Chủ nhật 14/06/2026 01:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá về thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.


Abstract: The article analyzes, assesses the real situation of Vietnamese current legal provisions on using commercial indications causing confusion aimed at unfair competition, from that point, makes some recommendations for law completion.

1. Nhận diện hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

Chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là chỉ dẫn thương mại có chứa các dấu hiệu (yếu tố cấu thành, cách trình bày, cách kết hợp giữa các yếu tố, màu sắc, ấn tượng tổng quan đối với người tiêu dùng) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ sở hữu hợp pháp có quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Việc sử dụng chỉ dẫn nêu trên là nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ... Theo khoản 3 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, thì hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn có thể chia thành 2 nhóm:

Thứ nhất, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ
Hành vi này làm cho người tiêu dùng tưởng rằng hàng hóa, dịch vụ của người có hành vi gây nhầm lẫn cùng do doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh sản xuất, cung cấp; hoặc hai loại hàng hóa, dịch vụ có chỉ dẫn thương mại giống nhau hoặc tương tự nhau là do các chủ sở hữu có mối liên hệ, quan hệ hợp tác nhất định. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, thông thường, đối tượng mà chủ thể vi phạm tác động tới là việc sử dụng tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh... Tuy nhiên, để tạo ra sự nhầm lẫn và gây hậu quả nhất định bởi sự nhầm lẫn cho khách hàng, tên thương mại trong trường hợp này cần mang tính độc đáo nhất định. Trái lại, không bị coi là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) nếu tên thương mại là thông dụng và phổ biến.

Thứ hai, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ
Hành vi này khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn hàng hóa, dịch vụ này với hàng hóa, dịch vụ khác về tính năng, số lượng, chủng loại, chất lượng; về điều kiện cung cấp, điều kiện hậu mãi... hoặc về cách thức, quy trình sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ... Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm CTKLM chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (SHCN), thể hiện ở việc doanh nghiệp vi phạm bắt chước các dấu hiệu phân biệt của sản phẩm của đối thủ cạnh tranh như: Nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng bao bì hàng hóa, làm cho khách hàng vì bị nhầm lẫn mà mua sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Do đó, nhóm hành vi này thường được điều chỉnh bởi pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT).

2. Nhận diện hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đều có quy định điều chỉnh hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể:

2.1. Các dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 mới chỉ quy định thế nào là chỉ dẫn thương mại, liệt kê một số chỉ dẫn thương mại và liệt kê các hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ lần đầu tiên nêu lên khái niệm chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn tại điểm c khoản 1 Điều 19, đó là: “Chỉ dẫn thương mại chứa các dấu hiệu (yếu tố cấu thành, cách trình bày, cách kết hợp giữa các yếu tố, màu sắc, ấn tượng tổng quan đối với người tiêu dùng) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ thể quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự”. Mặc dù pháp luật về SHTT đã có hướng dẫn cụ thể về hành vi xâm phạm quyền SHTT do sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, nhưng chưa có các quy định cụ thể về dấu hiệu và căn cứ xác định đối với hành vi CTKLM sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm của hành vi CTKLM, đặc điểm của chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, có thể chỉ ra các dấu hiệu để xác định hành vi CTKLM sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, bao gồm:

a. Mục đích của hành vi

Mục đích cụ thể của hành vi CTKLMsử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ để cạnh tranh với đối thủ bị gây nhầm lẫn[1]. Việc xác định người tiêu dùng có nhầm lẫn giữa hàng hóa, dịch vụ là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ với hàng hóa, dịch vụ do người thực hiện hành vi bị coi là CTKLM tạo ra hay không, có thể dựa trên kết quả khảo sát thị trường, dựa trên đánh giá cảm quan về sự tương tự gây nhầm lẫn về dấu hiệu sử dụng; tương tự gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ.

b. Đối tượng của hành vi
Đối tượng của hành vi sử dụng là các chỉ dẫn thương mại. Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004 có liệt kê một số đối tượng mà hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn xâm phạm đến như: Tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý. Khoản 2 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng xác định: “Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ”. Chỉ dẫn thương mại cũng có các dấu hiệu như: Khả năng phân biệt (chức năng chỉ dẫn) cho phép người tiêu dùng trung bình có thể phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác hoặc phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; khả năng nhìn thấy được, đó có thể là yếu tố màu sắc, cách trình bày, cách kết hợp các yếu tố; khả năng dùng được trong thương mại (có thể sản xuất hàng loạt)… Chỉ dẫn thương mại phải là đối tượng đã được đăng ký bảo hộ; đối với việc xác định hành vi CTKLM liên quan đến các chỉ dẫn thương mại, các chỉ dẫn thương mại không nhất thiết phải được đăng ký bảo hộ nhưng điều kiện tiên quyết phải chứng minh được việc đã đưa vào sử dụng trong hoạt động thương mại, tạo dựng được uy tín nhất định trên thị trường và được người tiêu dùng biết đến rộng rãi[2]. Việc xác định dấu hiệu này có thể căn cứ vào thời gian xuất hiện trên thị trường; phạm vi truyền thông, quảng bá đến người tiêu dùng; mức độ nhận biết, tín nhiệm của người tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ, thị phần của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường...

Điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư số 11/2015/TT- BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã liệt kê một số chỉ dẫn thương mại là đối tượng của hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn như: “Nhãn hàng hóa” là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát; “Khẩu hiệu kinh doanh” là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp nhằm nhấn mạnh mục đích hoặc tiêu chí kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới; “Biểu tượng kinh doanh” là ký hiệu, chữ viết, hình vẽ, hình khối được thiết kế một cách độc đáo và được coi là biểu tượng của doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh; “Kiểu dáng bao bì hàng hóa” là thiết kế, trang trí bao bì hàng hóa, gồm hình dạng, đường nét, hình vẽ, chữ, số, màu sắc, cách trình bày, cách phối hợp màu sắc, cách bố trí, kết hợp giữa các yếu tố nói trên tạo nên ấn tượng riêng hay nét đặc trưng của bao bì hàng hóa[3].
Như vậy, nếu so với pháp luật cạnh tranh, pháp luật SHCN quy định rõ ràng và đầy đủ hơn các chỉ dẫn thương mại là đối tượng của hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, có một đối tượng mà cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHCN không liệt kê, nhưng thực tế vẫn tồn tại hành vi CTKLM là kiểu dáng công nghiệp. Các chỉ dẫn thương mại này khi bị các doanh nghiệp trên thị trường lợi dụng tạo ra các yếu tố trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn sẽ làm sai lệch nhận thức, dẫn đến lựa chọn không đúng mong muốn của người tiêu dùng.

c. Phương thức thực hiện hành vi
Theo Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, việc sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là việc thực hiện một trong các hành vi: (i) Gắn chỉ dẫn gây

nhầm lẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; (ii) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang chỉ dẫn gây nhầm lẫn; (iii) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang chỉ dẫn gây nhầm lẫn.

2.2. Các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Căn cứ Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004, các hành vi CTKLM liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn gồm hai nhóm:
Thứ nhất, hành vi sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ mang chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Biểu hiện cụ thể của hành vi này là việc doanh nghiệp gắn chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo, thiết kế kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm gây nhầm lẫn... Có một vụ việc thực tế điển hình là năm 2013, Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam khiếu nại đến Thanh tra Bộ Khoa học và Công đến về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về kiểu dáng chai dầu gội đầu dược liệu Thái Dương 3 của Công ty Cổ phần Sao Thái Dương. Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiến hành thanh tra và ra Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC ngày 16/9/2013 xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Sao Thái Dương về hành vi sử dụng kiểu dáng chai đựng dầu gội đầu (đặc điểm tạo dáng, cách trình bày, màu sắc...) tương tự với chỉ dẫn thương mại là kiểu dáng chai sản phẩm dầu gội đầu “Sunsilk” của Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam đã sử dụng rộng rãi, ổn định, lâu dài từ năm 2008. Đây là hành vi CTKLM về SHCN quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Ở vụ việc này, do Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam chưa đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với chai đựng dầu gội đầu “Sunsilk” nên không khiếu nại theo hướng hành vi xâm phạm quyền SHCN, mà khiếu nại về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn nhằm CTKLM. Công ty này đã chứng minh được: (i) Chỉ dẫn thương mại đã được Công ty sử dụng rộng rãi, ổn định và được nhiều người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến do có hệ thống đại lý phân phối trên khắp Việt Nam và đã quảng cáo rộng rãi dưới nhiều hình thức khác nhau để giới thiệu sản phẩm tới đông đảo người tiêu dùng tại Việt Nam; (ii) Hành vi sử dụng chỉ dẫn có gây nhầm lẫn do sản phẩm “dầu gội dược liệu Thái Dương 3 là hoàn toàn trùng với kiểu dáng chai đã sử dụng cho sản phẩm dầu gội “Sunsilk” từ năm 2008 đến nay[4]...

Vụ việc xảy ra vào năm 2013, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã căn cứ khoản 8 Điều 14 Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về SHCN để xử lý. Tuy nhiên hiện nay, Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 14 Nghị định 97/2010/NĐ-CP đã được thay thế bởi Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 có quy định về hành vi CTKLM do sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn, nhưng khái niệm chỉ dẫn thương mại không bao gồm kiểu dáng công nghiệp và trong các chỉ dẫn gây nhầm lẫn được liệt kê cũng không có kiểu dáng công nghiệp. Do đó, câu hỏi đặt ra là kiểu dáng công nghiệp được coi là một loại chỉ dẫn thương mại hay là một dạng của kiểu dáng bao bì sản phẩm để có thể áp dụng quy định này? Vụ việc cũng cho thấy, cần thiết phải bổ sung kiểu dáng công nghiệp gây nhầm lẫn vào nhóm các chỉ dẫn thương mại để ngăn chặn nhóm hành vi CTKLM do sử dụng kiểu dáng công nghiệp gây nhầm lẫn xảy ra khá nhiều trong thời gian gần đây.

Thứ hai, hành vi kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Biểu hiện cụ thể của hành vi này là việc doanh nghiệp bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hóa có gắn chỉ dẫn thương mại đó. Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp, cửa hàng đại lý bán nước mắm có chỉ dẫn địa lý trên nhãn hàng hóa là “Nước mắm Phú Quốc”, nhưng thực tế không biết nước mắm đó có thực sự được sản xuất tại Phú Quốc hay không?

3. Một số nhận xét và kiến nghị
Những phân tích ở trên cho thấy, đối với việc quy định hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại nhằm CTKLM theo pháp luật Việt Nam còn một số tồn tại như:
- Có nhiều quy định pháp luật nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh về một loại hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN. Điều này gây khó khăn trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
- Khái niệm hành vi CTKLM được quy định tại khoản 4 Điều 3 và các hành vi cụ thể được liệt kê tại Điều 39 Luật Cạnh tranh. Khoản 10 Điều 39 quy định về các hành vi CTKLM khác, nhưng chưa có một văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Nếu phát sinh hành vi CTKLM mới không nằm trong số danh sách các hành vi đã được quy định, thì có được căn cứ khoản 10 Điều 39 để áp dụng không? Cơ quan nào có quyền giải thích, áp dụng điều này.
- Theo quy định của khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi CTKLM được thực hiện liên quan đến các đối tượng là chỉ dẫn thương mại, nhãn hiệu và tên miền... Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN cũng quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là kiểu dáng công nghiệp có được coi là một yếu tố trong chỉ dẫn thương mại và là đối tượng của hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN không? Trên thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với mục tiêu xây dựng thương hiệu, thu hút người tiêu dùng. Đã có ý kiến cho rằng, nhãn hiệu thường chỉ là hình thức bên ngoài, có thể gây ấn tượng đầu tiên cho khách hàng tiềm năng, nhưng một kiểu dáng bắt mắt thường nhanh chóng chiếm được sự trung thành với thương hiệu, như là trường hợp sản phẩm Ipad của hãng Apple. Chính vì tầm quan trọng của kiểu dáng công nghiệp trong việc làm tăng giá trị sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như vậy, nên trên thực tế không ít trường hợp các đối thủ cạnh tranh sao chép, bắt chước kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp nhằm có được lợi thế cạnh tranh của người tiêu dùng.
Từ những tồn tại ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

- Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh mặc dù mang bản chất là hành vi CTKLM nhưng thuộc lĩnh vực hẹp hơn, do đó, không nên quy định trong Luật Cạnh tranh, mà để luật chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ) điều chỉnh sẽ bớt chồng chéo, trùng lặp.
- Trao quyền cho cơ quan hướng dẫn thi hành (có thể là Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc Tòa án thông qua các án lệ) xác định các loại hành vi CTKLM mới xuất hiện ngoài các hành vi đã được liệt kê (như hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn là kiểu dáng công nghiệp của hàng hóa).
- Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ có đề cập “kiểu dáng bao bì” là một loại chỉ dẫn thương mại nhưng chưa làm rõ kiểu dáng bao bì có bao gồm kiểu dáng công nghiệp của hàng hóa không. Vì vậy, cần bổ sung kiểu dáng công nghiệp là một trong các yếu tố của “chỉ dẫn thương mại” .

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Đại học Thành Tây

Tài liệu tham khảo:

[1]. Yves Serra (1993), Le droit francais de la concurrence, Nxb Dalloz.
[2]. Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Hà Nội, 2006.
[3]. Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/nđ-cp ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội, 2015.
[4]. “Pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Đại học Luật Hà Nội, 2006.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: