Thứ tư 26/08/2026 05:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rà soát pháp luật Việt Nam với Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải

Trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, giao lưu thương mại ngày càng phát triển với nhiều phương thức hợp tác để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho các bên. Nhưng trên thực tế, không phải hợp đồng hợp tác kinh doanh nào cũng có kết quả tốt đẹp, chính vì vậy, nhiều thiết chế giải quyết tranh chấp ra đời để mang lại công bằng cho các bên.

Trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, giao lưu thương mại ngày càng phát triển với nhiều phương thức hợp tác để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho các bên. Nhưng trên thực tế, không phải hợp đồng hợp tác kinh doanh nào cũng có kết quả tốt đẹp, chính vì vậy, nhiều thiết chế giải quyết tranh chấp ra đời để mang lại công bằng cho các bên. Hiện nay, giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại bằng hòa giải đang dần trở thành một phương thức được ưa chuộng trên thế giới ngoài phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống là Tòa án và trọng tài bởi những lợi ích mà nó mang lại, như: (i) Tiết kiệm thời gian, chi phí; (ii) Kiểm soát được kết quả đầu ra, tăng khả năng tự nguyện thi hành; (iii) Duy trì được quan hệ làm ăn giữa các bên; (iv) Mức độ bảo mật thông tin cao.

Nếu như giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài từ rất sớm đã có công cụ pháp lý điều chỉnh là Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Công ước New York) thì trong lĩnh vực hòa giải, tháng 12/2018, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước thỏa thuận quốc tế về giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải (Công ước Singapore).

Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải đã được Đảng, Nhà nước quan tâm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đề ra nhiệm vụ “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Trong khi về hoạt động trọng tài thương mại tại Việt Nam có thể coi là đã tiệm cận được với quốc tế khi ta đã tham gia Công ước New York, thể chế pháp luật dần dần được hoàn thiện thì nhiệm vụ tiếp theo đặt ra đối với yêu cầu cải cách tư pháp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là hoàn thiện pháp luật về hòa giải tạo thêm phương thức giải quyết tranh chấp để doanh nghiệp, nhà đầu tư lựa chọn. Hiện nay, cơ sở pháp lý trong nước về hòa giải thương mại đã có Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) nhưng để hợp tác quốc tế trong việc công nhận, thi hành kết quả hòa giải thương mại thì lại chưa có điều ước quốc tế điều chỉnh. Vì vậy, việc tham gia Công ước Singapore sẽ là giải pháp kịp thời khắc phục tồn tại nêu trên.

Một trong những công việc chuẩn bị cho việc ký, tham gia một điều ước quốc tế đó là hoạt động đánh giá tính tương thích của điều ước quốc tế với pháp luật có liên quan của Việt Nam[1]. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sẽ đưa ra một số so sánh và đánh giá sơ bộ về các quy định cơ bản của Công ước Singapore với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam để trả lời cho câu hỏi thể chế Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu của Công ước Singapore trong trường hợp chúng ta quyết định gia nhập Công ước này.



1. Về phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải

1.1. Phạm vi áp dụng

Công ước Singapore không đưa ra khái niệm “hoạt động thương mại” nhưng khoản 1 Điều 1 Công ước đưa ra quy định tham gia điều kiện tham gia thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại có tính quốc tế nếu tại thời điểm ký kết:

(i) Ít nhất hai bên tham gia thỏa thuận giải quyết tranh chấp có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau;

(ii) Quốc gia mà các bên tham gia thỏa thuận giải quyết tranh chấp có địa điểm kinh doanh khác với quốc gia mà một phần đáng kể các nghĩa vụ theo thỏa thuận giải quyết tranh chấp được thực hiện hoặc quốc gia mà nội dung của thỏa thuận giải quyết tranh chấp có mối quan hệ gắn bó nhất và loại trừ áp dụng đối với một số thỏa thuận giải quyết tranh chấp liên quan đến mục đích tiêu dùng, gia đình, thừa kế, lao động.

Như vậy, tính quốc tế sẽ được xem xét căn cứ vào địa điểm kinh doanh. Công ước Singgapore yêu cầu cả hai bên tham gia thỏa thuận hòa giải phải thực hiện hoạt động kinh doanh (hoạt động thương mại).

Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP cũng giới hạn phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại chỉ áp dụng với 03 loại tranh chấp: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.

Do đó, chỉ có loại tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Công ước. Điều này có nghĩa phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại rộng hơn so với Công ước Singapore.

Ngoài ra, tính quốc tế của thỏa thuận giải quyết tranh chấp hay có thể coi là yếu tố nước ngoài của thỏa thuận giải quyết tranh chấp chưa được pháp luật Việt Nam quy định.

1.2. Loại trừ áp dụng

Để làm rõ hơn phạm vi áp dụng, khoản 2 và 3 Điều 1 Công ước Singapore quy định Công ước không áp dụng đối với các thỏa thuận giải quyết tranh chấp:

- Là kết quả giải quyết tranh chấp phát sinh từ các giao dịch mà một trong các bên tham gia (người tiêu dùng) có mục đích cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình;

- Liên quan đến pháp luật gia đình, thừa kế hoặc lao động;

- Đã được Tòa án công nhận hoặc đạt được trong quá trình tố tụng tại Tòa án hoặc đang được thi hành như phán quyết của Tòa án tại quốc gia có Tòa án đó;

- Được ghi nhận và có thể được thi hành như một phán quyết trọng tài.

Theo pháp luật Việt Nam, Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải. Với quy định này, các kết quả hòa giải thành trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc được thể hiện dưới dạng quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) hoặc trong quá trình trọng tài giải quyết tranh chấp thể hiện dưới dạng quyết định của Hội đồng trọng tài công nhận sự thoả thuận của các bên (Điều 58 Luật Trọng tài thương mại năm 2010), không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều này.

- Pháp luật nội dung của Việt Nam cũng quy định các vụ việc về gia đình và thừa kế là các vụ việc dân sự, không thuộc phạm vi thương mại.

- Các vụ việc về lao động có quy định riêng về cơ chế hòa giải do hòa giải viên lao động thực hiện trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tranh chấp lao động.

Ngoài ra, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ hướng dẫn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã quy định cơ chế riêng về hòa giải đối với tranh chấp giữa người kinh doanh hàng hóa dịch vụ với người tiêu dùng, trong đó tiêu chuẩn hòa giải viên và cơ quan tổ chức có thẩm quyền thành lập tổ chức hòa giải có nhiều điểm khác biệt so với quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng tách biệt hòa giải thương mại và hòa giải tranh chấp với người tiêu dùng. Rà soát, đối chiếu những quy định trên, có thể đánh giá pháp luật Việt Nam tương thích với quy định về các trường hợp Công ước không áp dụng.

1.3. Về các định nghĩa

1.3.1. Địa điểm kinh doanh

Xuất phát từ việc xác định tính quốc tế của thỏa thuận hòa giải được căn cứ vào địa điểm kinh doanh của các bên nên khoản 1 Điều 2 Công ước Singapore đưa ra căn cứ để xác định địa điểm kinh doanh trong trường hợp một bên có nhiều địa điểm kinh doanh hoặc không có địa điểm kinh doanh. Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vấn đề này. Trong giải quyết tranh chấp thương mại, để xác định thẩm quyền giải quyết, pháp luật Việt Nam căn cứ trên địa chỉ, nơi đóng trụ sở của doanh nghiệp. Rà soát các quy định pháp luật liên quan cho thấy, pháp luật hiện hành ở nước ta chỉ có quy định về địa điểm giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, theo điểm d khoản 2 Điều 35 Luật Thương mại năm 2005: Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

1.3.2. Thỏa thuận giải quyết

Công ước Singapore quy định thỏa thuận giải quyết tranh chấp được ghi lại bằng hình thức văn bản. Công ước Singapore cũng công nhận hình thức điện tử với điều kiện thông tin có thể truy cập được.

Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định: Kết quả hòa giải thành là thỏa thuận giữa các bên tranh chấp về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ tranh chấp phát sinh và khoản 1 Điều 15 Nghị định này quy định: Khi đạt được kết quả hòa giải thành các bên lập văn bản về kết quả hòa giải thành. Như vậy, pháp luật Việt Nam phù hợp với Công ước Singapore. Tuy nhiên, về thỏa thuận giải quyết tranh chấp dưới hình thức điện tử, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan của Việt Nam chưa quy định. Mặc dù vậy, nếu có thỏa thuận giải quyết tranh chấp dưới hình thức điện tử thì căn cứ Điều 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thỏa thuận này có giá trị như văn bản với điều kiện thông tin có thể truy cập và sử dụng để tham khảo khi cần thiết[2].

1.3.3. Hòa giải

Khoản 3 Công ước Singapore quy định “hòa giải” là một thủ tục, bất kể tên gọi được sử dụng hoặc căn cứ mà thủ tục này được thực hiện, nhờ đó các bên nỗ lực giải quyết tranh chấp một cách thân thiện với sự hỗ trợ của bên thứ ba (hòa giải viên) không có thẩm quyền áp đặt giải pháp cho các bên tranh chấp.

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”. Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam về cơ bản tương ứng với cách hiểu và giải thích thuật ngữ này của Công ước.

1.4. Về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thương mại

Điều 3 Công ước Singapore quy định: Mỗi bên tham gia Công ước phải thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp theo các quy tắc về thủ tục của mình và với các điều kiện được quy định tại Công ước này. Điều này đồng nghĩa với việc Công ước Singapore không quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thương mại mà để pháp luật của các quốc gia thành viên quyết định.

Theo quy định tại Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quy định tại Chương XXXIII - Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được áp dụng đối với công nhận kết quả hòa giải thương mại. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục này chỉ áp dụng đối với kết quả hòa giải thương mại do các hòa giải viên thương mại, tổ chức hòa giải thương mại, tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam, không bao gồm kết quả hòa giải thương mại do hòa giải viên nước ngoài, tổ chức hòa giải thương mại được thành lập và hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do tính chất quốc tế hay có thể coi là yếu tố nước ngoài của thỏa thuận giải quyết tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Singapore lại căn cứ vào địa điểm kinh doanh của các bên mà không căn cứ vào hòa giải viên, tổ chức hòa giải thương mại nên một thỏa thuận giải quyết tranh chấp có thể xảy ra hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: Thỏa thuận giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại, tổ chức hòa giải thương mại, tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam thực hiện, khi đó, Chương XXXIII - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được áp dụng. Trong trường hợp này, quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu của Công ước Singapore.

- Trường hợp thứ hai: Thoả thuận giải quyết tranh chấp được hòa giải viên thương mại, tổ chức hòa giải thương mại ngoài lãnh thổ Việt Nam thực hiện thì để thỏa thuận được thi hành tại Việt Nam cần phải thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành. Tuy nhiên, thỏa thuận giải quyết tranh chấp không thuộc loại quyết định được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bởi lẽ, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài (ngoài Tòa án) chỉ được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu quyết định đó là về nhân thân hoặc hôn nhân và gia đình. Như vậy, trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về việc công nhận và cho thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Singapore.

1.5. Về điều kiện công nhận kết quả hòa giải thương mại

1.5.1. Điều kiện về hồ sơ yêu cầu

Quy định tại khoản 1 Điều 4 Công ước Singapore có thể hiểu bên yêu cầu phải cung cấp đủ các giấy tờ sau trong hồ sơ gửi đến cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên Công ước Singapore: (i) Thỏa thuận giải quyết tranh chấp được các bên ký; (ii) Chứng cứ là thỏa thuận giải quyết tranh chấp đạt được thông qua hòa giải, như chữ ký của hòa giải viên, văn bản do hòa giải viên ký khẳng định rằng việc hòa giải đã được thực hiện; chứng thực của tổ chức quản lý hòa giải hoặc bất kỳ chứng cứ nào khác mà cơ quan có thẩm quyền xem xét yêu cầu chấp nhận.

Ngoài ra, trong trường hợp trao đổi thông tin điện tử thì các điều kiện nêu trên được thỏa mãn nếu có biện pháp đáng tin cậy được sử dụng để nhận dạng các bên hoặc hòa giải viên và để khẳng định ý định của người này với thông tin được chứa đựng trong trao đổi thông tin điện tử đó (khoản 2)

Về vấn đề này, Điều 418 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định một bên yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án phải có đơn yêu cầu và văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định pháp luật có liên quan. Như vậy, đối với yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thương mại thì văn bản về kết quả hòa giải thành có chữ ký của các bên và hòa giải viên theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. So với quy định tại Điều 4 Công ước Singapore thì quy định văn bản về kết quả hòa giải thành của pháp luật Việt Nam hẹp hơn. Theo pháp luật Việt Nam, văn bản kết quả hòa giải thành được Tòa án công nhận phải có chữ ký hai bên và hòa giải viên, không quy định thêm hình thức nào khác thì Công ước Singapore lại không quy định bắt buộc hòa giải viên phải ký vào thỏa thuận giải quyết tranh chấp mà quy định một cách linh hoạt, theo đó, các bên có thể chứng minh việc này bằng văn bản do hòa giải viên ký khẳng định rằng việc hòa giải đã được thực hiện (điểm ii.b khoản 1 Điều 4) và Công ước Singapore còn chấp nhận cả những chứng cứ giao dịch điện tử thỏa mãn các điều kiện tại khoản 2 Điều 4.

1.5.2. Điều kiện về chủ thể và nội dung

Một thỏa thuận giải quyết tranh chấp không vi phạm một trong sáu căn cứ để từ chối tại Điều 5 Công ước Singapore thì sẽ được xem xét công nhận. Trong khi đó, Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định các điều kiện để được Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, cụ thể các điều kiện sau:

(i) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

(ii) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải, trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý;

(iii) Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận;

(iv) Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Đối chiếu với quy định tương ứng tại Điều 5 Công ước Singapore thì Công ước yêu cầu nhiều điều kiện cần đáp ứng để thỏa thuận giải quyết tranh chấp được công nhận như các điều kiện về nội dung, hiệu lực của thỏa thuận (điểm b khoản 1); thực hiện thỏa thuận (điểm c khoản 1), hòa giải viên (điểm e, f) và pháp luật áp dụng (điểm b khoản 2). Cũng cần đặc biệt lưu ý là quy định về điều kiện công nhận kết quả hòa giải thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng chỉ được áp dụng đối với các thỏa thuận giải quyết tranh chấp do hòa giải viên thương mại, tổ chức hòa giải thương mại, tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam thực hiện.

1.6. Đơn hoặc yêu cầu song song

Điều 6 Công ước Singapore quy định, khi có đơn hoặc yêu cầu liên quan đến thỏa thuận giải quyết tranh chấp gửi đến Tòa án, hội đồng trọng tài và cơ quan có thẩm quyền khác thì cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên sẽ tạm dừng việc ra quyết định công nhận hoặc yêu cầu bên đề nghị phải thực hiện biện pháp bảo đảm khi đơn hoặc yêu cầu này có thể ảnh hưởng đến việc xem xét yêu cầu công nhận. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về nội dung này.

2. Đánh giá

Sau khi phân tích, rà soát và đối chiếu các quy định của Công ước Singapore và quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam vẫn còn khoảng trống và có một số điểm khác biệt so với quy định của Công ước Singapore, cụ thể là những vấn đề sau:

Thứ nhất, phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải của pháp luật Việt Nam rộng hơn so với phạm vi điều chỉnh của Công ước Singapore. Nếu Công ước Singapore không áp dụng đối với một trong bên tham gia vì mục đích cá nhân, hoặc hộ gia đình thì pháp luật Việt Nam không phân biệt chỉ cần một bên có hoạt động thương mại.

Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh của Công ước Singapore, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về việc công nhận và cho thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Singapore nếu thỏa thuận do hòa giải viên nước ngoài, tổ chức hòa giải ở nước ngoài không đăng ký hoạt động tại Việt Nam thực hiện.

Thứ ba, về điều kiện, cơ chế công nhận kết quả hòa giải thương mại, trong khi Công ước Singapore chỉ quy định chung về hồ sơ yêu cầu thi hành hoặc viện dẫn thỏa thuận giải quyết tranh chấp phải được các bên ký và có bằng chứng về việc thỏa thuận đạt được thông qua hòa giải và quy định bổ sung bằng các trường hợp từ chối yêu cầu thì pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành. Hai cách tiếp cận khác nhau dẫn đến còn một số điểm khác biệt như về hình thức của thỏa thuận giải quyết tranh chấp; nghĩa vụ chứng minh của người phải thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp; vấn đề xác định pháp luật áp dụng đối với thỏa thuận giải quyết tranh chấp và pháp luật áp dụng đối với hòa giải viên hoặc hòa giải nói chung, đặc biệt trong trường hợp việc hòa giải có tính quốc tế hay yếu tố nước ngoài.

Trần Thị Minh Hà
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Ảnh: ST



[1]. Điều 45 Luật Điều ước quốc tế năm 2016.

[2]. Điều 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: