Thứ bảy 14/03/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế khi sử dụng người lao động khuyết tật

Bình đẳng trong cơ hội việc làm cho người khuyết tật là một trong những vấn đề quan trọng để thực thi quyền con người. Bên cạnh việc hỗ trợ người khuyết tật tự khởi nghiệp thì việc thúc đẩy người sử dụng lao động tuyển dụng người khuyết tật cần có những chính sách ưu đãi đặc biệt. Trong bài viết, tác giả làm rõ chính sách ưu đãi thuế cho người sử dụng lao động khi sử dụng người khuyết tật về chủ thể, điều kiện, mức hưởng ưu đãi dành cho người sử dụng lao động, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật, thông qua đó để nhận ra những điểm bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo và đưa ra hướng khắc phục.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình hướng đến sự phát triển bền vững của loài người, thực thi nhân quyền thì một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết mà Nhà nước phải hướng đến. Đặc biệt là nhìn nhận và bảo vệ quyền của nhóm yếu thế nhất trong xã hội là người khuyết tật cần phải được đề cao, vấn đề này cũng là một trong những tiêu chí cốt lõi để đánh giá sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, “năm 2021, ước tính có khoảng 1,3 tỷ người, chiếm 16% dân số thế giới bị khuyết tật nghiêm trọng. Dự báo con số này sẽ tăng lên do sự gia tăng những căn bệnh không lây nhiễm và sự già hóa dân số”[1]. Riêng tại Việt Nam, theo kết quả điều tra quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam năm 2016 thì “kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy 7,06% dân số từ 2 tuổi trở lên là người khuyết tật”[2]. Từ đó ta thấy, người khuyết tật chiếm tỷ lệ rất lớn trong xã hội, họ là nhóm yếu thế rất dễ bị tổn thương nên cần được quan tâm, hỗ trợ từ mọi nguồn lực để xóa bỏ sự mặc cảm, kỳ thị.

Xét từ góc độ quyền con người thì giống như tất cả mọi người, người khuyết tật cần phải được bảo đảm tự do, bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá và được cống hiến, được khẳng định giá trị cá nhân. Tuy nhiên, do sự hạn chế trong các hoạt động nên việc tiếp cận việc làm của người khuyết tật đang gặp rất nhiều khó khăn do nhà tuyển dụng “e ngại” tuyển dụng người khuyết tật và năng suất lao động thấp, thêm vào đó phải tốn thêm chi phí để xây dụng môi trường làm việc phù hợp với họ theo quy định của pháp luật.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, việc sử dụng người lao động khuyết tật cũng gây rất nhiều khó khăn cho phía người sử dụng lao động. Bên cạnh khó khăn trong việc quản lý - điều hành người lao động khuyết tật, đầu tư nhiều chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật nhưng có thể năng suất lao động thấp. Đa số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thông thường mang tính chất nhân đạo nhiều hơn dựa trên nhu cầu lao động của người sử dụng lao động. Vì vậy, việc Nhà nước có biện pháp hỗ trợ phù hợp để kích thích, tạo động lực cho người sử dụng lao động thuê, mướn người lao động khuyết tật tham gia lao động là rất cấp thiết, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho người lao động khuyết tật tìm kiếm việc làm, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần giảm thiểu sự mặc cảm, áp lực tâm lý của người lao động khuyết tật, cao hơn nữa là góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam bền vững.

Tuy nhiên, những ưu đãi của Nhà nước đối với người sử dụng lao động khuyết tật hiện nay có những vấn đề chưa phù hợp, đặc biệt là chính sách ưu đãi thuế còn có sự chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu sót nên việc triển khai trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế và khó khăn trong việc triển khai các quy định này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra giải pháp hoàn thiện.

2. Quy định pháp luật, bất cập và hướng hoàn thiện về ưu đãi thuế khi sử dụng người lao động khuyết tật

2.1. Điều kiện về số lượng và tỷ lệ sử dụng người khuyết tật để được hưởng ưu đãi thuế

Để được miễn thuế thì chủ thể sử dụng lao động phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Thứ nhất, về tỷ lệ sử dụng người lao động khuyết tật.

Theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật (Nghị định số 28/2012/NĐ-CP) thì cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở đây, quy định thuần túy là tỷ lệ lao động người khuyết tật phải đạt từ 30% mới được miễn thuế. Tuy nhiên, theo tinh thần của khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Thông tư số 78/2014/TT-BTC) thì mức 30% để miễn thuế tính cộng dồn bao gồm tất cả các nhóm đối tượng “người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV bình quân trong năm chiếm từ 30% trở lên trong tổng số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp”. Cách tính thuế của Thông tư số 78/2014/TT-BTC sẽ có lợi và phù hợp hơn cho người sử dụng lao động, thúc đẩy người sử dụng lao động sử dụng đa dạng nhóm lao động được khuyến khích sử dụng mà vẫn được cộng dồn lại để tính ưu đãi thuế. Vì vậy, quy định hai văn bản chưa đồng nhất nhau nhưng theo hiệu lực văn bản thì Nghị định số 28/2012/NĐ-CP có giá trị pháp lý cao hơn Thông tư số 78/2014/TT-BTC, nhưng Thông tư số 78/2014/TT-BTC lại ra đời sau, là văn bản chuyên ngành và hợp lý hơn. Vì vậy, nên chăng Nghị định số 28/2012/NĐ-CP chỉ cần ghi nhận về việc miễn thuế, còn tỷ lệ nào để được miễn nên áp dụng những quy định pháp luật chuyên ngành về thuế.

Thứ hai, về quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC “doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế quy định tại khoản này là doanh nghiệp có số lao động bình quân trong năm ít nhất từ 20 người trở lên và không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản.

Theo đó, điều kiện để doanh nghiệp được hưởng chính sách này phải có quy mô lao động từ 20 người trở lên là chưa phù hợp đối với tình hình kinh tế Việt Nam khi đa số các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ sẽ không thể được hưởng chính sách ưu đãi này, trên thực tế, “các doanh nghiệp loại này chiếm đến 98% tỷ lệ doanh nghiệp ở cả ba nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ tại Việt Nam hiện nay”[3]. Vậy, nếu những doanh nghiệp sử dụng 100% lao động là người khuyết tật làm việc nhưng quy mô dưới 20 người sẽ không được hưởng ưu đãi thuế này là điều bất hợp lý.

Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau: “Doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế quy định tại khoản này là doanh nghiệp có số lao động bình quân trong năm ít nhất từ 20 người trở lên, nếu số lao động dưới 20 người thì phải có ít nhất 06 người lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV và không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản”. Theo tác giả, việc sửa đổi, bổ sung này phù hợp vì tính theo tỷ lệ vẫn bảo đảm được tỷ lệ thấp nhất của quy định cũ (30% của doanh nghiệp từ 20 người trở lên) và vẫn bảo đảm được những doanh nghiệp nhỏ có quy mô dưới 20 người vẫn có thể được hưởng chính sách miễn thuế.

2.2. Chủ thể được hưởng ưu đãi thuế

Theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP thì cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định “cơ sở sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh”.

Theo Điều 2 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định về người nộp thuế thì hộ gia đình không thuộc diện nộp loại thuế này. Căn cứ khoản 1 Điều 1 Thông tư số 92/2015/TT-BTC[4], hộ gia đình thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân nếu có mức thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên. Từ đó suy ra hộ gia đình sẽ không được hưởng chính sách ưu đãi thuế khi sử dụng thuê, mướn người khuyết tật.

Để làm sáng tỏ hơn điều này thì căn cứ Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và văn bản hướng dẫn thi hành không quy định hộ gia đình được miễn thuế nếu thuộc trường hợp “sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”. Như vậy, có thể kết luận rằng, đối với trường hợp hộ gia đình sử dụng “từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật” sẽ không được hưởng chính sách ưu đãi thuế. Đặt vào bối cảnh lịch sử khi quy định này ra đời để giải thích nguyên nhân, vì tại thời điểm này pháp luật quy định hộ gia đình không được sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên (Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp) cho nên nhà làm luật mặc định là hộ gia đình sẽ không thuộc diện miễn thuế vì sử dụng dưới 20 lao động. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật không còn hạn chế việc sử dụng lao động của hộ gia đình và trên thực tế, rất nhiều hộ gia đình sử dụng rất nhiều lao động và có nhiều hộ gia đình sử dụng 100% người lao động là người khuyết tật, do đó, quy định về đối tượng được miễn thuế này đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay.

Từ phân tích trên cho thấy, quy định pháp luật còn chưa rõ ràng giữa các văn bản, nguyên nhân do sử dụng thuật ngữ pháp lý chưa thống nhất dẫn đến nhiều vấn đề còn thiếu sót. Theo tác giả, tinh thần của điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP là người làm luật mong muốn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân cho tất cả “cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”.

Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật theo hướng:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP như sau: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân”.

Thứ hai, bổ sung Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định về thu nhập miễn thuế: “Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình sử dụng từ 20 lao động trở lên, trong đó có từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); nếu trường hợp hộ gia đình sử dụng dưới 20 lao động thì phải có ít nhất 06 người lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Việc bổ sung này là hoàn toàn phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, hộ kinh doanh là mô hình rất phổ biến và lâu đời “cả nước đã có khoảng hơn 5 triệu hộ kinh doanh”[5] phân bố ở tất cả các vùng, miền. Điều này tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, ghi nhận quyền lợi chính đáng của các chủ thể sản xuất, kinh doanh.

2.3. Về mức ưu đãi thuế

Pháp luật quy định về miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho chủ thể sử dụng người lao động là người khuyết tật làm việc đủ điều kiện luật định “từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật”, không có chính sách giảm thuế.

Xét từ góc độ thực tiễn, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động với quy mô rất lớn đến vài trăm nghìn lao động, nên có thể sử dụng số lượng lớn người lao động là người khuyết tật làm việc nhưng không thể nào đạt được tỷ lệ 30% trên tổng số lao động. Vì vậy, cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng số lượng lớn lao động là người khuyết tật nhưng chưa đạt mức 30% trên tổng số lao động để khuyến khích họ sử dụng người khuyết tật.

Trong pháp luật thuế, chủ thể sử dụng lao động thuộc nhóm lao động như lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc thiểu số, lao động bị nhiễm HIV sẽ được hưởng ưu đãi thuế (bao gồm miễn hay giảm thuế hay không tính thuế). Trong đó, chi phí hợp lý chi thêm cho nhóm lao động này sẽ được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, đối với khoản chi thêm người lao động là người dân tộc thiểu số sẽ “được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số theo hướng dẫn” theo Điều 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, nhưng số tiền chi thêm cho lao động là người khuyết tật lại không được giảm thuế.

Tác giả kiến nghị bổ sung quy định pháp luật về giảm thuế cho đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân theo hai hướng:

Phương án thứ nhất có thể áp dụng tương tự quy định tại Điều 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC về giảm thuế khi sử dụng người lao động là người dân tộc thiểu số: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp mức giảm tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Tiếp đó, hoàn thiện quy định giảm thuế thu nhập cá nhân tương tự đối với hộ gia đình. Số tiền thực chi này có thể bao gồm tiền khám sức khỏe, đào tạo nghề, học phí đi học (nếu có) cộng chênh lệch tiền lương ngạch bậc (bảo đảm 100% lương cho người đi học); tiền hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Phương án thứ hai, có thể xây dựng quy định theo hướng về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ sử dụng người khuyết tật trên tổng số lao động. Ví dụ như giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân khi sử dụng “từ 20% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”. Tuy nhiên, mức tỷ lệ giảm thuế cần được nghiên cứu sâu hơn và cần cân đối phù hợp, quy định này kích thích người sử dụng lao động sử dụng lao động khuyết tật để được hưởng ưu đãi theo nhu cầu mà không ảnh hưởng đển hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình./.

NCS.ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân

Đại học Đồng Tháp


[1] WHO, 2022, Global report on health equity for persons with disabilities, https://www.who.int/publications/i/item/9789240063600.

[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016), Điều tra quốc gia về người khuyết tật 2016, tr. 15.

[3] Nguyễn Thị Kim Lý (2020), “Một số giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển”, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 3/2020, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/mot-so-giai-phap-thuc-day-doanh-nghiep-nho-va-vua-phat-trien-325683.html.

[4] Thông tư ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế.

[5] Nguyễn Thị Luyến (2022), Một số vấn đề trong “chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM248590, truy cập ngày 28/03/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: