Chủ nhật 19/04/2026 15:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế khi sử dụng người lao động khuyết tật

Bình đẳng trong cơ hội việc làm cho người khuyết tật là một trong những vấn đề quan trọng để thực thi quyền con người. Bên cạnh việc hỗ trợ người khuyết tật tự khởi nghiệp thì việc thúc đẩy người sử dụng lao động tuyển dụng người khuyết tật cần có những chính sách ưu đãi đặc biệt. Trong bài viết, tác giả làm rõ chính sách ưu đãi thuế cho người sử dụng lao động khi sử dụng người khuyết tật về chủ thể, điều kiện, mức hưởng ưu đãi dành cho người sử dụng lao động, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật, thông qua đó để nhận ra những điểm bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo và đưa ra hướng khắc phục.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình hướng đến sự phát triển bền vững của loài người, thực thi nhân quyền thì một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết mà Nhà nước phải hướng đến. Đặc biệt là nhìn nhận và bảo vệ quyền của nhóm yếu thế nhất trong xã hội là người khuyết tật cần phải được đề cao, vấn đề này cũng là một trong những tiêu chí cốt lõi để đánh giá sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, “năm 2021, ước tính có khoảng 1,3 tỷ người, chiếm 16% dân số thế giới bị khuyết tật nghiêm trọng. Dự báo con số này sẽ tăng lên do sự gia tăng những căn bệnh không lây nhiễm và sự già hóa dân số”[1]. Riêng tại Việt Nam, theo kết quả điều tra quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam năm 2016 thì “kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy 7,06% dân số từ 2 tuổi trở lên là người khuyết tật”[2]. Từ đó ta thấy, người khuyết tật chiếm tỷ lệ rất lớn trong xã hội, họ là nhóm yếu thế rất dễ bị tổn thương nên cần được quan tâm, hỗ trợ từ mọi nguồn lực để xóa bỏ sự mặc cảm, kỳ thị.

Xét từ góc độ quyền con người thì giống như tất cả mọi người, người khuyết tật cần phải được bảo đảm tự do, bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá và được cống hiến, được khẳng định giá trị cá nhân. Tuy nhiên, do sự hạn chế trong các hoạt động nên việc tiếp cận việc làm của người khuyết tật đang gặp rất nhiều khó khăn do nhà tuyển dụng “e ngại” tuyển dụng người khuyết tật và năng suất lao động thấp, thêm vào đó phải tốn thêm chi phí để xây dụng môi trường làm việc phù hợp với họ theo quy định của pháp luật.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, việc sử dụng người lao động khuyết tật cũng gây rất nhiều khó khăn cho phía người sử dụng lao động. Bên cạnh khó khăn trong việc quản lý - điều hành người lao động khuyết tật, đầu tư nhiều chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật nhưng có thể năng suất lao động thấp. Đa số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thông thường mang tính chất nhân đạo nhiều hơn dựa trên nhu cầu lao động của người sử dụng lao động. Vì vậy, việc Nhà nước có biện pháp hỗ trợ phù hợp để kích thích, tạo động lực cho người sử dụng lao động thuê, mướn người lao động khuyết tật tham gia lao động là rất cấp thiết, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho người lao động khuyết tật tìm kiếm việc làm, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần giảm thiểu sự mặc cảm, áp lực tâm lý của người lao động khuyết tật, cao hơn nữa là góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam bền vững.

Tuy nhiên, những ưu đãi của Nhà nước đối với người sử dụng lao động khuyết tật hiện nay có những vấn đề chưa phù hợp, đặc biệt là chính sách ưu đãi thuế còn có sự chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu sót nên việc triển khai trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế và khó khăn trong việc triển khai các quy định này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra giải pháp hoàn thiện.

2. Quy định pháp luật, bất cập và hướng hoàn thiện về ưu đãi thuế khi sử dụng người lao động khuyết tật

2.1. Điều kiện về số lượng và tỷ lệ sử dụng người khuyết tật để được hưởng ưu đãi thuế

Để được miễn thuế thì chủ thể sử dụng lao động phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Thứ nhất, về tỷ lệ sử dụng người lao động khuyết tật.

Theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật (Nghị định số 28/2012/NĐ-CP) thì cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở đây, quy định thuần túy là tỷ lệ lao động người khuyết tật phải đạt từ 30% mới được miễn thuế. Tuy nhiên, theo tinh thần của khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Thông tư số 78/2014/TT-BTC) thì mức 30% để miễn thuế tính cộng dồn bao gồm tất cả các nhóm đối tượng “người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV bình quân trong năm chiếm từ 30% trở lên trong tổng số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp”. Cách tính thuế của Thông tư số 78/2014/TT-BTC sẽ có lợi và phù hợp hơn cho người sử dụng lao động, thúc đẩy người sử dụng lao động sử dụng đa dạng nhóm lao động được khuyến khích sử dụng mà vẫn được cộng dồn lại để tính ưu đãi thuế. Vì vậy, quy định hai văn bản chưa đồng nhất nhau nhưng theo hiệu lực văn bản thì Nghị định số 28/2012/NĐ-CP có giá trị pháp lý cao hơn Thông tư số 78/2014/TT-BTC, nhưng Thông tư số 78/2014/TT-BTC lại ra đời sau, là văn bản chuyên ngành và hợp lý hơn. Vì vậy, nên chăng Nghị định số 28/2012/NĐ-CP chỉ cần ghi nhận về việc miễn thuế, còn tỷ lệ nào để được miễn nên áp dụng những quy định pháp luật chuyên ngành về thuế.

Thứ hai, về quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC “doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế quy định tại khoản này là doanh nghiệp có số lao động bình quân trong năm ít nhất từ 20 người trở lên và không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản.

Theo đó, điều kiện để doanh nghiệp được hưởng chính sách này phải có quy mô lao động từ 20 người trở lên là chưa phù hợp đối với tình hình kinh tế Việt Nam khi đa số các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ sẽ không thể được hưởng chính sách ưu đãi này, trên thực tế, “các doanh nghiệp loại này chiếm đến 98% tỷ lệ doanh nghiệp ở cả ba nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ tại Việt Nam hiện nay”[3]. Vậy, nếu những doanh nghiệp sử dụng 100% lao động là người khuyết tật làm việc nhưng quy mô dưới 20 người sẽ không được hưởng ưu đãi thuế này là điều bất hợp lý.

Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau: “Doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế quy định tại khoản này là doanh nghiệp có số lao động bình quân trong năm ít nhất từ 20 người trở lên, nếu số lao động dưới 20 người thì phải có ít nhất 06 người lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV và không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản”. Theo tác giả, việc sửa đổi, bổ sung này phù hợp vì tính theo tỷ lệ vẫn bảo đảm được tỷ lệ thấp nhất của quy định cũ (30% của doanh nghiệp từ 20 người trở lên) và vẫn bảo đảm được những doanh nghiệp nhỏ có quy mô dưới 20 người vẫn có thể được hưởng chính sách miễn thuế.

2.2. Chủ thể được hưởng ưu đãi thuế

Theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP thì cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định “cơ sở sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh”.

Theo Điều 2 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định về người nộp thuế thì hộ gia đình không thuộc diện nộp loại thuế này. Căn cứ khoản 1 Điều 1 Thông tư số 92/2015/TT-BTC[4], hộ gia đình thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân nếu có mức thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên. Từ đó suy ra hộ gia đình sẽ không được hưởng chính sách ưu đãi thuế khi sử dụng thuê, mướn người khuyết tật.

Để làm sáng tỏ hơn điều này thì căn cứ Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và văn bản hướng dẫn thi hành không quy định hộ gia đình được miễn thuế nếu thuộc trường hợp “sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”. Như vậy, có thể kết luận rằng, đối với trường hợp hộ gia đình sử dụng “từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật” sẽ không được hưởng chính sách ưu đãi thuế. Đặt vào bối cảnh lịch sử khi quy định này ra đời để giải thích nguyên nhân, vì tại thời điểm này pháp luật quy định hộ gia đình không được sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên (Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp) cho nên nhà làm luật mặc định là hộ gia đình sẽ không thuộc diện miễn thuế vì sử dụng dưới 20 lao động. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật không còn hạn chế việc sử dụng lao động của hộ gia đình và trên thực tế, rất nhiều hộ gia đình sử dụng rất nhiều lao động và có nhiều hộ gia đình sử dụng 100% người lao động là người khuyết tật, do đó, quy định về đối tượng được miễn thuế này đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay.

Từ phân tích trên cho thấy, quy định pháp luật còn chưa rõ ràng giữa các văn bản, nguyên nhân do sử dụng thuật ngữ pháp lý chưa thống nhất dẫn đến nhiều vấn đề còn thiếu sót. Theo tác giả, tinh thần của điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP là người làm luật mong muốn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân cho tất cả “cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”.

Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật theo hướng:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP như sau: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân”.

Thứ hai, bổ sung Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định về thu nhập miễn thuế: “Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình sử dụng từ 20 lao động trở lên, trong đó có từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); nếu trường hợp hộ gia đình sử dụng dưới 20 lao động thì phải có ít nhất 06 người lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Việc bổ sung này là hoàn toàn phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, hộ kinh doanh là mô hình rất phổ biến và lâu đời “cả nước đã có khoảng hơn 5 triệu hộ kinh doanh”[5] phân bố ở tất cả các vùng, miền. Điều này tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, ghi nhận quyền lợi chính đáng của các chủ thể sản xuất, kinh doanh.

2.3. Về mức ưu đãi thuế

Pháp luật quy định về miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho chủ thể sử dụng người lao động là người khuyết tật làm việc đủ điều kiện luật định “từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”, không có chính sách giảm thuế.

Xét từ góc độ thực tiễn, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động với quy mô rất lớn đến vài trăm nghìn lao động, nên có thể sử dụng số lượng lớn người lao động là người khuyết tật làm việc nhưng không thể nào đạt được tỷ lệ 30% trên tổng số lao động. Vì vậy, cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng số lượng lớn lao động là người khuyết tật nhưng chưa đạt mức 30% trên tổng số lao động để khuyến khích họ sử dụng người khuyết tật.

Trong pháp luật thuế, chủ thể sử dụng lao động thuộc nhóm lao động như lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc thiểu số, lao động bị nhiễm HIV sẽ được hưởng ưu đãi thuế (bao gồm miễn hay giảm thuế hay không tính thuế). Trong đó, chi phí hợp lý chi thêm cho nhóm lao động này sẽ được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, đối với khoản chi thêm người lao động là người dân tộc thiểu số sẽ “được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số theo hướng dẫn” theo Điều 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, nhưng số tiền chi thêm cho lao động là người khuyết tật lại không được giảm thuế.

Tác giả kiến nghị bổ sung quy định pháp luật về giảm thuế cho đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân theo hai hướng:

Phương án thứ nhất có thể áp dụng tương tự quy định tại Điều 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC về giảm thuế khi sử dụng người lao động là người dân tộc thiểu số: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp mức giảm tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Tiếp đó, hoàn thiện quy định giảm thuế thu nhập cá nhân tương tự đối với hộ gia đình. Số tiền thực chi này có thể bao gồm tiền khám sức khỏe, đào tạo nghề, học phí đi học (nếu có) cộng chênh lệch tiền lương ngạch bậc (bảo đảm 100% lương cho người đi học); tiền hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Phương án thứ hai, có thể xây dựng quy định theo hướng về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ sử dụng người khuyết tật trên tổng số lao động. Ví dụ như giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân khi sử dụng “từ 20% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Tuy nhiên, mức tỷ lệ giảm thuế cần được nghiên cứu sâu hơn và cần cân đối phù hợp, quy định này kích thích người sử dụng lao động sử dụng lao động khuyết tật để được hưởng ưu đãi theo nhu cầu mà không ảnh hưởng đển hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình./.

NCS.ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân

Đại học Đồng Tháp


[1] WHO, 2022, Global report on health equity for persons with disabilities, https://www.who.int/publications/i/item/9789240063600.

[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016), Điều tra quốc gia về người khuyết tật 2016, tr. 15.

[3] Nguyễn Thị Kim Lý (2020), “Một số giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển”, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 3/2020, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/mot-so-giai-phap-thuc-day-doanh-nghiep-nho-va-vua-phat-trien-325683.html.

[4] Thông tư ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế.

[5] Nguyễn Thị Luyến (2022), Một số vấn đề trong “chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM248590, truy cập ngày 28/03/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: