Thứ tư 22/04/2026 22:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định mới về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam

Ngày 18/3/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam (Nghị định số 69/2025/NĐ-CP). Nghị định số 69/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2025.

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục mua cổ phần, tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư đó tại một tổ chức tín dụng Việt Nam; điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà dầu tư nước ngoài khi tham gia đầu tư, góp vốn, mua cổ phần theo quy định của pháp luật thì phải tuân thủ các quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Nghị định số 69/2025/NĐ-CP khi mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam.

Quy định mới về hình thức mua cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài

Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP quy định, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng cổ phần bán cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ.

Theo Nghị định số 69/2025/NĐ-CP, nội dung trên được sửa đổi, bổ sung như sau: nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng chào bán cổ phần, phát hành cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ được tổ chức tín dụng mua trước ngày 01/01/2021.

Như vậy, theo quy định tại Nghị định số 69/2025/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua cổ phiếu quỹ trong trường hợp cổ phiếu quỹ đó được tổ chức tín dụng mua trước ngày 01/01/2021.

Quy định mới về tỷ lệ sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP như sau: “5. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại các khoản 6, 6a Điều này hoặc trong thời gian thực hiện quy định tại khoản 9 Điều 14 Nghị định này. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này”. Đồng thời, Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 7: “6. Trong trường hợp đặc biệt để bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém, gặp khó khăn vượt giới hạn quy định tại các khoản 2, 3, 5 Điều này đối với từng trường hợp cụ thể” và bổ sung khoản 6a vào sau khoản 6 Điều 7 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP: “6a. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc (không bao gồm các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ) được vượt 30% nhưng không vượt quá 49% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt và được thực hiện trong thời hạn của phương án chuyển giao bắt buộc”.

Quy định này phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng nhận chuyển giao tăng cường được năng lực tài chính (khi thu hút thêm được vốn đầu tư nước ngoài, tăng vốn chủ sở hữu), nâng cao năng lực quản trị điều hành, đổi mới công nghệ…, tạo điều kiện hỗ trợ tốt hơn cho tổ chức tín dụng được chuyển giao, góp phần thực hiện thành công phương án chuyển giao bắt buộc, ổn định hệ thống tài chính ngân hàng, ổn định kinh tế, xã hội.

Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP, theo đó, tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, trong đó có phương án chào bán cổ phần, phát hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Tổ chức tín dụng cổ phần có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước trước khi trình Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ.

Bổ sung nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài

Nghị định số 69/2025/NĐ-CP bổ sung quy định, khi nhà đầu tư nước ngoài mua thêm cổ phần do tổ chức tín dụng chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong tổ chức tín dụng mà bị vượt giới hạn về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 7 Nghị định này thực hiện như sau:

- Trường hợp một nhà đầu tư nước ngoài, một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan bị vượt giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này, trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ thời điểm bị vượt giới hạn nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần, bảo đảm tuân thủ giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này.

- Trường hợp tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài bị vượt giới hạn quy định tại Điều 7 Nghị định này thì nhà đầu tư nước ngoài không được mua thêm cổ phần của tổ chức tín dụng đó cho đến khi tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ quy định tại Điều 7 Nghị định này.

Kể từ thời điểm kết thúc thời hạn thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc, nhà đầu tư nước ngoài không được mua thêm cổ phần của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó (trừ trường hợp ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu hoặc nhà đầu tư nước ngoài bán cổ phần đang sở hữu của ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó cho nhà đầu tư nước ngoài khác theo thỏa thuận) cho đến khi tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc đó thấp hơn 30% vốn điều lệ.

Trường hợp tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc được vượt 30% vốn điều lệ của ngân hàng theo phương án chuyển giao bắt buộc được phê duyệt, Ngân hàng Nhà nước có thông báo bằng văn bản gửi Bộ Tài chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) về tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của nhà đầu tư nước ngoài được phê duyệt, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thực hiện phương án, chuyển giao bắt buộc./.

Mộc Miên

Ảnh: internet

Hội Luật gia Việt Nam tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính

Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, dễ áp dụng trong kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên

Đơn giản hóa thủ tục trong xử lý vi phạm hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thi hành pháp luật

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm kịp thời cho việc sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp

Quy định mới về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam

Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để đẩy mạnh phân quyền, phân cấp

Đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Chiều 21/4, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Nhấn mạnh đây là nhiệm vụ hệ trọng, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, trước mắt tập trung xử lý các “điểm nghẽn” nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu infographic 9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu inforgraphic 10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đây là chủ đề của Diễn đàn khoa học trẻ "Luật học Mùa Xuân" lần thứ III năm 2026 do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trong 02 ngày 17/4 và 18/4/2026. Tham dự Diễn đàn có các chuyên gia, nhà khoa học, học giả cùng các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 16/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ có liên quan về dự thảo Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp (dự thảo Kế hoạch) và kết quả rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ Tư pháp phụ trách.

Theo dõi chúng tôi trên: