Thứ hai 09/03/2026 07:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số

Quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số

1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số gắn với xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và phát triển nền kinh tế số là một trong các chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước ta nhằm tận dụng, tối ưu hóa các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nghị quyết số 52-NQ/TW). Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (Quyết định số 749/QĐ-TTg), trong đó trọng tâm của chuyển đổi số quốc gia tập trung vào ba trụ cột chính là phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 942/QĐ-TTg)... Nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách nêu trên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các văn bản, đề án quan trọng, từng bước triển khai trên các lĩnh vực nền tảng của chuyển đổi số như: Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP); Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Điểm chung của các văn bản, đề án này là xác định tầm quan trọng của dữ liệu số, coi dữ liệu số là yếu tố nền tảng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Trong các phát biểu, chỉ đạo gần đây của Lãnh đạo Chính phủ cũng đã nhấn mạnh: “Năm 2023 là năm dữ liệu số” và vấn đề xây dựng, phát triển, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu là yếu tố quan trọng trong chuyển đổi số, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra các giá trị mới[1].

2. Lợi ích của việc quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm

Trong bối cảnh chung Chính phủ và các bộ, ngành đang khẩn trương triển khai các hoạt động xây dựng Chính phủ số, phát triển nền kinh tế số, có thể thấy rằng, hoạt động quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm (ĐKBPBĐ) là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn và có ý nghĩa quan trọng, thể hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về ĐKBPBĐ là hoạt động quản lý liên ngành, liên cấp, có đối tượng đăng ký thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều bộ, ngành và địa phương. Triển khai công tác ĐKBPBĐ đòi hỏi phải có sự đồng bộ, thống nhất và cân đối, hài hòa giữa các cấp, các bộ, ngành. Vì vậy, việc quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về ĐKBPBĐ được thực hiện tốt sẽ tạo sự đột phá về hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước không chỉ trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm do Bộ Tư pháp quản lý mà còn đồng thời trên đa lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội như: Tài chính, ngân hàng, thi hành án, công chứng, đất đai..., đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các công tác chuyên môn như xét xử, điều tra, giải quyết tranh chấp, thi hành án, đăng ký tài sản…, từ đó góp phần bảo đảm sự ổn định về chính trị, xã hội.

Thứ hai, việc kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu về ĐKBPBĐ giữa các cơ quan nhà nước sẽ là một bước tiến mới về cải cách thủ tục hành chính, giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công cung cấp cho người dân và doanh nghiệp theo hướng tối đa hóa giá trị dữ liệu cá nhân, lấy người sử dụng hệ thống làm trung tâm. Người dân và doanh nghiệp không phải cung cấp thông tin thủ công, nhiều lần cho cơ quan đăng ký, cơ quan quản lý. Thông tin của các bên tham gia giao dịch bảo đảm sẽ được đồng bộ, chuẩn hóa và tái sử dụng nhiều lần trên môi trường điện tử thay vì các bên phải đến các cơ quan đăng ký, cơ quan quản lý để yêu cầu thực hiện các quyền của mình. Mặt khác, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu đòi hỏi phải tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ đăng ký. Việc này sẽ tạo tiền đề, khả năng cho việc thực hiện liên thông hàng loạt thủ tục hành chính như công chứng, đất đai, thuế... hoàn toàn trên môi trường số hóa, hạn chế việc người dân và doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với cán bộ quản lý, thời hạn giải quyết hồ sơ tiếp tục được nghiên cứu rút ngắn, từ đó tiết kiệm đáng kể các chi phí hành chính, chi phí xã hội.

Thứ ba, dữ liệu về ĐKBPBĐ, trong đó có thông tin về tài sản bảo đảm, khi được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào việc công khai hóa, minh bạch hóa tài sản, bảo vệ tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản, đồng thời hỗ trợ tích cực cho công tác phòng, chống tham nhũng, phòng, chống các loại tội phạm kinh tế như rửa tiền, tội phạm công nghệ cao, xuyên biên giới...

3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và công tác quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc đăng ký, quản lý dữ liệu về biện pháp bảo đảm ở nước ta được thực hiện theo các loại hình tài sản do các bộ, ngành khác nhau và địa phương quản lý. Cụ thể như sau:

- Đối với dữ liệu về các giao dịch có tài sản bảo đảm là động sản (không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung) được quản lý tại Bộ Tư pháp (Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm): Hiện nay, Hệ thống đăng ký trực tuyến do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm quản lý đã đạt mức độ 4 về cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Từ ngày 01/7/2020, lĩnh vực ĐKBPBĐ thuộc thẩm quyền của Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đã thực hiện kết nối và đồng bộ trạng thái hồ sơ với Cổng dịch vụ công của Bộ Tư pháp. Từ ngày 04/10/2021, tất cả các thủ tục hành chính trong lĩnh vực ĐKBPBĐ bằng động sản đã được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử (dịch vụ công trực tuyến toàn trình), từ việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký, tra cứu thông tin đến sử dụng chữ ký số và trả kết quả. Từ ngày 22/9/2022, nhóm các dịch vụ công trong lĩnh vực ĐKBPBĐ đã được tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

- Đối với dữ liệu về các giao dịch có tài sản bảo đảm là chứng khoán đã đăng ký tập trung do Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam quản lý: Theo quy định tại Điều 173 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam có nhiệm vụ “xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về đăng ký biện pháp bảo đảm tại Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam và hướng dẫn việc sử dụng, truy cập, khai thác thông tin trên hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam” (khoản 2), đồng thời “chuyển dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng chứng khoán được đăng ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam cho Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp để cập nhật và đồng bộ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biển)” (khoản 5). Có thể coi đây là hoạt động kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bước đầu giữa hai cơ quan quản lý hai loại tài sản bảo đảm khác nhau.

- Đối với dữ liệu về các giao dịch có tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển được quản lý tại Bộ Giao thông vận tải (Cục Hàng không Việt Nam và các cơ quan đăng ký tàu biển): Theo thông tin tại website dịch vụ công của Cục Hàng hải Việt Nam, hệ thống đăng ký thế chấp tàu biển hiện nay đạt mức độ 3, hướng tới dịch vụ công trực tuyến mức độ 4[2]. Theo thông tin tại website dịch vụ công của Bộ Giao thông vận tải[3], trong khi rất nhiều thủ tục hành chính liên quan đến tàu bay đã được thực hiện toàn trình (thủ tục đăng ký quyền sở hữu tàu bay, xóa đăng ký quyền sở hữu tàu bay, sửa chữa bổ sung thông tin về đăng ký quốc tịch tàu bay...), thì nhóm dịch vụ công về đăng ký cầm cố, thế chấp tàu bay hiện nay vẫn đang ở mức độ “một phần”, người yêu cầu đăng ký cần phải đến nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện tới cơ quan đăng ký.

- Đối với dữ liệu về các giao dịch có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được quản lý tại Bộ Tài nguyên và Môi trường (Cục Đăng ký và dữ liệu thông tin đất đai[4]): Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các địa phương thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên toàn quốc. Tính đến cuối năm 2022, Ngành Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các địa phương hoàn thành số hóa, đưa vào sử dụng cơ sở dữ liệu ở 397/705 đơn vị cấp huyện với 43 triệu thửa đất. Trong đó, đã kết nối, chia sẻ 18 trường thông tin ở 56/63 tỉnh, thành phố; 316/705 đơn vị cấp huyện, 4.076/10.599 đơn vị cấp xã với hơn 24 triệu thửa đất và số lượng kết nối đang tiếp tục tăng. Các dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu dân cư đang bước đầu được triển khai trên cả nước, trong đó thủ tục “Đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do thay đổi thông tin về người được cấp giấy chứng nhận (đổi tên hoặc giấy tờ pháp nhân, giấy tờ nhân thân, địa chỉ)” đã được triển khai tại 50/63 tỉnh, thành phố[5].

Từ những thông tin nêu trên, có thể thấy rằng, hiện nay cơ sở dữ liệu về các giao dịch, tài sản bảo đảm còn phân tán, đặt tại các cơ quan quản lý khác nhau. Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký biện pháp bảo đảm còn có nhiều khác biệt, dẫn tới sự chênh lệch không tránh khỏi về chất lượng cung cấp dịch vụ công của các cơ quan nhà nước. Thực trạng này đã dẫn đến một số khó khăn, vướng mắc trong việc quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về ĐKBPBĐ, cụ thể như sau:

Một là, nhìn chung, dữ liệu về ĐKBPBĐ hiện nay còn rải rác, phân tán ở các ngành và chủ yếu phục vụ cho hoạt động quản lý của chính ngành chủ quản đó, chưa có cơ chế kết nối, liên thông, chia sẻ hiệu quả để các ngành, địa phương cùng khai thác, sử dụng. Một thực tế chung hiện nay là, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu hai chiều giữa các cơ quan quản lý còn nhiều vướng mắc, mức độ sẵn sàng từ phía cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương là khác nhau, dẫn đến chưa giải quyết hiệu quả việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Theo đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ lệ các cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở còn rất ít, mới đạt 9%.

Hai là, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong ĐKBPBĐ ở một số cơ quan còn chưa đáp ứng được nhu cầu đăng ký, tra cứu thông tin của người dân và doanh nghiệp đối với các giao dịch, tài sản bảo đảm. Việc số hóa thông tin đối với một số tài sản còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu công khai hóa, minh bạch hóa các loại hình tài sản bảo đảm. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình tiếp cận nguồn tín dụng của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, ảnh hưởng tới sự lưu thông nguồn vốn và sự an toàn, minh bạch, hiệu quả của thị trường tín dụng.

Ba là, dữ liệu về ĐKBPBĐ ở một số nơi còn chưa đầy đủ, còn có sự thiếu sót, sai lệch, không khớp và chưa bảo đảm tính chính xác, nhất là với những nơi mới thực hiện số hóa, các thông tin đầu vào cơ bản như thông tin về các bên bảo đảm, số hợp đồng, thông tin về tài sản bảo đảm... còn có sai lệch nhất định so với hồ sơ giấy. Nguồn dữ liệu nhiều nhưng việc thu thập, lưu trữ, phân tích dữ liệu còn chưa được chú trọng đúng mức. Trong khi đó, việc thực hiện kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa các trường thông tin, thông tin đầu vào phải chuẩn xác. Vì vậy, dữ liệu chưa “đúng, đủ, sạch, sống” cũng là một trở ngại cho hoạt động quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về ĐKBPBĐ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

4. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm

Một là, cần thống nhất nhận thức rằng, việc quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu về ĐKBPBĐ, tài sản bảo đảm là một bộ phận không thể tách rời và có mối liên hệ mật thiết với hoạt động chuyên môn của các cơ quan quản lý, cơ quan đăng ký, với nhiệm vụ chuyển đổi số của các bộ, ngành liên quan và tổng thể quá trình chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và phát triển nền kinh tế số. Tác giả cho rằng, để dữ liệu về ĐKBPBĐ, tài sản bảo đảm được khai thác tối đa các giá trị trong lưu thông kinh tế cũng như trong quản lý vĩ mô, các cơ quan quản lý, cơ quan đăng ký cần khẩn trương tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi số trong phạm vi bộ, ngành mình, cụ thể là Quyết định số 749/QĐ-TTg; Quyết định số 942/QĐ-TTg; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP. Trong đó, có thể cân nhắc tập trung vào một số nhiệm vụ có tính quyết định đối với việc chuyển đổi số trong ĐKBPBĐ như: Nâng cao chất lượng và mức độ cung cấp dịch vụ công tại các cơ quan đăng ký, số hóa thông tin, xây dựng các nền tảng số, cơ sở dữ liệu đồng bộ, tái cấu trúc quy trình thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin để tổ chức thực hiện hiệu quả trên môi trường điện tử, xây dựng và triển khai cơ sở dữ liệu mở về các giao dịch, tài sản bảo đảm...

Hai là, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung khổ pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ĐKBPBĐ phục vụ mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số. Mặc dù, thể chế, hệ thống ĐKBPBĐ hiện hành trong thời gian qua đã thể hiện được vai trò là công cụ pháp lý bảo chứng cho sự an toàn, minh bạch về tài sản, giao dịch, nhưng trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và yêu cầu, đòi hỏi của chuyển đổi số, thì cơ chế pháp lý liên quan chưa thực sự bao quát được hết các dạng thức tài sản bảo đảm; chưa bảo đảm xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu có tính liên thông, kết nối cao với các hệ thống thông tin khác như hệ thống thông tin quản lý về quyền sử dụng, quyền sở hữu, quyền lưu hành tài sản; hệ thống thông tin của Tòa án, công chứng, ngân hàng… Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan hiện có hiệu lực cao nhất cũng chỉ ở tầm nghị định, bị ràng buộc bởi nhiều luật nên trong thực thi còn nhiều vướng mắc. Mặt khác, do nằm ngoài thẩm quyền của Chính phủ nên nhiều vấn đề như: Hiệu lực của đăng ký, giá trị áp dụng của kết quả đăng ký, tiêu chuẩn, chức danh của người làm công tác đăng ký... còn chưa được điều chỉnh bao quát, đầy đủ. Do vậy, trong thời gian tới, một định hướng mang tính căn cơ, lâu dài cần được đặt ra là: Xây dựng một văn bản ở tầm luật để bảo đảm giải quyết cơ bản những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành, đáp ứng các mục tiêu và nhu cầu chuyển đổi số trong quản lý và thực thi pháp luật về ĐKBPBĐ.

Trong ngắn hạn, có thể nghiên cứu, xây dựng và ban hành Quy chế về kết nối và khai thác dữ liệu, áp dụng trong phạm vi các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp bao gồm cả hệ thống thi hành án dân sự nhằm thúc đẩy việc xây dựng, hoàn thiện các nền tảng số, cơ sở dữ liệu và kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực công tác do Bộ Tư pháp quản lý có liên quan đến hoạt động ĐKBPBĐ như công chứng, thi hành án dân sự… nhằm phục vụ tốt hơn cho hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công của các đơn vị thuộc Bộ. Đây là giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số mà nhiều bộ, ngành và địa phương đang thực hiện như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hà Nam, tỉnh Kon Tum...

Ba là, cần có chế độ thu hút, bồi dưỡng, ưu đãi đối với đội ngũ kỹ sư tin học và khoa học dữ liệu bởi đây là nguồn nhân lực chủ chốt, trực tiếp thực hiện các thao tác kỹ thuật trong các khâu của quá trình chuyển đổi số. Đây là đòi hỏi cấp bách, nhất là trong khối các cơ quan nhà nước, trong bối cảnh nhân lực công nghệ thông tin có trình độ, có năng lực lại có xu hướng chọn làm việc tại các khu vực tư. Ngoài ra, cũng cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cả các nhân sự hiện có về kỹ năng xây dựng, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu, từ đó có thể hình thành nguồn nhân lực ổn định về công nghệ thông tin đáp ứng các nhiệm vụ chuyển đổi số ngay trong nội bộ đơn vị.

Bốn là, Chính phủ, các bộ, ngành cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện về các loại hạ tầng công nghệ như hạ tầng viễn thông, internet, hạ tầng thanh toán (tài khoản ngân hàng, ví điện tử...) làm nền tảng cho việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, hỗ trợ tăng tỷ lệ đăng ký trực tuyến nói chung, tỷ lệ sử dụng hệ thống ĐKBPBĐ trực tuyến nói riêng.

Năm là, bên cạnh việc tăng cường số hóa thông tin, khẩn trương tiến hành cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thì cơ quan quản lý, cơ quan đăng ký cần tăng cường truyền thông và quảng bá hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các tiện ích của việc sử dụng dịch vụ. Tài liệu truyền thông cần đa dạng về hình thức (video, tờ gấp, hình ảnh minh họa...), chi tiết về thông tin truyền thông để người dân, doanh nghiệp dễ nắm bắt, dễ sử dụng. Từ đó, tạo cơ sở thay đổi thói quen, phương thức liên hệ với cơ quan quản lý, cơ quan đăng ký, từ nộp hồ sơ trực tiếp chuyển dần sang phương thức đăng ký trực tuyến.

Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dữ liệu ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển các dịch vụ hướng đến Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số. Chia sẻ dữ liệu là điều kiện tiên quyết để cung cấp dịch vụ số, đơn giản hóa quy trình, thay đổi mô hình tổ chức, cách thức cung cấp dịch vụ. Trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng, một mặt thúc đẩy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực (tư pháp, tài chính, tiền tệ, ngân hàng, đất đai...), hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền xây dựng, hoạch định các chính sách, nhất là các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế; mặt khác nâng cao tính minh bạch về quyền sở hữu, giao dịch, góp phần lành mạnh hóa thị trường, giảm thiểu rủi ro pháp lý, chi phí trong xác lập, thực hiện giao dịch cho các bên, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, cần có sự quan tâm, triển khai, phối hợp đồng bộ của các ngành, các cấp để công tác này đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và phát triển nền kinh tế số.

ThS. Văn Thị Khanh Thư

Phó Cục trưởng Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

[1]. Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị sơ kết 01 năm triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) và tổng kết hoạt động năm 2022, triển khai các nhiệm vụ năm 2023 và trong thời gian tới của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, nhấn mạnh: Năm 2023 là năm “tạo lập và khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị mới”.

[2]. https://dichvucong.vinamarine.gov.vn/dk-tau-bien.html.

[3]. https://dichvucong.mt.gov.vn/thu-tuc-hanh-chinh#/thu-tuc-hanh-chinh?page=1&renew=97.

[4]. Điều 1 Quyết định số 2968/QĐ-BTNMT ngày 02/11/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đăng ký và Dữ liệu thông tin đất đai.

[5]. https://baochinhphu.vn/ket-noi-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dat-dai-va-dan-cu-102221229214618025.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: