Thứ sáu 23/01/2026 11:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá về thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.


Abstract: The article analyzes, assesses the real situation of Vietnamese current legal provisions on using commercial indications causing confusion aimed at unfair competition, from that point, makes some recommendations for law completion.

1. Nhận diện hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

Chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là chỉ dẫn thương mại có chứa các dấu hiệu (yếu tố cấu thành, cách trình bày, cách kết hợp giữa các yếu tố, màu sắc, ấn tượng tổng quan đối với người tiêu dùng) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ sở hữu hợp pháp có quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Việc sử dụng chỉ dẫn nêu trên là nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ... Theo khoản 3 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, thì hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn có thể chia thành 2 nhóm:

Thứ nhất, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ
Hành vi này làm cho người tiêu dùng tưởng rằng hàng hóa, dịch vụ của người có hành vi gây nhầm lẫn cùng do doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh sản xuất, cung cấp; hoặc hai loại hàng hóa, dịch vụ có chỉ dẫn thương mại giống nhau hoặc tương tự nhau là do các chủ sở hữu có mối liên hệ, quan hệ hợp tác nhất định. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, thông thường, đối tượng mà chủ thể vi phạm tác động tới là việc sử dụng tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh... Tuy nhiên, để tạo ra sự nhầm lẫn và gây hậu quả nhất định bởi sự nhầm lẫn cho khách hàng, tên thương mại trong trường hợp này cần mang tính độc đáo nhất định. Trái lại, không bị coi là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) nếu tên thương mại là thông dụng và phổ biến.

Thứ hai, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ
Hành vi này khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn hàng hóa, dịch vụ này với hàng hóa, dịch vụ khác về tính năng, số lượng, chủng loại, chất lượng; về điều kiện cung cấp, điều kiện hậu mãi... hoặc về cách thức, quy trình sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ... Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm CTKLM chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (SHCN), thể hiện ở việc doanh nghiệp vi phạm bắt chước các dấu hiệu phân biệt của sản phẩm của đối thủ cạnh tranh như: Nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng bao bì hàng hóa, làm cho khách hàng vì bị nhầm lẫn mà mua sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Do đó, nhóm hành vi này thường được điều chỉnh bởi pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT).

2. Nhận diện hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đều có quy định điều chỉnh hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể:

2.1. Các dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 mới chỉ quy định thế nào là chỉ dẫn thương mại, liệt kê một số chỉ dẫn thương mại và liệt kê các hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ lần đầu tiên nêu lên khái niệm chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn tại điểm c khoản 1 Điều 19, đó là: “Chỉ dẫn thương mại chứa các dấu hiệu (yếu tố cấu thành, cách trình bày, cách kết hợp giữa các yếu tố, màu sắc, ấn tượng tổng quan đối với người tiêu dùng) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ thể quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự”. Mặc dù pháp luật về SHTT đã có hướng dẫn cụ thể về hành vi xâm phạm quyền SHTT do sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, nhưng chưa có các quy định cụ thể về dấu hiệu và căn cứ xác định đối với hành vi CTKLM sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm của hành vi CTKLM, đặc điểm của chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, có thể chỉ ra các dấu hiệu để xác định hành vi CTKLM sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, bao gồm:

a. Mục đích của hành vi

Mục đích cụ thể của hành vi CTKLMsử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ để cạnh tranh với đối thủ bị gây nhầm lẫn[1]. Việc xác định người tiêu dùng có nhầm lẫn giữa hàng hóa, dịch vụ là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ với hàng hóa, dịch vụ do người thực hiện hành vi bị coi là CTKLM tạo ra hay không, có thể dựa trên kết quả khảo sát thị trường, dựa trên đánh giá cảm quan về sự tương tự gây nhầm lẫn về dấu hiệu sử dụng; tương tự gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ.

b. Đối tượng của hành vi
Đối tượng của hành vi sử dụng là các chỉ dẫn thương mại. Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004 có liệt kê một số đối tượng mà hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn xâm phạm đến như: Tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý. Khoản 2 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng xác định: “Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ”. Chỉ dẫn thương mại cũng có các dấu hiệu như: Khả năng phân biệt (chức năng chỉ dẫn) cho phép người tiêu dùng trung bình có thể phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác hoặc phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; khả năng nhìn thấy được, đó có thể là yếu tố màu sắc, cách trình bày, cách kết hợp các yếu tố; khả năng dùng được trong thương mại (có thể sản xuất hàng loạt)… Chỉ dẫn thương mại phải là đối tượng đã được đăng ký bảo hộ; đối với việc xác định hành vi CTKLM liên quan đến các chỉ dẫn thương mại, các chỉ dẫn thương mại không nhất thiết phải được đăng ký bảo hộ nhưng điều kiện tiên quyết phải chứng minh được việc đã đưa vào sử dụng trong hoạt động thương mại, tạo dựng được uy tín nhất định trên thị trường và được người tiêu dùng biết đến rộng rãi[2]. Việc xác định dấu hiệu này có thể căn cứ vào thời gian xuất hiện trên thị trường; phạm vi truyền thông, quảng bá đến người tiêu dùng; mức độ nhận biết, tín nhiệm của người tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ, thị phần của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường...

Điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư số 11/2015/TT- BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã liệt kê một số chỉ dẫn thương mại là đối tượng của hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn như: “Nhãn hàng hóa” là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát; “Khẩu hiệu kinh doanh” là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp nhằm nhấn mạnh mục đích hoặc tiêu chí kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới; “Biểu tượng kinh doanh” là ký hiệu, chữ viết, hình vẽ, hình khối được thiết kế một cách độc đáo và được coi là biểu tượng của doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh; “Kiểu dáng bao bì hàng hóa” là thiết kế, trang trí bao bì hàng hóa, gồm hình dạng, đường nét, hình vẽ, chữ, số, màu sắc, cách trình bày, cách phối hợp màu sắc, cách bố trí, kết hợp giữa các yếu tố nói trên tạo nên ấn tượng riêng hay nét đặc trưng của bao bì hàng hóa[3].
Như vậy, nếu so với pháp luật cạnh tranh, pháp luật SHCN quy định rõ ràng và đầy đủ hơn các chỉ dẫn thương mại là đối tượng của hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, có một đối tượng mà cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHCN không liệt kê, nhưng thực tế vẫn tồn tại hành vi CTKLM là kiểu dáng công nghiệp. Các chỉ dẫn thương mại này khi bị các doanh nghiệp trên thị trường lợi dụng tạo ra các yếu tố trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn sẽ làm sai lệch nhận thức, dẫn đến lựa chọn không đúng mong muốn của người tiêu dùng.

c. Phương thức thực hiện hành vi
Theo Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, việc sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là việc thực hiện một trong các hành vi: (i) Gắn chỉ dẫn gây

nhầm lẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; (ii) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang chỉ dẫn gây nhầm lẫn; (iii) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang chỉ dẫn gây nhầm lẫn.

2.2. Các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Căn cứ Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004, các hành vi CTKLM liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn gồm hai nhóm:
Thứ nhất, hành vi sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ mang chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Biểu hiện cụ thể của hành vi này là việc doanh nghiệp gắn chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo, thiết kế kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm gây nhầm lẫn... Có một vụ việc thực tế điển hình là năm 2013, Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam khiếu nại đến Thanh tra Bộ Khoa học và Công đến về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về kiểu dáng chai dầu gội đầu dược liệu Thái Dương 3 của Công ty Cổ phần Sao Thái Dương. Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiến hành thanh tra và ra Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC ngày 16/9/2013 xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Sao Thái Dương về hành vi sử dụng kiểu dáng chai đựng dầu gội đầu (đặc điểm tạo dáng, cách trình bày, màu sắc...) tương tự với chỉ dẫn thương mại là kiểu dáng chai sản phẩm dầu gội đầu “Sunsilk” của Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam đã sử dụng rộng rãi, ổn định, lâu dài từ năm 2008. Đây là hành vi CTKLM về SHCN quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Ở vụ việc này, do Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam chưa đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với chai đựng dầu gội đầu “Sunsilk” nên không khiếu nại theo hướng hành vi xâm phạm quyền SHCN, mà khiếu nại về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn nhằm CTKLM. Công ty này đã chứng minh được: (i) Chỉ dẫn thương mại đã được Công ty sử dụng rộng rãi, ổn định và được nhiều người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến do có hệ thống đại lý phân phối trên khắp Việt Nam và đã quảng cáo rộng rãi dưới nhiều hình thức khác nhau để giới thiệu sản phẩm tới đông đảo người tiêu dùng tại Việt Nam; (ii) Hành vi sử dụng chỉ dẫn có gây nhầm lẫn do sản phẩm “dầu gội dược liệu Thái Dương 3 là hoàn toàn trùng với kiểu dáng chai đã sử dụng cho sản phẩm dầu gội “Sunsilk” từ năm 2008 đến nay[4]...

Vụ việc xảy ra vào năm 2013, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã căn cứ khoản 8 Điều 14 Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về SHCN để xử lý. Tuy nhiên hiện nay, Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 14 Nghị định 97/2010/NĐ-CP đã được thay thế bởi Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 có quy định về hành vi CTKLM do sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn, nhưng khái niệm chỉ dẫn thương mại không bao gồm kiểu dáng công nghiệp và trong các chỉ dẫn gây nhầm lẫn được liệt kê cũng không có kiểu dáng công nghiệp. Do đó, câu hỏi đặt ra là kiểu dáng công nghiệp được coi là một loại chỉ dẫn thương mại hay là một dạng của kiểu dáng bao bì sản phẩm để có thể áp dụng quy định này? Vụ việc cũng cho thấy, cần thiết phải bổ sung kiểu dáng công nghiệp gây nhầm lẫn vào nhóm các chỉ dẫn thương mại để ngăn chặn nhóm hành vi CTKLM do sử dụng kiểu dáng công nghiệp gây nhầm lẫn xảy ra khá nhiều trong thời gian gần đây.

Thứ hai, hành vi kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Biểu hiện cụ thể của hành vi này là việc doanh nghiệp bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hóa có gắn chỉ dẫn thương mại đó. Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp, cửa hàng đại lý bán nước mắm có chỉ dẫn địa lý trên nhãn hàng hóa là “Nước mắm Phú Quốc”, nhưng thực tế không biết nước mắm đó có thực sự được sản xuất tại Phú Quốc hay không?

3. Một số nhận xét và kiến nghị
Những phân tích ở trên cho thấy, đối với việc quy định hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại nhằm CTKLM theo pháp luật Việt Nam còn một số tồn tại như:
- Có nhiều quy định pháp luật nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh về một loại hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN. Điều này gây khó khăn trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
- Khái niệm hành vi CTKLM được quy định tại khoản 4 Điều 3 và các hành vi cụ thể được liệt kê tại Điều 39 Luật Cạnh tranh. Khoản 10 Điều 39 quy định về các hành vi CTKLM khác, nhưng chưa có một văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Nếu phát sinh hành vi CTKLM mới không nằm trong số danh sách các hành vi đã được quy định, thì có được căn cứ khoản 10 Điều 39 để áp dụng không? Cơ quan nào có quyền giải thích, áp dụng điều này.
- Theo quy định của khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi CTKLM được thực hiện liên quan đến các đối tượng là chỉ dẫn thương mại, nhãn hiệu và tên miền... Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN cũng quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là kiểu dáng công nghiệp có được coi là một yếu tố trong chỉ dẫn thương mại và là đối tượng của hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN không? Trên thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với mục tiêu xây dựng thương hiệu, thu hút người tiêu dùng. Đã có ý kiến cho rằng, nhãn hiệu thường chỉ là hình thức bên ngoài, có thể gây ấn tượng đầu tiên cho khách hàng tiềm năng, nhưng một kiểu dáng bắt mắt thường nhanh chóng chiếm được sự trung thành với thương hiệu, như là trường hợp sản phẩm Ipad của hãng Apple. Chính vì tầm quan trọng của kiểu dáng công nghiệp trong việc làm tăng giá trị sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như vậy, nên trên thực tế không ít trường hợp các đối thủ cạnh tranh sao chép, bắt chước kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp nhằm có được lợi thế cạnh tranh của người tiêu dùng.
Từ những tồn tại ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

- Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh mặc dù mang bản chất là hành vi CTKLM nhưng thuộc lĩnh vực hẹp hơn, do đó, không nên quy định trong Luật Cạnh tranh, mà để luật chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ) điều chỉnh sẽ bớt chồng chéo, trùng lặp.
- Trao quyền cho cơ quan hướng dẫn thi hành (có thể là Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc Tòa án thông qua các án lệ) xác định các loại hành vi CTKLM mới xuất hiện ngoài các hành vi đã được liệt kê (như hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn là kiểu dáng công nghiệp của hàng hóa).
- Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ có đề cập “kiểu dáng bao bì” là một loại chỉ dẫn thương mại nhưng chưa làm rõ kiểu dáng bao bì có bao gồm kiểu dáng công nghiệp của hàng hóa không. Vì vậy, cần bổ sung kiểu dáng công nghiệp là một trong các yếu tố của “chỉ dẫn thương mại” .

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Đại học Thành Tây

Tài liệu tham khảo:

[1]. Yves Serra (1993), Le droit francais de la concurrence, Nxb Dalloz.
[2]. Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Hà Nội, 2006.
[3]. Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/nđ-cp ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội, 2015.
[4]. “Pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Đại học Luật Hà Nội, 2006.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: