Thứ bảy 08/08/2026 01:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định mới về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam

Ngày 18/3/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam (Nghị định số 69/2025/NĐ-CP). Nghị định số 69/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2025.

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục mua cổ phần, tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư đó tại một tổ chức tín dụng Việt Nam; điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà dầu tư nước ngoài khi tham gia đầu tư, góp vốn, mua cổ phần theo quy định của pháp luật thì phải tuân thủ các quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Nghị định số 69/2025/NĐ-CP khi mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam.

Quy định mới về hình thức mua cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài

Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP quy định, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng cổ phần bán cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ.

Theo Nghị định số 69/2025/NĐ-CP, nội dung trên được sửa đổi, bổ sung như sau: nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng chào bán cổ phần, phát hành cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ được tổ chức tín dụng mua trước ngày 01/01/2021.

Như vậy, theo quy định tại Nghị định số 69/2025/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua cổ phiếu quỹ trong trường hợp cổ phiếu quỹ đó được tổ chức tín dụng mua trước ngày 01/01/2021.

Quy định mới về tỷ lệ sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP như sau: “5. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại các khoản 6, 6a Điều này hoặc trong thời gian thực hiện quy định tại khoản 9 Điều 14 Nghị định này. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này”. Đồng thời, Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 7: “6. Trong trường hợp đặc biệt để bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém, gặp khó khăn vượt giới hạn quy định tại các khoản 2, 3, 5 Điều này đối với từng trường hợp cụ thể” và bổ sung khoản 6a vào sau khoản 6 Điều 7 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP: “6a. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc (không bao gồm các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ) được vượt 30% nhưng không vượt quá 49% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt và được thực hiện trong thời hạn của phương án chuyển giao bắt buộc”.

Quy định này phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng nhận chuyển giao tăng cường được năng lực tài chính (khi thu hút thêm được vốn đầu tư nước ngoài, tăng vốn chủ sở hữu), nâng cao năng lực quản trị điều hành, đổi mới công nghệ…, tạo điều kiện hỗ trợ tốt hơn cho tổ chức tín dụng được chuyển giao, góp phần thực hiện thành công phương án chuyển giao bắt buộc, ổn định hệ thống tài chính ngân hàng, ổn định kinh tế, xã hội.

Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP, theo đó, tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, trong đó có phương án chào bán cổ phần, phát hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Tổ chức tín dụng cổ phần có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước trước khi trình Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ.

Bổ sung nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP bổ sung quy định, khi nhà đầu tư nước ngoài mua thêm cổ phần do tổ chức tín dụng chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong tổ chức tín dụng mà bị vượt giới hạn về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 7 Nghị định này thực hiện như sau:

- Trường hợp một nhà đầu tư nước ngoài, một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan bị vượt giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này, trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ thời điểm bị vượt giới hạn nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần, bảo đảm tuân thủ giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này.

- Trường hợp tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài bị vượt giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này thì nhà đầu tư nước ngoài không được mua thêm cổ phần của tổ chức tín dụng đó cho đến khi tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ quy định tại Điều 7 Nghị định này.

Kể từ thời điểm kết thúc thời hạn thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc, nhà đầu tư nước ngoài không được mua thêm cổ phần của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó (trừ trường hợp ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu hoặc nhà đầu tư nước ngoài bán cổ phần đang sở hữu của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó cho nhà đầu tư nước ngoài khác theo thỏa thuận) cho đến khi tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó thấp hơn 30% vốn điều lệ.

Trường hợp tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc được vượt 30% vốn điều lệ của ngân hàng theo phương án chuyển giao bắt buộc được phê duyệt, Ngân hàng Nhà nước có thông báo bằng văn bản gửi Bộ Tài chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) về tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của nhà đầu tư nước ngoài được phê duyệt, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thực hiện phương án, chuyển giao bắt buộc./.

Mộc Miên

Ảnh: internet

Hội Luật gia Việt Nam tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính

Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, dễ áp dụng trong kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên

Đơn giản hóa thủ tục trong xử lý vi phạm hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thi hành pháp luật

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm kịp thời cho việc sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp

Quy định mới về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam

Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để đẩy mạnh phân quyền, phân cấp

Đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.

Theo dõi chúng tôi trên: