Thứ ba 25/08/2026 09:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật trong xu hướng phát triển của thị trường bất động sản

Hiện nay, hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản khá đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó, một số nội dung vẫn còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, quy định chỉ mang tính chất hình thức mà chưa thực sự hiệu quả khi áp dụng. Cụ thể:

1. Thực trạng một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản
Hiện nay, hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản khá đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó, một số nội dung vẫn còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, quy định chỉ mang tính chất hình thức mà chưa thực sự hiệu quả khi áp dụng. Cụ thể:

Thứ nhất, chưa có quy định pháp luật điều chỉnh đối với các loại hình bất động sản mới như căn hộ nghỉ dưỡng (condotel), văn phòng khách sạn (officetel), biệt thự nghỉ dưỡng...

Căn hộ nghỉ dưỡng, văn phòng khách sạn hay biệt thự nghỉ dưỡng là những loại hình mới xuất hiện trên thị trường bất động sản ở Việt Nam. Đây là một sản phẩm bất động sản mang tính chất trung gian, kết hợp giữa căn hộ với khách sạn. Cụ thể, về chức năng khách sạn, condotel có hệ thống đặt phòng và các dịch vụ khác như nhà hàng, cửa hàng, dịch vụ... Còn về chức năng căn hộ thì condotel lại có đầy đủ các tính năng như nhà ở với các tiện ích bếp, phòng khách, phòng ngủ... và cho phép khách hàng mua sản phẩm xác lập quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm tương tự đối với căn hộ thông thường. Nhưng khác với căn hộ, condotel chỉ cho phép khách hàng sử dụng như khách sạn để nghỉ dưỡng và trong thời gian không sử dụng họ có thể đăng ký với chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý để cho thuê lại nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận từ khoản đầu tư của mình. Đây là mô hình kinh doanh mà cả chủ đầu tư và chủ sở hữu cùng có lợi.

Với sự kết hợp giữa căn hộ và khách sạn thì condotel đang “lơ lửng” giữa chức năng để ở và lưu trú thương mại. Điều này không chỉ khiến người mua nhầm lẫn, mà pháp luật điều chỉnh cũng chưa có sự rõ ràng liên quan tới mục đích sử dụng của loại hình bất động sản này. Cụ thể: Xét về hình thức sử dụng đất, nếu sử dụng với mục đích để ở thì người sử dụng đất được giao đất có thu tiền sử dụng đất (Điều 55 Luật Đất đai năm 2013), còn với mục đích lưu trú thương mại thì hình thức tương ứng là thuê đất (thuê đất trả tiền một lần hoặc thuê đất trả tiền hàng năm) (Điều 56 Luật Đất đai năm 2013) và nghĩa vụ tài chính ở mỗi hình thức sử dụng đất cũng sẽ khác nhau; xét về thời hạn sở hữu, thì có nơi căn hộ được cấp sử dụng với thời hạn lâu dài theo mục đích sử dụng đất ở nhưng có nơi dự án cấp phép cho sở hữu 50 năm với đất thương mại; xét về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì chủ đầu tư hay chủ sở hữu căn hộ trong trường hợp này sẽ được cấp?... Những bất cập đối với condotel cũng chính là những thiếu sót trong quy định của pháp luật cho các loại hình bất động sản khác như văn phòng khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng... Do vậy, cơ quan có thẩm quyền cần sớm đưa ra những quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động của các mô hình bất động sản này trên thực tế.

Thứ hai, thị trường chuyển nhượng dự án bất động sản gặp khó khăn do điều kiện khó thực hiện theo quy định pháp luật

Thị trường bất động sản phát triển tạo thuận lợi cho nhiều chủ đầu tư gia nhập thị trường. Nhưng trong quá trình hoạt động, vì nhiều lý do khác nhau khiến họ không đủ nguồn lực tài chính nên buộc phải bán lại dự án của mình cho các nhà đầu tư khác. Ở một góc độ nào đó, chuyển nhượng dự án bất động sản là một trong những cách thức tạo cơ hội cho doanh nghiệp có dự án gặp khó khăn về tài chính có thể nhượng lại một phần hoặc toàn bộ dự án của mình cho nhà đầu tư khác để tham gia thị trường.

Tuy nhiên, hoạt động này đang vấp phải những khó khăn lớn từ hành lang pháp lý hiện nay. Theo Điều 49 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định về điều kiện chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản, điều kiện khó thực hiện nhất với bên chuyển nhượng đó là: Chủ đầu tư chuyển nhượng đã có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất cho toàn bộ hoặc phần dự án chuyển nhượng. Mặc dù, hiện nay, cải cách hành chính luôn được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng nhưng những bất cập xoay quanh công tác này chưa thực sự được giải quyết một cách triệt để. Điều đó đã khiến cho bên chuyển nhượng khá loay hoay với điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi muốn nhượng lại một phần hay toàn bộ dự án của mình. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng nhiều dự án bị thu hồi chủ trương đầu tư, trở thành hàng tồn kho nhưng chưa đủ điều kiện chuyển nhượng. Quy định trên thực sự chưa tạo điều kiện cho nhà đầu tư mới có năng lực thay thế chủ đầu tư cũ để khởi động lại các dự án đang gặp khó khăn cũng như chưa tạo được sự thông thoáng cho thị trường bất động sản.

Thứ ba, mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của cá nhân người nước ngoài

Người nước ngoài có được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay không? Câu hỏi này được đặt ra vì: Điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 có ghi nhận cá nhân là người nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua việc mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại. Bên cạnh đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quy định một trong các nguyên tắc mua bán nhà, công trình xây dựng là “việc mua bán nhà, công trình xây dựng phải gắn với quyền sử dụng đất” (khoản 1 Điều 19). Tuy nhiên, theo Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 thì cá nhân người nước ngoài không phải là một trong các đối tượng được quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Cụ thể, gắn các quy định này của pháp luật với hai trường hợp sở hữu nhà ở của người nước ngoài trong các dự án nhà ở thương mại:

- Nhà ở riêng lẻ gắn liền với quyền sử dụng đất trong các dự án bất động sản: Ở hình thức nhà ở thương mại này, nếu đối chiếu theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014, thì người nước ngoài hoàn toàn có quyền sở hữu đối với những dạng nhà ở là biệt thự hay căn hộ liền kề. Nhưng việc mua bán nhà, công trình xây dựng phải gắn với quyền sử dụng đất mà Luật Đất đai năm 2013 không cho phép người nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam nên họ sẽ không được quyền sở hữu đối với nhà ở riêng lẻ trong các dự án nhà ở thương mại. Vậy trong trường hợp này, với hai quy định mâu thuẫn nhau thì người nước ngoài có được quyền sở hữu nhà hay không?

- Nhà ở dưới dạng các căn hộ chung cư: Với chung cư thì giống như tất cả các chủ thể khác, người nước ngoài có quyền sở hữu riêng với diện tích căn hộ của mình và có quyền sở hữu chung đối với quyền sử dụng đất. Luật Nhà ở năm 2014 vẫn cho phép người nước ngoài được sở hữu căn hộ chung cư. Còn theo Luật Đất đai năm 2013, họ không được quyền sử dụng đất nhưng với quyền sử dụng đất chung cùng các chủ thể khác thì có được hay không? Pháp luật đất đai cũng chưa có hướng dẫn cụ thể với nội dung này.

Vậy người nước ngoài có được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay không khi vẫn còn có những sự mâu thuẫn trong quy định của các văn bản pháp luật?

Thứ tư, quy định thiếu thống nhất trong việc công chứng, chứng thực hợp đồng kinh doanh bất động sản

Hợp đồng kinh doanh bất động sản là một loại hợp đồng có giá trị lớn, ảnh hưởng nhiều tới quyền và lợi ích của các bên chủ thể tham gia giao dịch. Hơn nữa, đây là một loại hình kinh doanh gắn liền với quyền sử dụng đất nên đối với loại hợp đồng này cần thiết phải có sự điều chỉnh chặt chẽ từ phía Nhà nước, hay nói cách khác hợp đồng kinh doanh bất động sản phải được công chứng, chứng thực. Luật Nhà ở năm 2014 ghi nhận vấn đề này tại khoản 1 Điều 122, theo đó, với trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng. Thời điểm hợp đồng có hiệu lực chính là thời điểm công chứng, chứng thực. Nhưng bên cạnh đó, đối lập với quy định này, khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quy định rằng, hợp đồng kinh doanh bất động sản bao gồm cả hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà, công trình xây dựng chỉ cần lập bằng văn bản, việc công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hoàn toàn do các bên tự thoả thuận. Việc thỏa thuận công chứng, chứng thực giữa các bên còn được Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận tại điểm b khoản 3 Điều 167 với nội dung: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.

Việc khác nhau trong quy định của pháp luật về vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng kinh doanh bất động sản đã gây không ít khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật. Như vậy, đứng ở góc độ các bên chủ thể tham gia giao dịch thì phương án thỏa thuận công chứng, chứng thực sẽ được coi là ưu thế hơn khi vừa thể hiện được ý chí của các bên đồng thời giúp đơn giản hoá thủ tục khi giao kết hợp đồng.

2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật trong xu hướng phát triển của thị trường bất động sản hiện nay

Bổ sung và hoàn thiện các quy định chưa phù hợp, còn thiếu sót của pháp luật điều chỉnh hoạt động đối với thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cần thiết. Trước những thực trạng nêu trên, một số giải pháp trước tiên được đặt ra:

Một là, ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của loại hình bất động sản căn hộ nghỉ dưỡng, văn phòng khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng...

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phối hợp để sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật Xây dựng, Luật Đất đai và Luật Kinh doanh bất động sản nhằm tạo nên một khung pháp lý chặt chẽ điều chỉnh các hoạt động có liên quan tới các loại hình bất động sản mới. Cụ thể là: Tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng đối với các loại hình công trình căn hộ du lịch nghỉ dưỡng, biệt thự du lịch, văn phòng kết hợp lưu trú ngắn hạn…; ban hành quy chế quản lý, vận hành các loại hình kết hợp này trong đó đặc biệt lưu ý tới điều kiện, yêu cầu của bên chủ thể đóng vai trò là đơn vị quản lý trong các dự án condotel, officetel...; quy định các vấn đề liên quan tới chế độ sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất cho căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng...

Trong các loại hình bất động sản này, các chủ thể tham gia gồm có: (i) Chủ đầu tư bỏ vốn xây dựng nhằm tìm kiếm lợi nhuận; (ii) Nhóm khách hàng mua căn hộ khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng... (thường là những người có mức thu nhập cao, ở tầng lớp trung lưu dùng với mục đích du lịch nghỉ dưỡng...); (iii) Nhóm khách hàng đi thuê lại căn hộ hay biệt thự nghỉ dưỡng của nhóm khách hàng thứ hai cũng với mục đích nghỉ dưỡng trong thời gian nhóm này không có nhu cầu sử dụng. Bởi vậy, tính pháp lý liên quan tới chế độ sử dụng đất có thể xem xét ở các góc độ:

- Về hình thức sử dụng đất: Các dự án condotel là sự giao thoa giữa hai mục đích để ở và lưu trú thương mại hay officetel là văn phòng kết hợp với khách sạn. Chủ đầu tư bỏ vốn xây dựng các dự án nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động thương mại này. Theo đó, Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 nên bổ sung hình thức sử dụng đất cho những dự án căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng... là được Nhà nước cho thuê đất theo hình thức thu tiền một lần hoặc thu tiền hàng năm.

- Về thời hạn sử dụng đất: Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 nên bổ sung thêm quy định về thời hạn cho thuê đất áp dụng với chủ đầu tư thực hiện dự án xây dựng căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng... là 50 năm. Với những dự án đầu tư vốn lớn và thu hồi vốn về chậm thì được phép thuê đất với thời hạn 70 năm. Khi hết thời hạn thuê đất nếu chủ đầu tư vẫn có nhu cầu sử dụng và được Nhà nước xem xét thì tiếp tục cho thuê đất.

- Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Nhóm chủ thể là nhà đầu tư và khách mua căn hộ nghỉ dưỡng, văn phòng khách sạn... sẽ là những người được cấp giấy chứng nhận. Khi giấy chứng nhận cấp cho khách hàng thì trong giấy cấp cho chủ đầu tư phải được chỉnh lý biến động. Trong trường hợp này hình thức sử dụng đất áp dụng cho cả 02 đối tượng đều là thuê đất. Đây là điểm khác biệt giữa chủ sở hữu căn hộ trong dự án căn hộ du lịch hay biệt thự nghỉ dưỡng với chủ sở hữu căn hộ chung cư thông thường.

Hai là, nới rộng điều kiện chuyển nhượng dự án bất động sản đối với bên chuyển nhượng

Với quy định hiện nay của pháp luật, nhà đầu tư muốn chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của mình sang cho chủ thể khác cần đáp ứng điều kiện có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất trong nhiều trường hợp thực sự khá khó khăn. Quy định này của pháp luật có thể xem xét, nới rộng ra theo hướng nếu chủ đầu tư chuyển nhượng có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thì bên chuyển nhượng có thể nhượng lại một phần hoặc toàn bộ dự án của mình cho chủ thể khác. Bởi vì, các quyết định này đã chứng minh được việc các chủ đầu tư được Nhà nước trao quyền sử dụng đất một cách hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nên có thể coi các quyết định giao đất, cho thuê đất hay quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hợp pháp là điều kiện thay thế cho việc các chủ đầu tư phải có giấy chứng nhận như hiện tại. Nội dung này sẽ góp phần tháo gỡ được phần nào những khó khăn cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường chuyển nhượng dự án bất động sản cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản.

Ba là, thống nhất quy định về quyền sở hữu nhà ở cho cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam

Về vấn đề này, tác giả đồng tình với quy định của Luật Đất đai năm 2013, tức là không cho phép người nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam trong bất kỳ trường hợp nào nên trong quy định về quyền sở hữu nhà ở của cá nhân là người nước ngoài sẽ có hai hướng giải pháp sau:

- Bỏ quy định tại Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 khi ghi nhận cá nhân người nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Nhà và các công trình xây dựng là các bất động sản luôn gắn liền với quyền sử dụng đất, do vậy, quy định tại Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản là hoàn toàn hợp lý. Gắn với chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam - đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, thì việc không thừa nhận người nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam sẽ phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Do đó, cá nhân người nước ngoài có nhu cầu về chỗ ở thì họ chỉ có thể thực hiện giao dịch về nhà ở thông qua hình thức thuê, có quyền chiếm hữu, sử dụng nhà ở nhưng không có quyền định đoạt đối với tất cả các hình thức nhà ở chứ không chỉ riêng nhà ở thương mại trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở.

- Sửa đổi quy định tại Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 theo hướng chỉ áp dụng với nhà chung cư mà không áp dụng với nhà ở riêng lẻ, cụ thể: “… Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại là căn hộ chung cư trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ”. Cùng với đó, Luật Đất đai cần có hướng dẫn cụ thể cho trường hợp người nước ngoài khi sở hữu căn hộ chung cư thì họ chỉ được quyền hưởng giá trị tương ứng trong quyền sử dụng đất chung với các chủ thể khác mà không có quyền sử dụng đất chung. Hai quy định này sẽ tạo được sự thống nhất, đồng thời phù hợp với chế độ sở hữu đất đai của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Bốn là, hợp đồng kinh doanh bất động sản phải được công chứng, chứng thực mới có hiệu lực pháp lý

Công chứng, chứng thực nên được coi là điều kiện bắt buộc để các hợp đồng kinh doanh bất động sản có hiệu lực. Bởi vì, xét về giá trị thì các hợp đồng kinh doanh bất động sản thường khá lớn; xét về đối tượng thì hợp đồng kinh doanh bất động sản là hình thức cụ thể cho các giao dịch thực hiện có liên quan tới quyền sử dụng đất - loại bất động sản mà Nhà nước có sự kiểm soát một cách chặt chẽ; chính từ những lý do đó, nên tranh chấp xuất phát từ dạng hợp đồng này thường khó giải quyết và gây ảnh hưởng lớn tới quyền và lợi ích của các bên. Tác giả cho rằng, nên thống nhất chung các quy định của Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở về hợp đồng kinh doanh bất động sản phải được công chứng, chứng thực mới có hiệu lực pháp lý. Điều này sẽ giúp các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát hiệu quả hơn các giao dịch liên quan tới bất động sản nói chung và quyền sử dụng đất nói riêng.

ThS. Bùi Hồng Nhung

Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: