. Ví dụ, về trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản THA của người được THA, Luật đã quy định đây là quyền của người được THA nên họ không có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện, theo đó, họ có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện THA của người phải THA (điểm đ khoản 1 Điều 7, điểm đ khoản 1 Điều 31 và khoản 5 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014), đặc biệt, Luật đã quy định khuyến khích người được THA cung cấp thông tin tài sản của người phải THA, đó là người được THA sẽ được miễn, giảm phí THA trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện THA của người phải THA (điểm k khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014). Điểm mới khác biệt so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đó là tại Điều 7a, Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định người phải THA có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều kiện THA; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó (điểm b khoản 2 và khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014). Những quy định khác về yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản THA của người phải THA được quy định tại Điều 89 và Điều 92 được giữ nguyên như quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Mặc dù có những tiến bộ nhất định trong các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải THA, tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện để các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản THA được cụ thể, rõ ràng và có hiệu quả thi hành trên thực tế:

Một là, về thời điểm cung cấp thông tin tài sản THA, thời điểm cung cấp thông tin về tài sản THA của người phải THA có liên hệ mật thiết với các bước THA, có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả THA. Theo quy định của pháp luật thì đối với các vụ án dân sự thông thường (trừ trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) trong thời hạn 10 ngày, chấp hành viên sẽ tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA khi hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện thi hành (khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA (khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014). Như vậy, sau khoảng thời gian 20 ngày nêu trên cùng với thời gian để cơ quan THA dân sự ra quyết định THA, gửi thông báo về THA (chưa tính khoảng thời gian kể từ thời điểm người được THA nhận được bản án, quyết định cho đến khi họ quyết định làm đơn yêu cầu THA gửi cơ quan THA dân sự) thì người phải THA mới phải cung cấp thông tin về tài sản của mình cho cơ quan THA dân sự. Sau khoảng thời gian khá dài như vậy, người phải THA mới phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản THA của mình, quy định như vậy liệu đã hợp lý chưa nếu người phải THA cố tình tìm cách trốn tránh nghĩa vụ THA của mình không những sau khi có bản án mà họ còn tìm cách tẩu tán tài sản từ trước khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành? Ví dụ, theo Quyết định số 16/DSST ngày 16/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện X tuyên vợ chồng anh A và chị B phải thanh toán trả nợ cho chị L số tiền 390.000.000 đồng và lãi suất chậm THA. Quá trình xác minh cho thấy, anh A và chị B có tài sản là một mảnh đất diện tích 342m2 tại huyện Y. Tuy nhiên, trước đó vào ngày 06/3/2015, anh A và chị B đã lập hợp đồng công chứng tặng cho con trai là C. Đến ngày 14/3/2015, mảnh đất trên đã hoàn tất việc sang tên tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trước thời điểm có bản án đúng 02 ngày[2]. Từ ví dụ này cho thấy, đến thời điểm người phải THA có nghĩa vụ cung cấp thông tin tài sản THA cho chấp hành viên và cho người được THA thì tài sản phải THA đã được chuyển cho người khác từ trước đó. Quy định về thời điểm cung cấp thông tin về tài sản của người phải THA cần phải nghiên cứu lại để chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu kinh nghiệm, thông lệ quốc tế để hoàn thiện pháp luật THA dân sự, bảo đảm quyền lợi công bằng giữa người được THA và người phải THA.

Hai là, về nội dung và mức độ các thông tin tài sản của người phải THA phải cung cấp, có thể nói, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã có một quy định tiến bộ vượt bậc so với trước đây, đó là yêu cầu người phải THA dân sự cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA với cơ quan THA dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình. Ngoài ra, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự cũng đã hướng dẫn chi tiết, cụ thể chấp hành viên yêu cầu người phải THA kê khai rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ THA. Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện THA về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện THA. Trường hợp người phải THA không kê khai hoặc phát hiện việc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, chấp hành viên có thể xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật (Điều 9). Tuy nhiên, có hai vấn đề phát sinh ở đây: (i) Quy định người phải THA có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA có đồng nghĩa với việc họ phải cung cấp đầy đủ thông tin về tất cả các loại tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của mình hay chỉ cung cấp đầy đủ các thông tin về một phần hoặc một loại tài sản nào đó tương ứng với nghĩa vụ THA? (ii) Pháp luật về kê khai tài sản ở Việt Nam cũng chưa hoàn thiện, chế tài xử lý liên quan đến kê khai tài sản cũng chưa đủ nghiêm khắc nếu người phải THA không kê khai đủ hoặc kê khai không trung thực, hơn nữa, quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật THA dân sự về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản nhìn chung còn quá nhẹ, chưa đủ nghiêm khắc để răn đe người phải THA nếu họ không kê khai hoặc kê khai không trung thực.

Ba là, các quy định của pháp luật THA dân sự về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải THA cũng mới chủ yếu đề cập đến việc cung cấp thông tin về tài sản của người phải THA trong phạm vi giới hạn lãnh thổ Việt Nam mà chưa có những quy định cần thiết, cụ thể về việc cung cấp thông tin và cách xử lý thông tin về tài sản THA nếu tài sản của người phải THA nằm ở nước ngoài. Trong khi đối với các vụ án kinh tế lớn, tài sản phải THA của người phải THA ở nước ngoài thường có giá trị lớn. Mặc dù Điều 181 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực THA dân sự, tuy nhiên, đây cũng chỉ là những quy định còn mang tính chung chung trong luật, thực tiễn việc xác minh những thông tin tài sản của người phải THA ở nước ngoài trong thời gian qua đã gặp không ít khó khăn.

Bốn là, việc quy định tùy nghi về việc cung cấp thông tin tài sản THA đối với người được THA liệu đã bao quát và bảo đảm được quyền lợi của chính họ nói riêng và bảo vệ quyền và lợi ích công (quyền lợi của Nhà nước) nói chung trong tất cả các trường hợp chưa? Đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện pháp luật THA dân sự Việt Nam trong thời gian tới. Thực tế, bản án, quyết định của Tòa án là sản phẩm của tất cả các loại tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại… xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với các chủ thể rất đa dạng từ cá nhân, tổ chức cho đến Nhà nước. Người được THA, người phải THA và người thứ ba có quyền và lợi ích liên quan có thể chỉ là những cá nhân có tranh chấp với nhau, có thể giữa cá nhân với doanh nghiệp, có thể giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau, có thể giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, có thể giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau (giữa các công ty con với nhau và với công ty mẹ) hoặc có thể giữa các cá nhân là người đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước (công ty mẹ) với các công ty con… Thực tế THA đối với các vụ án kinh tế lớn thời gian qua cho thấy, nếu người phải THA là người đứng đầu các công ty mẹ và người được THA là các công ty con và Nhà nước, trong trường hợp này nếu vì một lý do nào đó, họ không yêu cầu THA hoặc chậm yêu cầu THA thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổ chức THA nói riêng và đến hiệu quả của công tác THA nói chung. Kết quả THA đối với một số vụ án kinh tế, tham nhũng lớn thời gian qua đạt tỉ lệ thấp do nhiều nguyên nhân và đây có thể là một trong những lý do quan trọng, ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của nhân dân. Do vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của người được THA trong việc cung cấp thông tin tài sản THA là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay[3].

Từ những bất cập trong các quy định của pháp luật về THA dân sự về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải THA như đã phân tích ở trên cho thấy, yêu cầu hoàn thiện, bổ sung các quy định này là hết sức cấp bách và cần thiết. Trong đó, việc nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế trên cơ sở phù hợp với thực tiễn Việt Nam đóng vai trò quan trọng. Dưới đây là một vài tham khảo kinh nghiệm quốc tế và các nước về lĩnh vực này.

Từ hơn 10 năm trước, nhận thức được ý nghĩa và vai trò của công tác THA dân sự nói chung, tầm quan trọng và ảnh hưởng của việc minh bạch tài sản của người phải THA trong quá trình THA nói riêng, Ủy ban châu Âu đã nghiên cứu và có Báo cáo khoa học về sự minh bạch tài sản của người phải THA[4], trong đó nhấn mạnh người phải THA có nghĩa vụ cung cấp tất cả thông tin về tài sản của mình. Trong lĩnh vực tư pháp ở châu Âu, các thông tin về tài sản của người phải THA không bị giới hạn bởi phạm vi lãnh thổ nơi thực hiện các thủ tục THA dân sự ở các quốc gia thành viên, việc tự do chuyển giao các bản án được bảo đảm, tất cả tài sản của người phải THA theo nguyên tắc là đối tượng để THA[5] Tuy nhiên, bên cạnh quyền được thông tin về tài sản THA của người được THA thì cũng phải tôn trọng nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân của người phải THA[6] như đã được quy định tại Chỉ thị về bảo vệ dữ liệu cá nhân số 95/46/EC[7]. Cũng theo Báo cáo này thì vấn đề chính đối với tuyên bố của người phải THA đó là tuyên bố đó được đưa ra với tư cách cá nhân. Nếu người phải THA từ chối cung cấp thông tin về tài sản của họ, thì cơ quan THA (với sự giúp đỡ của cơ quan công an) cũng có thể thực hiện việc cưỡng chế về thân thể và thực hiện việc bắt giữ. Ví dụ, ở Ireland và ở Anh, việc không tuân thủ lệnh của Tòa án được coi như là hành vi không tôn trọng Tòa án. Ở Bồ Đào Nha, sự miễn cưỡng chấp hành của người phải THA cũng có thể chịu hình phạt hoặc ở nhiều quốc gia thành viên khác có thể áp dụng chế tài hình sự bằng hình thức phạt tù (tối đa một hoặc thậm chí hai năm) đối với người phải THA (Ví dụ: Đan Mạch, Đức, Ireland, Anh, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Áo, Bồ Đào Nha, Thụy Điển). Việc không cung cấp thông tin về tài sản của mình hoặc thông tin sai về tài sản THA cũng được xem như là một hành vi phạm tội hình sự. Vì vậy, ở một số quốc gia thành viên châu Âu, bản tuyên bố thông tin về tài sản THA của người phải THA được tuyên thệ bằng một lời thề và được xem như là một lời khai bằng văn bản của người phải THA8.

Quy định số 655/2014 ngày 15/5/2014 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu[9] đã thiết lập những biện pháp bảo đảm an toàn về thông tin tài sản THA cho người được THA. Điều 14 của Quy định này cho phép người được THA ở một quốc gia thành viên châu Âu có quyền yêu cầu cơ quan Tòa án (ở một quốc gia thành viên khác, nơi người phải THA có tài khoản bị yêu cầu thu giữ) yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nắm giữ thông tin về tài sản của người phải THA, bao gồm các thông tin về tên ngân hàng, số tài khoản ngân hàng của người phải THA. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả công tác THA dân sự, Bản kiến nghị số 17 của Hội đồng Bộ trưởng các quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu về THA[10] cũng đã quy định trách nhiệm của người phải THA trong việc cung cấp các thông tin mới nhất về các khoản thu nhập, các loại tài sản và những tài sản khác (nếu có)[11].

Ngoài khu vực châu Âu thì các nước khu vực châu Phi cũng đặc biệt quan tâm đến công tác THA dân sự nói chung, trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản THA dân sự nói riêng. Ví dụ, đề cập đến trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải THA, Điều 50 Đạo luật thống nhất Ohada[12] ngày 10/4/1998[13] quy định rằng, việc tịch thu tài sản của người phải THA có thể được thực hiện đối với tất cả tài sản thuộc về người phải THA, thậm chí tài sản đó đang được nắm giữ bởi bên thứ ba, trừ trường hợp luật pháp quốc gia của mỗi bên ký kết tuyên bố là tài sản đó không được xâm phạm. Cũng liên quan đến vấn đề tịch thu tài sản của người phải THA, Điều 56 Đạo luật thống nhất Ohada quy định việc tịch thu có thể được thực hiện đối với tất cả tài sản hữu hình hoặc vô hình thuộc sở hữu cá nhân của người phải THA.

Đối với trách nhiệm của người được THA trong việc cung cấp thông tin tài sản THA, kinh nghiệm ở Nhật Bản cho thấy, khi người được THA có đơn yêu cầu THA thì việc THA mới được tiến hành. Trong đơn yêu cầu phải chỉ rõ tài sản (tiền, bất động sản...) của người phải THA có ở đâu, tình trạng như thế nào? Người được THA phải tự tìm hiểu về tình trạng tài sản của người phải THA để cung cấp thông tin cho cơ quan THA. Đây là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được của việc THA[14].

Những phân tích trên đã minh chứng rằng, pháp luật quốc tế và các nước rất quan tâm đến thông tin về tài sản THA vì nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với hiệu quả công tác THA dân sự. Suy rộng ra, những vấn đề pháp lý khác về “thông tin” và “tài sản” còn là vấn đề của nhân quyền và thuộc phạm trù các quyền cơ bản của công dân do pháp luật quốc tế điều chỉnh. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thông tin tài sản THA không chỉ có ý nghĩa trong nước mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu rộng, giúp công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam thành công, góp phần đưa đất nước hội nhập với cộng đồng quốc tế.

ThS. Nguyễn Văn Nghĩa

Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Tác giả Dr. Wendy Kennett, Thi hành án dân sự ở châu Âu, Oxford Univerisy Press (2000), tr. 99.

[2]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Khó khăn khi đương sự tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, http://thads.moj.gov.vn/hanoi/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=30. 23/11/2016, truy cập ngày 09/6/2017.

[3]. TS. Nguyễn Thanh Thủy, Luận án Tiến sỹ Luật học, “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” (2008), tr. 63.

[4]. Báo cáo số 128 ngày 06/3/2008 về minh bạch tài sản của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở cộng đồng châu Âu.

[5]. Báo cáo số 128 ngày 06/3/2008 về minh bạch tài sản của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở cộng đồng châu Âu, tr. 12.

[6]. Báo cáo số 128 ngày 06/3/2008 về minh bạch tài sản của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở cộng đồng châu Âu, tr. 4.

[7]. Chỉ thị số 95/46/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu ngày 24/10/1995 về việc bảo vệ cá nhân về vấn đề xử lý dữ liệu cá nhân và việc tự do truyền tải những dữ liệu đó.

[8]. Báo cáo số 128 ngày 06/3/2008 về minh bạch tài sản của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở cộng đồng châu Âu, tr. 11.

[9]. Về thủ tục thiết lập chỉ thị duy trì hiện trạng tài khoản để thực hiện thuận lợi việc thi hành án ở phạm vi ngoài biên giới quốc gia trong lĩnh vực dân sự và các vấn đề thương mại.

[10]. Bản kiến nghị số 17 năm 2003 của Ủy ban Bộ trưởng các quốc gia thành viên về thi hành án, đã được thông qua bởi Ủy ban các Bộ trưởng ngày 09/9/2003 tại phiên họp thứ 851.

[11]. Nguyên tắc số III.1.d.

[12]. OHADA, viết tắt của từ tiếng Pháp là “Organisation pour l’Harmonisation en Afrique du Droit des Affaires”, tiếng Anh là “Organization for the Harmonization of Business Law in Africa”, nghĩa là Tổ chức Hài hòa hóa Pháp luật Kinh doanh châu Phi.

[13]. Đạo luật thống nhất của châu Phi về tổ chức các thủ tục thu hồi nợ đơn giản và các biện pháp thi hành án.

[14]. Tiến sỹ Nguyễn Thanh Thủy, Luận án Tiến sỹ Luật học, “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” (2008), tr. 63, Chú thích số 16: “Bộ Tư pháp (2000), Báo cáo của Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế về kết quả tọa đàm pháp luật thi hành án dân sự Nhật Bản từ ngày 2-3 và 6-7 tháng 10/2000 tại Bộ Tư pháp, Hà Nội”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: