Thứ năm 20/08/2026 04:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự - một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự - một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

1. Đặt vấn đề

Thủ tục rút gọn hiện nay được áp dụng ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác như Mỹ, Pháp, Nga, Nhật, Trung Quốc... Vai trò của thủ tục rút gọn trong tố tụng đã được khẳng định qua thời gian và trong hệ thống pháp luật của các quốc gia. Do đó, khái niệm thủ tục rút gọn không phải là một khái niệm mới trong nghiên cứu luật học.

“Thủ tục rút gọn”, “thủ tục đơn giản” hay “thủ tục giản lược” (procédure sommaire/summary procedure, simplified procedure) theo pháp luật Pháp là “thủ tục tố tụng theo đó các thủ tục được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm quyền chung trong những trường hợp đặc biệt”[1]. Thủ tục tố tụng giản lược theo pháp luật Hoa Kỳ được hiểu là một thủ tục đơn giản hóa so với thủ tục thông thường, chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định, xét xử không có bồi thẩm đoàn, được áp dụng “để giải quyết các tranh chấp hoặc kết thúc vụ kiện một cách tương đối nhanh chóng và đơn giản”[2].

Khái niệm thủ tục rút gọn trong pháp luật về tố tụng dân sự ở Việt Nam được ghi nhận chính thức tại khoản 1 Điều 316 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật”. Mục đích hướng đến của thủ tục rút gọn chính là giúp cho vụ án dân sự có thể được giải quyết với “trình thực đơn giản hơn và nhanh chóng hơn” so với thủ tục thông thường. Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì thời hạn chuẩn bị xét xử chỉ khoảng 01 tháng[3] và do 01 thẩm phán thụ lý giải quyết, trong khi đó, theo thủ tục thông thường thời hạn này có thể kéo dài từ 04 đến 06 tháng ở cấp sơ thẩm và hội đồng xét xử gồm 01 thẩm phán và 02 hội thẩm hoặc 02 thẩm phán và 03 hội thẩm, tùy theo tính chất vụ việc[4].

Tuy nhiên, để một vụ án dân sự được áp dụng thủ tục rút gọn thì cần phải đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật nhằm tránh chồng chéo với thủ tục thông thường. Việc quy định phạm vi, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn không rõ ràng có thể dẫn đến giá trị áp dụng thủ tục rút gọn trên thực tế không khả thi. Do đó, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cần phải được quy định và hướng dẫn một cách chi tiết, dễ hiểu để giúp cho người khởi kiện và Tòa án giải quyết vụ việc có thể vận dụng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hiện nay vẫn còn bất cập, dẫn đến tỷ lệ các vụ việc dân sự được áp dụng thủ tục rút gọn trên thực tế còn rất hạn chế.

2. Khó khăn trong việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây: (i) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; (ii) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; (iii) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Quy định trên được hiểu rằng, để áp dụng thủ tục rút gọn thì một vụ án dân sự phải đáp ứng tất cả các điều kiện (i), (ii) và (iii). Nếu không đáp ứng một trong các tiêu chí nêu ra thì vụ án dân sự được áp dụng theo thủ tục thông thường. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là điều kiện chung áp dụng cho cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, phân tích quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn tồn tại một số khó khăn sau:

Thứ nhất, về vấn đề xác định “vụ án có tình tiết đơn giản”. Điều kiện này về thực tiễn áp dụng không thật sự có hiệu quả, “rất ít” các vụ án dân sự đạt điều kiện này. Xác định “vụ án có tình tiết đơn giản” đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể mà chủ yếu phụ thuộc ý kiến chủ quan, chuyên môn và kinh nghiệm xét xử của thẩm phán thụ lý vụ việc. Một “vụ án có tình tiết đơn giản” có thể được hiểu theo nghĩa “vụ án không có tình tiết phức tạp”. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đều không giải thích các khái niệm này. Trong tố tụng hành hành chính có quy định về thủ tục rút gọn, mặc dù Luật Tố tụng hành chính hiện hành cũng không đưa ra khái niệm “vụ án có tình tiết đơn giản” nhưng có đưa ra khái niệm “vụ án phức tạp”, nếu xem xét ở góc độ đối nghịch ở mức độ tương đối thì có thể phân tích ở khía cạnh “vụ án có tình tiết đơn giản là những vụ án không có tình tiết làm cho vụ án phức tạp”. Cụ thể, theo khoản 12 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì: Vụ án phức tạp là vụ án có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn; có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài. Như vậy, một vụ án không có những tình tiết nêu trên thì có thể xem là một vụ án đơn giản, không có tính chất phức tạp. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ mang tính chất tham khảo, vì vẫn có ý kiến cho rằng, nếu một vụ án “không có tính chất phức tạp” thì đó là một “vụ án thông thường” chứ không phải là “có tình tiết đơn giản”. Điều này dẫn đến, nếu hiểu một “vụ án có tình tiết phức tạp” và “vụ án phức tạp” có đặc điểm và tính chất tương tự nhau thì việc đưa ra yêu cầu vụ án “có tình tiết đơn giản” để áp dụng thủ tục rút gọn là không cần thiết, trùng lặp với các điều kiện khác. Như vậy, việc không có hướng dẫn rõ ràng về “vụ án có tình tiết đơn giản” dễ dẫn đến việc xem xét, đánh giá điều kiện này của người làm công tác pháp luật không chính xác và mang tính chủ quan.

Thứ hai, về việc xác định “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ”. Việc áp dụng thủ tục rút gọn càng trở nên khó khăn hơn, bởi vì, không chỉ vụ án phải đáp ứng tiêu chí là “có tình tiết đơn giản” mà đương sự trong vụ án phải thừa nhận “nghĩa vụ”. Việc xác định như thế nào là “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ” vẫn còn rất nhiều khía cạnh phân tích. Thông thường, đương sự nếu đã thừa nhận nghĩa vụ thì họ có thể dừng lại ở giai đoạn thương lượng, hòa giải mà không cần phải khởi kiện ra tòa. Nếu việc thừa nhận nghĩa vụ ở đây được hiểu theo góc độ là “có tài liệu, chứng cứ” thể hiện sự thừa nhận về nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ thì thừa nhận nghĩa vụ trong trường hợp này có thể bị nhầm lẫn với việc “có tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”.

Thứ ba, về điều kiện phải có “tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”. Việc xác định tài liệu, chứng cứ đầy đủ và đủ để bảo đảm giải quyết vụ án là có cơ sở, quy định này nhằm giúp thẩm phán có thể có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa ra kết quả giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc đánh giá tài liệu, chứng cứ đầy đủ và không phải thu thập thêm phụ thuộc nhiều vào năng lực, kinh nghiệm xét xử và đánh giá chủ quan từ thẩm phán thụ lý vụ án. Thêm vào đó, điều kiện “Tòa án không phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ” có thể dẫn đến việc thủ tục rút gọn không thể được áp dụng trên thực tế. Bởi lẽ, không phải đương sự nào cũng cung cấp cho Tòa án đầy đủ các tài liệu, chứng cứ khi nộp hồ sơ khởi kiện và đối với một số tài liệu, chứng cứ nằm ở cơ quan, tổ chức khác mà đương sự không thể tự mình thu thập được nhưng việc cung cấp tài liệu đó có thể được thu thập một cách nhanh chóng bởi Tòa án thì Tòa án vẫn có thể hỗ trợ thu thập và áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết.

Thứ tư, về điều kiệnkhông có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản”. Đương sự trong một vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quy định này cũng không hướng dẫn rõ, trong trường hợp vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì việc thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn là cần có sự thống nhất của nguyên đơn và bị đơn hay cần có sự thống nhất của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Thông thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có mâu thuẫn về quyền và lợi ích với một trong hai bên là nguyên đơn hoặc bị đơn. Nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ở nước ngoài) không có yêu cầu độc lập và có đơn xin xét xử vắng mặt thì việc yêu cầu phải thỏa thuận thống nhất của người này với nguyên đơn và bị đơn là không thật sự cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Việc không có hướng dẫn cụ thể trong trường hợp này, vụ án dân sự có đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài sẽ rất khó đề nghị được áp dụng thủ tục rút gọn.

Bên cạnh những bất cập trên dẫn đến số lượng vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết còn hạn chế thì nguyên nhân khác là yếu tố chủ quan xuất phát từ các thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ việc. Với tâm lý “thời gian giải quyết theo thủ tục rút gọn khá ngắn” có thể dẫn đến những sai sót trong tố tụng, các thẩm phán thường ít xem xét đến các điều kiện để đưa ra quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.

3. Một số đề xuất

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn rõ như thế nào là vụ án có tình tiết đơn giản đối với những vụ án không có giá ngạch. Đối với vụ án có giá ngạch, không cần thiết áp dụng điều kiện “tình tiết đơn giản” mà thay vào đó nên quy định bổ sung trong Bộ luật Tố tụng dân sự về điều kiện giá trị tranh chấp của vụ án thấp thì có thể áp dụng thủ tục rút gọn như mô hình giải quyết vụ án của Tòa án ở Việt Nam năm 1946 và mô hình thủ tục rút gọn được áp dụng ở một số quốc gia. Cụ thể:

Tại Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về việc ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án, thẩm quyền Tòa án các cấp căn cứ theo giá ngạch được quy định một cách chi tiết. Sắc lệnh quy định đối với các loại án có giá ngạch thì giá trị tranh chấp được xác định để phân công thẩm quyền cho tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm. Ví dụ: Chung Thẩm: Những việc kiện dân sự, thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150 đồng, những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước Tòa án ấy không có giá ngạch nào; sơ thẩm: Những việc dân sự hay thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định trên 150 đồng nhưng dưới 450 đồng.

Cơ chế xét xử một lần (được hiểu là cơ chế giải quyết rút gọn) tiếp tục được quy định tại Nghị định số 32-NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ Tư Pháp quy định thẩm quyền của các Tòa án nhân dân: “Các Tòa án cấp huyện có thẩm quyền chung thẩm các việc kiện dân sự về động sản có giá ngạch không quá 60 kg gạo và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh xử chung thẩm các việc kiện về bất động sản mà giá ngạch không quá 60 kg gạo...”. Tại Thông tư số 4013/TTC ngày 09/5/1959 của Bộ Tư pháp và Thông tư số 93/TC ngày 11/11/1959 của Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao cũng quy định, các Tòa án cấp huyện có “quyền xét xử chung thẩm các việc kiện dân sự mà giá ngạch không quá 60 đồng không phân biệt động sản hay bất động sản”[5].

Theo quy định pháp luật dân sự của Pháp, Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp chuyên xét xử các vụ án dân sự nhỏ, có giá trị tranh chấp không vượt quá 10.000 EUR (các vụ án tranh chấp về hợp đồng thuê nhà ở, giải quyết yêu cầu giám hộ, kê biên đối với tiền lương, thưởng ...). Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp xét xử vụ án bằng một thẩm phán duy nhất và các bên tham gia tố tụng không nhất thiết phải có luật sư[6].

Tại Vương Quốc Anh, vụ kiện có giá trị 10.000 Bảng Anh (GBP) trở xuống được coi là vụ kiện nhỏ, được giải quyết theo thủ tục rút gọn bởi Tòa án địa hạt[7]. Tại Mỹ, pháp luật các bang về cơ bản đều quy định rằng vụ án có giá ngạch thấp được coi là vụ kiện nhỏ và được giải quyết theo thủ tục giản lược. Giá ngạch thấp do từng tiểu bang quy định, cơ bản trong khoảng từ 2.500 Đô La Mỹ (USD) đến 25.000 USD[8]. Nhiều nước khu vực châu Á cũng quy định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các tranh chấp có giá trị thấp. Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 1.400.000 đồng Yên Nhật (JPY) được giải quyết theo thủ tục rút gọn[9]. Một số nước khác của châu Á quy định mức giá ngạch thấp như: Thái Lan: Dưới 50.000 Bạt Thái[10].

Trong bối cảnh hiện nay, mức giá ngạch có thể tham khảo để áp dụng thủ tục rút gọn dưới 100.000.000 đồng. Ví dụ: Các hợp đồng vay tài sản, các hợp đồng tín dụng của ngân hàng thường có tài liệu, chứng cứ khá đầy đủ, rõ ràng thì nên áp dụng thủ tục rút rọn nếu giá trị hợp đồng không lớn.

Thứ hai, cần làm rõ điều kiện “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ”. Trường hợp đương sự đã thừa nhận với nhau về nghĩa vụ trong vụ án dân sự, thì việc thừa nhận này phải được thể hiện bằng văn bản thoả thuận hoặc trong các tài liệu, chứng cứ đương sự cung cấp cho Tòa án có nội dung này. Đồng thời, cần xem xét việc áp dụng điều kiện “đương sự thừa nhận nghĩa vụ” với điều kiện “có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn” theo hướng chỉ cần đáp ứng một trong hai điều kiện này là đã có cơ sở, chứng cứ để giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn. Quy định quá nhiều điều kiện làm cho các vụ án dân sự không thể áp dụng thủ tục rút gọn.

Thứ ba, về điều kiện“tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”. Quy định này nên sửa đổi theo hướng “tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án”. Trong trường hợp, tài liệu, chứng cứ đương sự yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập thì tuỳ theo tính chất, mức độ phức tạp của việc cung cấp chứng cứ đó mà thẩm phán có thể xác định nên áp dụng thủ tục rút gọn hoặc không. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết theo thủ tục rút gọn, pháp luật tố tụng dân sự vẫn cho phép những trường hợp quay trở lại áp dụng thủ tục thông thường trong một số trường hợp nhất định (khoản 3 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Thứ tư, cần xác định rõ chủ thể trong điều kiệnkhông có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản”. Trường hợp này nên quy định “nếu người ở nước ngoài là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu độc lập và có văn bản trình bày ý kiến, văn bản yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì thẩm phán nên giải quyết theo thủ tục rút gọn”. Bản chất của thủ tục rút gọn là giúp cho vụ án được giải quyết nhanh chóng hơn, nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có ý kiến, quan điểm của mình và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì cũng không nên vì “yếu tố nước ngoài” này mà thẩm phán không chấp nhận giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Ngoài những đề xuất làm rõ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn và giảm bớt điều kiện để thủ tục này được áp dụng nhiều hơn trên thực tiễn thì pháp luật cần có những quy định để nâng cao trách nhiệm của thẩm phán trong việc giải quyết vụ án. Một vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng lại áp dụng theo thủ tục thông thường có thể dẫn đến thiệt hại cho người có quyền lợi hợp pháp trong vụ kiện. Thực tiễn, những tranh chấp nhỏ chẳng hạn như ở mức vài chục triệu đồng mà phải theo đuổi vụ kiện trong một thời gian dài sẽ làm cho người có quyền, lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ lại bị thiệt hại và vô tình “củng cố thêm niềm tin” cho người vi phạm nếu họ muốn kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, ngoài việc nâng cao nhận thức cho người làm công tác pháp luật, nâng cao hiểu biết cho đương sự thì cần có những biện pháp xử lý đối với người có trách nhiệm giải quyết vụ án nhưng cố tình kéo dài hoặc không muốn áp dụng thủ tục rút gọn.

4. Kết luận

Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là cần thiết, có vai trò quan trọng trong hoạt động giải quyết các vụ án của Tòa án. Thủ tục rút gọn giúp cho đương sự tiết kiệm thời gian, công sức và nhanh chóng đòi lại quyền và lợi ích chính đáng của mình. Đối với ngành Tòa án và các thẩm phán, thủ tục rút gọn giúp giảm tải áp lực giải quyết các vụ án trong bối cảnh các tranh chấp dân sự vẫn chiếm số lượng lớn mỗi năm. Để phân biệt với thủ tục giải quyết thông thường, quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là căn cứ quan trọng. Tuy nhiên, việc quy định các điều kiện áp dụng thủ tục hiện nay còn “ôm đồm” và “cầu toàn” dẫn đến các vụ án được giải quyết theo thủ tục này rất ít và chủ yếu ở các thành phố lớn. Để quy định về thủ tục rút gọn đạt được giá trị như mong muốn của nhà lập pháp, các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cần giảm bớt và hướng dẫn cụ thể hơn ở một số điều kiện. Bên cạnh đó, nên bổ sung điều kiện các loại án có giá ngạch thấp được áp dụng thủ tục rút gọn. Dựa trên phân tích về những khó khăn về việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn ở mục 2 và một số giải pháp đề xuất nêu trên, có thể chia điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thành 02 nhóm sau:

Đối với án không có giá ngạch: (i) Các đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ hoặc tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án; (ii) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; (iii) Không có đương sự (trừ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án) cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Đối với án có giá ngạch: (i) Các vụ án có giá trị dưới 100.000.000 đồng hoặc các đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ hoặc tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án; (ii) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; (iii) Không có đương sự (trừ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án) cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

ThS. Trần Kiều Nhi

Khoa Luật - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành


[1] Nguyễn Văn Bình (chủ biên), 2009, Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, Nhà pháp luật Việt - Pháp, Nxb. Từ điển Bách khoa Hà Nội, tr. 706.

[2] Bryan A. Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9th Edition, St. Paul, MN: West, p.559 (“Summary proceeding: A nonjury proceeding that settles a controversy or diposes of a case in a relatively prompt and simple manner”).

[3] Theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

[4] Chương XIII và Chương XIV Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hoà giải, chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm.

[5] Hồ Nguyễn Quân (2017), Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật TTDS 2015, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2139, truy cập ngày 30/6/2023.

[6] Hồ Nguyễn Quân, (2017), Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật TTDS năm 2015, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2139, truy cập ngày 30/6/2023.

[7] https://www.citizensadvice.org.uk/law-and-rights/legal-system/taking-legal-action/small-claims/, truy cập ngày 23/4/2015.

[8] http://www.nolo.com/legal-encyclopedia/small-claims-suits-how-much-30031.html, truy cập ngày 29/4/2015.

[9] Hiroshi Oda (2009), Japanese Law, Third Edition, Oxford University Press, pp. 411, 412.

[10] - Xem: Điều R 221 - 3, 221 - 4 Luật Tổ chức tư pháp năm 2012 của Pháp;

- Xem: Quy định tương tự của Anh, https://www.citizensadvice.org.uk/law-and-rights/legal-system/taking-legal-action/small-claims/, truy cập ngày 23/4/2015; http://www.nolo.com/legal-encyclopedia/small-claims-suits-how-much- 30031.html, truy cập ngày 23/4/2015;

- Điều 368.1 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản;

- Trần Anh Tuấn, Trương Quang Dũng (2014), Chuyên đề 4: Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo pháp luật một số nước trên thế giới và việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam, trích Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, do Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài, Hà Nội, tr. 181 & 184.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: