Thứ ba 18/08/2026 10:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thể chế quản lý lao động người nước ngoài - Một số vấn đề từ thực tiễn

Tính đến nay, cơ sở pháp lý cho người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam đã trải qua: Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002, 2006, 2007 và Bộ luật Lao động năm 2012. Ngoài ra, còn có nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư có liên quan hoặc hướng dẫn thi hành.

Thể chế được hiểu là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”[1]. Như vậy, thể chế quản lý lao động người nước ngoài ở Việt Nam là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý là những người nước ngoài nhập cư vào nước sở tại để làm ăn, sinh sống một mình hoặc cùng với gia đình của họ với các nguyên tắc cơ bản là tôn trọng quyền con người, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm cho người lao động bản xứ, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nước ngoài nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý và gắn việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội.

Ở nước ta, tính từ thời kỳ đổi mới năm 1986 cho đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI cho đến Đại hội Đảng lần thứ XII, trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, Đảng ta đều có những chủ trương, chính sách, đường lối đúng đắn, phù hợp. Từ những định hướng của các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ lao động đối với người nước ngoài cư trú, làm việc tại Việt Nam. Theo đó, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã lần đầu tiên tạo ra môi trường pháp lý cho đối tượng là lao động nước ngoài. Tiếp đến, Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành đã đưa lao động là người nước ngoài vào một mục riêng - Mục V Chương 11 với 5 điều (từ Điều 131 đến Điều 135).

Tính đến nay, cơ sở pháp lý cho người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam đã trải qua: Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002, 2006, 2007 và Bộ luật Lao động năm 2012. Ngoài ra, còn có nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư có liên quan hoặc hướng dẫn thi hành.

Bên cạnh các quy phạm pháp luật Việt Nam thì thể chế quản lý lao động người nước ngoài còn bao hàm quy phạm của các văn kiện và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các văn kiện, công ước đó bao gồm: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR); Văn kiện của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) - Việt Nam đã phê chuẩn 5/8 Công ước; các văn kiện của ASEAN: Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú (Tuyên bố Cebu năm 2007); các điều ước song phương giữa Việt Nam với các quốc gia và khu vực: Hiệp định Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Lào, Thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia về chương trình lao động kết hợp kỳ nghỉ, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)...

Nhìn chung, từ khi thực hiện chính sách mở cửa với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm và xác định vấn đề yếu tố nước ngoài trong thu hút nguồn nhân lực, nguồn lao động có tay nghề cao là không thể tránh khỏi. Chính vì vậy, tính từ năm 1986 đến nay, chính sách về lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam luôn được ban hành, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu từ thực tiễn.

Thể chế quản lý lao động người nước ngoài đã thể hiện được đầy đủ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong việc thực hiện chính sách “mở cửa” đối với nền kinh tế. Thể chế này đã đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn và phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ khác nhau. Đến nay, nhìn chung, thể chế quản lý lao động người nước ngoài xét về đối tượng được cấp phép sử dụng lao động người nước ngoài đã bao quát gần như toàn bộ các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam và đầy đủ nhất từ trước tới nay, bao gồm: Các loại hình doanh nghiệp, văn phòng đại diện, chi nhánh, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp… Người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ký hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, chào bán dịch vụ… Sự đa dạng này phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế. Về điều kiện cấp phép lao động, miễn trừ giấy phép ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ. Trình tự, thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định rất cụ thể, rõ ràng.

Thể chế quản lý lao động người nước ngoài là hành lang pháp lý quan trọng trong việc tuyển dụng, cấp phép, miễn cấp phép và sử dụng lao động người nước ngoài tại Việt Nam. Thể chế này đã đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế, đa dạng hóa các quan hệ sản xuất, quan hệ lao động và đáp ứng được những đòi hỏi từ thực tiễn Việt Nam về hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, thể chế quản lý lao động người nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định như sau:

Thứ nhất, thể chế quản lý lao động người nước ngoài quy định rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau, bao gồm: Bộ luật, luật, nghị định, thông tư… Việc thiếu hệ thống hóa, pháp điển hóa, nội luật hóa các quy phạm pháp luật này về một đầu mối gây không ít khó khăn cho các cơ quan quản lý, người thực thi pháp luật… Thực tiễn cho thấy, khi người có thẩm quyền vận dụng, áp dụng quy phạm pháp luật để thực hiện một trình tự, thủ tục nào đó phải xem xét rất nhiều các văn bản khác nhau nhưng các văn bản pháp luật này lại chưa được hệ thống hóa hoặc pháp điển hóa, ví dụ như: Khi người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì phải xem xét Bộ luật Lao động, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; các thông tư hướng dẫn… nên gặp nhiều khó khăn khi áp dụng. Vì vậy, rất cần thiết nghiên cứu để pháp điển hóa các quy phạm pháp luật và nội luật hóa các điều ước quốc tế có liên quan đến thể chế quản lý lao động người nước ngoài thành luật riêng - Luật Người nước ngoài lao động tại Việt Nam. Đây là kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006. Do đó, để quản lý hiệu quả hơn đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, theo tác giả, cần thiết phải có luật riêng.

Thứ hai, thể chế quản lý lao động người nước ngoài còn nhiều khoảng trống về điều kiện để công nhận một người là chuyên gia, nhà quản lý, kỹ thuật. Theo quy định thì một trong năm điều kiện để được cấp phép lao động “là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật”[2]. Chuyên gia được công nhận khi có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài; có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định[3]. Hoặc quy định “lao động kỹ thuật là người được đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hoặc chuyên ngành khác ít nhất 01 năm và làm việc ít nhất 03 năm trong chuyên ngành được đào tạo”[4]. Tuy nhiên, việc xác nhận kinh nghiệm chưa được quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng. Nếu chỉ là doanh nghiệp nước ngoài xác nhận cho lao động nước ngoài để đủ điều kiện vào làm việc tại Việt Nam thì liệu rằng có bảo đảm chất lượng và yêu cầu bảo hộ lao động trong nước hay không? Pháp luật bỏ ngỏ và chính điều này đã tạo sơ hở cho số lao động phổ thông một số nước như Trung Quốc, Phi-líp-pin, Hàn Quốc… vào thị trường lao động Việt Nam cạnh tranh với lao động trong nước. Bên cạnh đó, việc quy định về nhà quản lý, điều hành hoặc nhà đứng đầu, cấp phó[5]… còn nhiều khoảng trống và các công ty gia đình sẽ có điều kiện đưa người thân của mình vào với các vị trí quản lý nhưng trình độ không tương xứng, ảnh hưởng đến chính sách bảo hộ lao động trong nước, quá trình điều hành dễ nảy sinh mâu thuẫn với lao động là công dân Việt Nam, thậm chí số lao động nước ngoài này phục vụ cho các hoạt động khác xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội[6]. Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về xác nhận bằng cấp, số năm kinh nghiệm theo hướng xác nhận những bằng cấp của cơ sở đào tạo nào, của quốc gia nào, vùng lãnh thổ nào được công nhận tại Việt Nam và trình tự, thủ tục xác nhận số năm kinh nghiệm để được công nhận là chuyên gia tại Việt Nam.

Thứ ba, thể chế quản lý lao động người nước ngoài còn thiếu chế tài đủ mạnh để xử lý hành vi vi phạm đối với người sử dụng lao động người nước ngoài, cũng như người lao động nước ngoài. Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới như ở Vương quốc Anh cho thấy, trách nhiệm cao nhất được quy cho người sử dụng lao động người nước ngoài. Theo đó, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm báo cáo về tình hình sử dụng lao động người nước ngoài, trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt 10.000 bảng Anh đối với người sử dụng lao động nhập cư bất hợp pháp do lỗi vô ý của người sử dụng lao động. Mức phạt tiền là không giới hạn hoặc áp dụng án hình sự cho người sử dụng lao động do lỗi cố ý[7]. Đối với pháp luật Việt Nam, chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, theo tác giả, cần có cách tiếp cận mới cho vấn đề này. Bởi lẽ, người nước ngoài nhập cư trái phép, cư trú trái phép để làm việc tại Việt Nam, chắc chắn họ phải làm việc cho một tổ chức, cá nhân nào đó (người sử dụng lao động). Do đó, quy trách nhiệm cao nhất trong báo cáo, đăng ký sử dụng lao động người nước ngoài cho người sử dụng lao động như kinh nghiệm của Vương quốc Anh là phù hợp nhất. Đồng thời, trách nhiệm này là chế tài nghiêm khắc, nghiêm minh bao gồm cả phạt tiền và không loại trừ truy tố trách nhiệm hình sự.

Thứ tư, thể chế quản lý lao động người nước ngoài còn nhiều yếu kém trong khâu “hậu kiểm” đối với người nước ngoài nhập cư vào Việt Nam, làm việc tại Việt Nam và thanh tra, kiểm tra đối với người sử dụng lao động người nước ngoài. Việc yếu kém này bắt nguồn từ sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa tốt hoặc chưa có sự phối hợp nhằm theo dõi, thống kê chính xác số người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú… Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra việc cư trú, việc sử dụng lao động người nước ngoài còn nhiều hạn chế do nguồn nhân lực, điều kiện vật chất thiếu thốn…Vì vậy, việc thanh tra, kiểm tra còn mang nặng tính hình thức, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

Để giải quyết tình trạng yếu kém này, theo tác giả, cần phải lựa chọn một trong hai giải pháp: (i) Tăng cường nguồn nhân lực, cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ “hậu kiểm”, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng lao động người nước ngoài; (ii) Phải có cơ chế đồng bộ phối hợp hiệu quả, liên thông từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và từ người sử dụng lao động, nhân dân… Theo tác giả, giải pháp thứ hai là khả thi hơn, ngoài việc không tạo thêm bộ máy cồng kềnh, tăng biên chế, ngân sách thì cơ chế này đảm bảo hiệu quả cao nhất. Bởi vì, theo kinh nghiệm thế giới, ở Vương quốc Anh, từ năm 2015, Chính phủ Anh yêu cầu các chủ nhà xác nhận tình trạng nhập cư của người thuê nhà. Chủ nhà không làm hoặc cố ý hoặc không biết người thuê nhà không có giấy tờ có thể bị truy tố hình sự[8].

Việt Nam có thể tiếp nhận kinh nghiệm này trong việc đổi mới cơ chế quản lý người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam, Theo đó, trách nhiệm báo cáo, đăng ký sử dụng lao động người nước ngoài là của người sử dụng lao động và báo cáo, đăng ký thường trú, tạm trú cho người nước ngoài thuê nhà, thuê trọ là thuộc trách nhiệm của chủ nhà trọ, chủ nhà cho thuê, kèm theo đó là chế tài thật nặng, thật nghiêm khắc và không loại trừ xử lý hình sự. Còn các cơ quan nhà nước tập trung nguồn nhân lực để nắm bắt tình hình và thực hiện chức năng “hậu kiểm”, thanh tra, kiểm tra vào những nơi, những đối tượng có nhiều khả năng sai phạm theo định kỳ hoặc đột xuất.

Nguyễn Thị Kim Huệ

Ủy ban nhân dân xã Tân Vĩnh Hiệp, Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Tài liệu tham khảo:

[1]. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 932.

[2]. Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

[3]. Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

[4]. Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

[5]. Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

[6]. Nguyễn Minh Tuấn, (2017), “Công tác quản lý cư trú đối với lao động người nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Chủ nhiệm đề tài TS. Ngô Hữu Phước.

[7]. Trần Phú Vinh, “Pháp luật về quản lý nhập cư của Vương quốc Anh”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Chủ nhiệm đề tài TS. Ngô Hữu Phước.

[8]. Trần Phú Vinh, “Pháp luật về quản lý nhập cư của Vương quốc Anh”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Chủ nhiệm đề tài TS. Ngô Hữu Phước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: