Chủ nhật 15/03/2026 09:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Thi hành án dân sự sửa đổi

Tiếp tục chương trình làm việc, ngày 25/11/2014, các đại biểu Quốc hội làm việc tại Hội trường biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số đại biểu của Luật Thi hành án dân sự và thảo luận dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

Thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với 84,1% đại biểu tán thành.

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã làm rõ hơn một số nội dung qua thảo luận vẫn còn có ý kiến khác nhau.

Đối với yêu cầu thi hành án (Điều 31), đại biểu Quốc hội có hai loại ý kiến: Thứ nhất, tán thành với quy định của dự thảo Luật giữ quy định hai cơ chế ra quyết định thi hành án: cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu.

Thứ hai, đề nghị bỏ quy định về đơn yêu cầu thi hành án. Vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội đánh giá quy định về cơ chế ra quyết định thi hành án là một trong những vấn đề quan trọng của Luật này.

Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp lấy ý kiến đại biểu Quốc hội bằng phiếu về cả hai phương án. Tuy nhiên, ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về phương án “bỏ quy định về đơn yêu cầu thi hành án” chưa có sự đồng thuận cao.

Thực tiễn cũng cho thấy cơ chế ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu đã bảo đảm nguyên tắc tự định đoạt, thỏa thuận, tự nguyện của đương sự trong giải quyết các quan hệ dân sự. Hiệu quả hạn chế trong thi hành án dân sự hiện nay chủ yếu do thực thi, không phải do vướng mắc từ quy định này. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về yêu cầu thi hành án như Điều 31 dự thảo Luật.

Về nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân trong thi hành án dân sự (Điều 170), qua thảo luận có ý kiến đề nghị quy định cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thường xuyên báo cáo Tòa án về tiến độ, kết quả thi hành tất cả bản án, quyết định, làm cơ sở Tòa án theo dõi, giám sát việc thi hành án và quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự trong việc báo cáo kết quả thi hành án cho Tòa án.

Có ý kiến đề nghị chỉ quy định cơ quan thi hành án dân sự báo cáo khi có yêu cầu của Tòa án. Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, để đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc xem xét lại bản án, quyết định có sai sót theo quy định của pháp luật thì cần bổ sung quy định cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành án đối với Tòa án.

Tuy nhiên, do Tòa án không phải là cơ quan quản lý về thi hành án dân sự, nên việc báo cáo chỉ cần thực hiện khi có yêu cầu của Tòa án mà không nhất thiết phải báo cáo thường xuyên để giảm bớt thủ tục hành chính.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân tại các điều 14, 15 và 16 dự thảo Luật.

Thời gian còn lại của buổi làm việc sáng nay, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

Trên cơ sở tán thành với sự cần thiết sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật Dân sự, qua thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội đánh giá Bộ luật Dân sự là đạo luật rất quan trọng, tác động đến các mối quan hệ cơ bản của xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động và đời sống của các tổ chức, cá nhân, gia đình. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề vướng mắc, tồn tại, đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội mà điều quan trọng hơn là phải xây dựng Bộ luật Dân sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật liên quan đến các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, góp phần bảo đảm tính ổn định, bền vững của các quan hệ xã hội trên cơ sở kế thừa, phát triển pháp luật dân sự Việt Nam.

Ý kiến khác nhau về hình thức sở hữu

Thảo luận về hình thức sở hữu (Điều 206), dự thảo quy định hai phương án về hình thức sở hữu: Phương án 1 xác định ba hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung; phương án 2 xác định hai hình thức sở hữu là sở hữu riêng và sở hữu chung; đồng thời ghi nhận hình thức sở hữu đối với tài sản công thuộc sở hữu toàn dân là sở hữu chung hợp nhất do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Qua thảo luận, nhiều ý kiến tán thành cần sửa đổi quy định về phân loại hình thức sở hữu, bởi vì việc quy định hình thức sở hữu theo cách liệt kê như Bộ luật Dân sự hiện hành không bảo đảm tính ổn định do các chủ thể này luôn thay đổi, biến động theo sự phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên việc phân loại hình thức sở hữu theo cách nào, có bao nhiêu hình thức sở hữu, hiện có hai loại ý kiến.

Một số ý kiến tán thành với phương án 1 vì cho rằng nếu chỉ quy định hai hình thức sở hữu là sở hữu chung và sở hữu riêng là không hợp lý, không thể hiện đầy đủ tính chất "nhiều hình thức sở hữu" của nền kinh tế nhiều thành phần và không bao quát hết các quy định cụ thể về sở hữu trong Hiến pháp (sở hữu toàn dân, sở hữu tư nhân...).

Theo quy định của Hiến pháp, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khóang sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Như vậy, các loại tài sản này thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Vì vậy, các văn bản pháp luật, nhất là Bộ luật Dân sự cần phải ghi nhận về sở hữu toàn dân.

Theo đại biểu Nguyễn Thành Bộ (Thanh Hóa) phương án 1 thể hiện được đầy đủ, toàn diện các hình thức sở hữu hiện đang tồn tại của nước ta, trong đó có sở hữu pháp nhân nằm trong nội hàm sở hữu chung.

Đại biểu cho rằng việc xác định hình thức sở hữu phải căn cứ vào sự khác biệt trong cách thức thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản chứ không phải căn cứ vào yếu tố ai là chủ thể của quyền sở hữu như quy định hiện hành, một số ý kiến đề nghị chỉ có hai hình thức sở hữu là sở hữu chung và sở hữu riêng.

Đại biểu Trần Du Lịch (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng có sở hữu toàn dân như hình thức sở hữu chung mà Hiến pháp đã ghi. Sở hữu chung chính là sở hữu quốc gia, đại diện là Nhà nước. Đối với chủ thể sở hữu, đại biểu cũng đề nghị nên sử dụng hai chủ thể rõ ràng là pháp nhân, thể nhân.

Làm rõ các loại pháp nhân

Về các loại pháp nhân (Điều 111 và Điều 112), dự thảo Bộ luật quy định hai loại pháp nhân cơ bản, đó là pháp nhân thương mại là pháp nhân hoạt động vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và không phân chia lợi nhuận cho các thành viên.

Đại biểu Vũ Tiến Lộc (Thái Bình) đánh giá thực tiễn áp dụng Bộ luật dân sự 2005 cho thấy chế định pháp nhân còn nhiều bất cập và cần được sửa đổi. Tuy nhiên dự thảo lần này không thay đổi cách tiếp cận so với Bộ luật hiện hành về khái niệm pháp nhân, thậm chí quy định của dự thảo còn thiếu rõ ràng so với luật hiện hành.

Đại biểu khẳng định chưa có đột phá nào trong dự thảo về khái niệm pháp nhân và do vậy tất cả những vướng mắc trên thực tế đã không được xử lý. Để giải quyết vấn đề này, đại biểu đề nghị cần thay đổi cách tiếp cận theo hướng việc xác định tổ chức là pháp nhân hay không theo quy định cụ thể của pháp luật...

Đại biểu Trần Du Lịch đề nghị cần làm rõ pháp nhân công và pháp nhân tư. Đối với pháp nhân công cần làm rõ hai loại: pháp nhân công quyền và pháp nhân phi công quyền. Trong đó, pháp nhân công quyền là các cơ quan chính quyền, tòa án... còn pháp nhân phi công quyền là những tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học...

Cho ý kiến về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Công Hồng (Đồng Nai) nhận định dự thảo mới chỉ giải quyết mối quan hệ giữa pháp nhân cũ và pháp nhân mới khi hợp nhất, sát nhập, chia tách và chuyển đổi mà chưa đề cập đến giải quyết mối quan hệ giữa pháp nhân cũ và pháp nhân mới đối với quyền và lợi ích đã được xác định trước thời điểm trên giữa các pháp nhân này đối với bên thứ 3.

Đại biểu đề nghị bộ luật cần có nội dung khẳng định nguyên tắc việc hợp nhất, sát nhập, chia tách, chuyển đổi pháp nhân không phải là việc chuyển quyền và lợi ích của bên thứ 3 được xác lập trước thời điểm đó, trừ trường hợp có sự nhất trí của bên thứ 3. Điều này là hết sức quan trọng vì sẽ đảm bảo tính ổn định và mang tính chất dân sự, đại biểu khẳng định.

Bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản nhưng ngay tình

Thảo luận về bảo vệ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản nhưng ngay tình (gọi tắt là người thứ ba ngay tình) khi giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 145), dự thảo Bộ luật bổ sung quy định về giao dịch dân sự với người thứ ba không bị vô hiệu trong trường hợp giao dịch đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 2 Điều 145).

Trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba thì giao dịch này bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa (khoản 3 Điều 145).

Đại biểu Lù Thị Lừu (Lào Cai) đánh giá việc bảo vệ người thứ 3 ngay tình của dự thảo luật đã được mở rộng hơn so với luật hiện hành. Tuy nhiên theo đại biểu, quy định như dự thảo Bộ luật chưa đảm bảo được quyền dân sự của công dân; xem nhẹ người chủ đích thực, nhất là những đối tượng giao dịch được lưu truyền nhiều đời cũng như việc bảo vệ hành vi trái pháp luật của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đăng ký tài sản là bất động sản hoặc động sản được đăng ký quyền sở hữu.

Từ những lý do trên, đại biểu đề nghị nội dung này cần giữ nguyên như luật hiện hành, chỉ sửa đổi bổ sung khoản 2 Điều 138 của Bộ luật dân sự 2005 như sau: Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản để đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ 3 ngay tình thì giao dịch với người thứ 3 vô hiệu trừ trường hợp người thứ 3 ngay tình có được tài sản này thông qua bán đấu giá theo đúng quy định của pháp luật, hoặc giao dịch với người mà theo bản án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản.

Về bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 ngay tình khi giao dịch dân sự bị vô hiệu: tại khoản 2 Điều 145 của dự thảo có quy định trường hợp đối tượng của giao dịch là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ 3, người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ 3 biết, hoặc phải biết tài sản đó đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp hoặc ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Đại biểu Nguyễn Thành Bộ cho rằng quy định trên chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thứ 3 nhưng không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu.

Theo đại biểu, quá trình giải quyết sẽ khó chứng minh được người thứ 3 có thật sự ngay tình hay không cho dù biết tài sản là đối tượng của giao dịch đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp ngoài ý chí của chủ sở hữu nhưng nếu biết người thứ 2 trong giao dịch dân sự không còn khả năng thanh toán thì người thứ 3 sẽ không bao giờ thừa nhận là họ biết, để không bị ràng buộc trả lại tài sản cho chủ sở hữu (nhất là trong trường hợp người thứ 2 trong giao dịch có sự thông đồng với người thứ 3).

Như vậy quyền lợi của chủ sở hữu sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng. Do đó, đại biểu đề nghị nên giữ nguyên quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 ngay tình như Điều 138 của Bộ luật hiện hành là phù hợp.

Tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội đã cho ý kiến về nhiều nội dung khác: thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu (Điều 179); áp dụng tập quán và áp dụng tương tự pháp luật (Điều 12 và Điều 13).

Theo Chương trình, chiều 25/11, Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật nhà ở (sửa đổi) và dự thảo Luật kinh doanh bất động sản (sửa đổi); thảo luận dự án Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: