Chủ nhật 15/03/2026 09:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thỏa thuận nhận tội trong hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ

Tóm tắt: Thỏa thuận nhận tội là một cơ chế có lịch sử tồn tại lâu dài tại Hoa Kỳ. Cơ chế này có những lợi thế cho cả người bị buộc tội và Nhà nước. Với những ưu điểm vượt trội, hơn 90% vụ án hình sự tại Hoa Kỳ được áp dụng thỏa thuận nhận tội để giải quyết.

Tóm tắt: Thỏa thuận nhận tội là một cơ chế có lịch sử tồn tại lâu dài tại Hoa Kỳ. Cơ chế này có những lợi thế cho cả người bị buộc tội và Nhà nước. Với những ưu điểm vượt trội, hơn 90% vụ án hình sự tại Hoa Kỳ được áp dụng thỏa thuận nhận tội để giải quyết. Tuy nhiên, dù được áp dụng phổ biến, cơ chế này cũng vấp phải những chỉ trích trong chính nội bộ tư pháp Hoa Kỳ.

Abstract: Plea agreement is a long existing historical institution in the USA. This institution provides advantages for a defendant and the prosecution as well. Plea agreement has been applied in more than 90% of criminal cases in the USA due to its advantages. In spite of common application, plea agreement, however, faces critics within the internal cirle of the Department of Justice of the USA.

Thỏa thuận nhận tội là thỏa thuận trong đó người bị buộc tội nhận tội để đổi lấy sự nhượng bộ đối với hình phạt hoặc cáo trạng từ phía công tố viên. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép áp dụng biện pháp thỏa thuận nhận tội như một thủ tục hình sự chính thức và được sử dụng rộng rãi trong quá trình tố tụng hình sự. Luật hình sự Liên bang Hoa Kỳ không quy định thời gian truy tố và giữa các bang, thời gian truy tố cũng khác nhau. Tuy nhiên, thời gian xử lý vụ án hình sự có thể rất dài, chủ yếu là do các thủ tục lựa chọn bồi thẩm viên tốn thời gian, thậm chí có thể mất nhiều năm. Do đó, phần lớn các vụ án hình sự ở Hoa Kỳ thường được giải quyết bằng thỏa thuận nhận tội để giảm thiểu chi phí, giảm tải hệ thống tư pháp nhưng vẫn đáp ứng các yêu cầu công lý[1]. Tòa án tối cao Hoa Kỳ thừa nhận cơ chế này là một phần gắn liền trong luật hình sự và một thành phần thiết yếu trong việc thực thi công lý, cần được khuyến khích nếu được áp dụng một cách phù hợp[2].

1. Đặc điểm cơ bản của thỏa thuận nhận tội

Thỏa thuận nhận tội được coi như một loại hợp đồng trong tố tụng hình sự, trong đó, các quyền của người bị buộc tội được xem xét và đánh giá theo nguyên tắc của luật hợp đồng[3]. Hợp đồng này là thỏa thuận song phương giữa công tố viên và người bị buộc tội, trong đó, công tố viên sẽ tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự theo hướng có lợi cho người bị buộc tội để đổi lại lời nhận tội. Nếu người bị buộc tội vi phạm thỏa thuận - bao gồm không nhận tội hoặc nhận tội nhưng không đúng với thỏa thuận, công tố viên sẽ không bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ trong thỏa thuận. Mặt khác, nếu công tố viên không giữ đúng cam kết trong thỏa thuận, người bị buộc tội có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ thẩm phán. Người bị buộc tội có thể đề xuất thẩm phán cho phép họ rút khỏi thỏa thuận nhận tội, hoặc yêu cầu công tố viên tuân thủ đúng cam kết[4].

Xuất phát từ bản chất như một hợp đồng, thỏa thuận nhận tội chỉ có giá trị đối với các bên liên quan. Thẩm phán không bị ràng buộc để chấp nhận thỏa thuận nhận tội. Trong các vụ án hình sự, công tố viên và luật sư bào chữa có thể thảo luận với thẩm phán về lời nhận tội của người bị buộc tội và hình phạt có thể sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, thẩm phán vẫn có quyền ra quyết định cuối cùng và không bị ràng buộc bởi các khuyến nghị của công tố viên, dù những khuyến nghị này được công nhận là một phần của thỏa thuận nhận tội. Dưới tư cách là đại diện của cơ quan tư pháp, thẩm phán phải đưa ra phán quyết đối với tội phạm trên cơ sở thực tế của vụ án. Do đó, luật pháp cho phép thẩm phán từ chối kết quả của thỏa thuận nhận tội nếu thỏa thuận đi ngược lại nguyên tắc cốt lõi của Tòa án. Đây có thể là một đặc quyền và cũng là một nghĩa vụ đặc biệt đối với một thẩm phán khi đưa ra phán quyết về vụ án ngay cả khi người bị buộc tội đã nhận tội.

2. Điều kiện để công nhận sự hợp pháp của thỏa thuận nhận tội

2.1. Người bị buộc tội hiểu rõ nội dung của thỏa thuận

Hệ thống tư pháp Hoa Kỳ cho rằng để đảm bảo sự công bằng của hệ thống tư pháp, thì bên buộc tội và bên gỡ tội phải được trang bị những nguồn lực ngang nhau, thẩm phán đóng vai trò là bên thứ ba trung gian có tiếng nói cuối cùng. Đối với trường hợp thỏa thuận nhận tội, người bị buộc tội cần có thông tin đầy đủ và chính xác về vụ án như phía công tố viên[5]. Do đó, trước khi chấp nhận thỏa thuận nhận tội, thẩm phán có nghĩa vụ đảm bảo người bị buộc tội hiểu được các nội dung theo quy định của pháp luật[6], trong đó được cung cấp thông tin chính xác để hiểu bản chất của các cáo buộc chống lại mình và hậu quả của việc tham gia vào thỏa thuận nhận tội. Nếu điều kiện này không được đảm bảo thì thỏa thuận nhận tội không thể được coi là tự nguyện, người bị buộc tội được coi là đã bị vi phạm quyền đối với tố tụng hợp pháp. Việc cung cấp thông tin về bản chất của tội danh trong cáo trạng có thể hiểu là người bị buộc tội hiểu rõ các yếu tố cấu thành tội phạm của tội danh đó. Trong vụ Henderson v. Morgan (1976), Tòa án Liên bang phán quyết rằng người bị buộc tội không được giải thích đầy đủ về hành vi phạm tội mà anh ta đã nhận tội, do vậy, lời nhận tội của người bị buộc tội là không tự nguyện và bản án kết tội được đưa ra trong trường hợp này bị coi là đã vi phạm trình tự, thủ tục. Như vậy, yêu cầu đầu tiên, phổ biến nhất của quá trình tố tụng khi người bị buộc tội nhận tội là người này phải hiểu rõ bản chất của hành vi phạm tội mà mình thú nhận.

Về hệ quả của việc tham gia thỏa thuận nhận tội, thẩm phán cần đảm bảo người bị buộc tội hiểu được việc từ bỏ quyền được xét xử, quyền đối chất và kiểm tra chéo các nhân chứng bất lợi, quyền không tự buộc tội chính mình, quyền đưa ra lời khai và trình bày bằng chứng, hoặc trong nhiều trường hợp, quyền kháng cáo bản án và các hoạt động tư pháp áp dụng đối với mình và bản án tối đa có thể áp dụng trong vụ án của mình. Trong vụ Pilkington v. United States (1963), thẩm phán nói với người bị buộc tội rằng mức án tối đa có thể áp dụng cho anh ta là năm năm, với thông tin đó, người bị buộc tội đồng ý chấp nhận thỏa thuận nhận tội. Tuy nhiên sau đó, hình phạt áp dụng cho anh ta là sáu năm tù. Người bị buộc tội đã kháng cáo lên Tòa án phúc thẩm. Tòa án phúc thẩm phán quyết rằng thỏa thuận nhận tội của người bị buộc tội là vô hiệu vì người bị buộc tội đã tham gia thỏa thuận nhận tội dựa trên giả định sai lầm từ thông tin không chính xác mà người bị buộc tội được cung cấp.

2.2. Người bị buộc tội tự nguyện tham gia thỏa thuận nhận tội

Để chấp nhận một thỏa thuận nhận tội, Tòa án phải xác định người bị buộc tội sau khi có được thông tin đầy đủ theo quy định, mong muốn và sẵn sàng tham gia thỏa thuận mà không bị bất kỳ sự ép buộc về tinh thần hoặc thể chất nào từ bất kỳ ai, bao gồm cả công tố viên hoặc luật sư bào chữa. So với yêu cầu thứ nhất về mặt nhận thức của người bị buộc tội đối với nội dung thỏa thuận, yêu cầu về sự tự nguyện dường như mơ hồ và khó xác định hơn cho các thẩm phán. Vì công tố viên có thẩm quyền truy tố rộng, có thể quyết định truy tố hoặc không truy tố, điều này có thể gây ra sự mất cân bằng giữa hai bên trong thỏa thuận nhận tội, bên bào chữa dường như ở vị thế yếu hơn, có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến hoặc khuyến nghị của công tố viên. Việc xu hướng người bị buộc tội đồng ý tham gia thỏa thuận nhận tội để tránh hình phạt nặng hơn hoặc vì sợ rằng công tố viên sẽ buộc tội anh ta với cáo trạng khác nặng hơn, có thể không bị coi là trái pháp luật để khiến cho thỏa thuận bị vô hiệu, bởi công tố viên có quyền làm điều đó, bản chất của thỏa thuận nhận tội là sự trao đổi giữa người bị buộc tội và công tố viên. Mục đích của người bị buộc tội khi tham gia thỏa thuận nhận tội là để hưởng một bản án khoan hồng và/hoặc tránh (các) tội danh bổ sung. Tuy nhiên, trong vụ Bordenkircher v. Hayes (1978), nhận định của Tòa án đã cho thấy dù phía công tố viên có lợi thế từ thẩm quyền truy tố, nhưng nếu bản cáo trạng của công tố viên được tạo ra không dựa trên cơ sở thực tế mà với mục đích tạo áp lực cho người bị buộc tội chấp nhận thỏa thuận nhận tội, thì hành vi này là vi phạm luật pháp. Do đó, để đảm bảo sự công bằng của thỏa thuận nhận tội, công tố viên cần quyết định tất cả các cáo trạng trước khi thương lượng thỏa thuận nhận tội và thông báo các cáo trạng này ngay từ đầu thay vì vào cuối phiên thương lượng thỏa thuận.

2.3. Thỏa thuận nhận tội dựa trên cơ sở thực tế

Đối với yêu cầu cơ sở thực tế của thỏa thuận nhận tội, thẩm phán cần kiểm tra tính chính xác của thỏa thuận, liệu lời nhận tội của người bị buộc tội có phù hợp với những tình tiết của vụ án hay không. So với yếu tố về sự nhận thức và sự tự nguyện của người bị buộc tội, việc xác định dựa trên các tiêu chuẩn tố tụng cụ thể mà thẩm phán cần tiến hành như trực tiếp tham vấn với người bị buộc tội[7], thì không có tiêu chuẩn tố tụng cụ thể nào cho việc xác định yếu tố về cơ sở thực tế. Trong bình luận về Quy tắc 11, Ủy ban tư vấn đã nêu ra một số phương pháp mà thẩm phán có thể áp dụng để kiểm tra cơ sở thực tế của thỏa thuận nhận tội, đó là thẩm phán có thể trực tiếp hỏi người bị buộc tội và công tố viên hoặc nghiên cứu các báo cáo được trình lên.

3. Những tranh luận xung quanh thỏa thuận nhận tội

3.1. Tính hợp hiến của thỏa thuận nhận tội

Hiến pháp Hoa Kỳ thừa nhận quyền của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự bao gồm quyền được xét xử tại phiên tòa độc lập và công khai, quyền giữ im lặng và quyền chống lại sự tự buộc tội chính mình. Với các quyền này, người bị buộc tội có thể giành cơ hội được tha bổng tại Tòa. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ bị kết án với hình phạt nghiêm khắc. Việc tham gia vào thỏa thuận nhận tội có nghĩa là người bị buộc tội phải từ bỏ các quyền trên. Đây là trung tâm của cuộc tranh luận về tính hợp hiến của thỏa thuận nhận tội. Tuy nhiên, thực tế tại Hoa Kỳ cho thấy rằng thỏa thuận nhận tội không yêu cầu người bị buộc tội từ bỏ ba quyền được bảo vệ bởi Tu chính án Hiến pháp thứ năm và thứ sáu, bao gồm quyền được xét xử bởi một phiên tòa độc lập và công khai, quyền chống lại sự tự buộc tội chính mình và quyền được đối chất với các nhân chứng. Trên thực tế, thực tiễn xét xử của Hoa Kỳ cho thấy Tòa án đã chấp nhận tính hợp hiến của thỏa thuận nhận tội miễn là lời nhận tội do người bị buộc tội đưa ra một cách lý trí và tự nguyện[8]. Với thỏa thuận nhận tội, người bị buộc tội từ bỏ quyền xét xử của mình và nhận tội để nhận được sự đảm bảo gần như chắc chắn của bản án khoan hồng, do đó, một số ý kiến coi thoả thuận này như là phần thưởng cho việc từ bỏ quyền[9], cũng có ý kiến coi đây như một hình thức hợp đồng[10]. Dù là trường hợp nào đi nữa, có thể khá chắc chắn rằng nếu không có sự đảm bảo về giảm hình phạt hay cáo trạng, người bị buộc tội sẽ không nhận tội và từ bỏ các quyền được bảo vệ của họ, mà sẽ tìm cơ hội để được chứng minh vô tội tại phiên tòa. Tuy nhiên, khi tham gia thỏa thuận nhận tội, người bị buộc tội vẫn có thể bảo lưu một số quyền, bao gồm quyền kháng cáo nếu luật sư bào chữa không hỗ trợ một cách hiệu quả, hoặc trong trường hợp công tố viên thực hiện hành vi sai trái, hoặc kết quả tuyên án dựa trên yếu tố chủng tộc hoặc bản án vượt quá khung hình phạt được áp dụng cho tội mà người bị buộc tội đã bị truy tố[11].

3.2. Tính chính xác của thỏa thuận nhận tội

Khả năng kết án người vô tội là một trong những lý do chính để phản đối việc sử dụng thỏa thuận nhận tội. Theo Innocent Project, 15% trong tổng số người bị buộc tội đưa ra lời nhận tội là vô tội. Lý do là vì những người bị buộc tội vô tội này nghĩ rằng rất khó để được chứng minh vô tội tại phiên tòa, họ thậm chí có thể phải đối mặt với các hình phạt nghiêm khắc hơn nếu họ bị đưa ra tòa. Riêng đối với người bị buộc tội đã bị tạm giam trước khi xét xử, khả năng nhận tội đối với các tội mà họ không thực hiện cao hơn vì lý do căng thẳng tinh thần vì bị tước đoạt tự do cũng như bị tách khỏi người thân[12]. Trong nhiều trường hợp, bản án của Tòa án đối với những vụ án có thỏa thuận nhận tội có thể không phản ánh các tình tiết của vụ án, hay đáp ứng với các yêu cầu trừng trị tội phạm, hoặc mối quan tâm của xã hội, mà thay vào đó phụ thuộc chủ yếu vào quá trình thương lượng lợi ích giữa bên truy tố và bên bào chữa. Điều này đã làm suy yếu niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp[13]. Sự khác biệt cơ bản giữa một phiên tòa đầy đủ và thỏa thuận nhận tội là nếu như một phiên tòa đầy đủ dựa trên đánh giá bằng chứng khách quan để đưa ra phán quyết về việc có tội hay vô tội của người bị buộc tội và được quyết định bởi một bên thứ ba trung lập (ít nhất là một thẩm phán), thì trong thỏa thuận nhận tội, số phận pháp lý của người bị buộc tội phụ thuộc vào kết quả thương lượng của luật sư bào chữa và công tố viên. Chính vì thương lượng không dựa trên các nguyên tắc suy đoán vô tội và bằng chứng, các nhà phê bình cho rằng phải thận trọng khi áp dụng cơ chế này[14].

3.3. Tính công bằng của thỏa thuận nhận tội

Việc áp dụng biện pháp thương lượng cũng làm tăng mối lo ngại về sự bình đẳng về việc đưa ra hình phạt giữa các vụ sử dụng thỏa thuận nhận tội và những vụ được đưa ra xét xử. Nhưng có quan điểm cho rằng miễn hình phạt được áp dụng tại phiên tòa không quá khắt khe, thì sự chênh lệch có thể chấp nhận được[15]. Theo Thẩm phán Bazelon trong vụ Scott v. United States (1969), sự chênh lệch về bản án giữa hai trường hợp không phải để ngăn cản những người bị buộc tội thực hiện các quyền được xét xử của mình mà là để ngăn chặn những người có ý định đánh cược số phận của mình tại phiên tòa[16].

3.4. Các vấn đề khác

Thành công của thỏa thuận nhận tội có thể làm giảm số lượng các vụ án phải được xử lý thông qua thủ tục tố tụng của Tòa án. Nó cũng làm tăng tỷ lệ kết án, qua đó tác động tiêu cực bởi công dân sẽ bất cẩn hơn trong hành vi của mình vì nghĩ rằng nếu bị bắt và bị truy tố, hành vi của mình sẽ được xử lý nhẹ nhàng hơn chỉ cần nhận tội[17]. Đồng thời, lời nhận tội của người bị buộc tội theo thỏa thuận nhận tội được coi là không mang tính chất hối cải mà chỉ là sự thừa nhận “đạo đức giả”[18] nhằm thoát khỏi quy trình tố tụng nhanh chóng và hình ảnh của hệ thống tư pháp hình sự sẽ bị bóp méo trong mắt chính người bị buộc tội[19]. Một thiếu sót khác của cơ chế thỏa thuận nhận tội là nó có mức độ minh bạch rất thấp. Các cuộc thương lượng giữa các công tố viên và luật sư bào chữa không được thực hiện tại các Tòa án công khai, do một bên trung lập chủ trì và công chúng không có cơ hội giám sát. Thay vào đó, các cuộc thương lượng này có thể diễn ra ở bất kỳ nơi nào và dưới hình thức nào tùy thuộc vào ý chí của hai bên[20]. Sự thiếu vắng một phiên tòa thường làm giảm tính công khai của vụ án và do áp lực, người bị buộc tội có thể muốn tránh lãng phí thời gian bằng cách từ bỏ các quyền được Hiến pháp công nhận của mình. Đồng thời, quyền của công chúng đối với việc chứng kiến công lý được thực thi cũng bị hạn chế[21].

Thỏa thuận nhận tội là cơ chế không thể thiếu trong hệ thống tố tụng hình sự Hoa Kỳ với tư cách là công cụ giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết vụ án, giải phóng nguồn lực về tài chính, thời gian và nhân lực cũng như đem lại những lợi ích cho phía người bị buộc tội. Chính vì thế, mặc dù vẫn còn những ý kiến tranh luận xung quanh tính hợp hiến và hợp lý, cơ chế này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay và chưa có dấu hiệu sẽ suy giảm trong tương lai. Thực tế, với những ưu điểm vượt trội, thỏa thuận nhận tội đã và đang có xu hướng lan rộng ra các quốc gia khác, kể cả với các quốc gia có hệ thống tố tụng thẩm vấn hoặc hệ thống tố tụng hỗn hợp với cơ chế truy tố bắt buộc như Nga, Đức và Ý. Do vậy, Việt Nam cũng nên cân nhắc, nghiên cứu về mô hình thỏa thuận nhận tội của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng thỏa thuận nhận tội ở mức độ nào phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa pháp lý và nhu cầu thực tiễn trong nước, việc áp dụng bất kỳ một cơ chế nào từ hệ thống pháp luật nước ngoài cần có thời gian thử nghiệm tính phù hợp và hiệu quả đối với hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.

ThS. Nguyễn Hải Yến

Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp



[1]. Đại học Kiểm sát Hà Nội, Mô hình tố tụng hình sự hợp chủng quốc Hoa Kỳ, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/152, truy cập ngày 08/12/2018.

[2].Vụ Brady v. United States, 397 U.S. 742 (1970).

[3]. Peter Westen and David Westin, A Constitutional Law of Remedies for Broken Plea Bargains, California LawReview 66, no. 3 (May 1978): 471. tr. 539.

[4]. Vụ People v. Kaanehe, 19 Cal.3d 1, 11-12 (1977).

[5]. Buckle and Buckle, tlđd. tr. 15-16.

[6]. Quy tắc 11.b.1 Quy tắc Liên bang về tố tụng hình sự.

[7]. Quy tắc 11.b.1-2 Quy tắc Liên bang về tố tụng hình sự.

[8]. Vụ Boykin v. Alabama, 395 U.S 238 và Vụ McCarthy v. United States, 394 U.S. 459 (1969).

[9]. Richard L. Lippke, To Waive or Not to Waive: The Right to Trial and Plea Bargaining, Criminal Law and Philosophy 2, no. 2 (2008), tr. 181 - 99.

[10]. Robert E. Scott and William J. Stuntz, Plea Bargaining as Contract,The Yale Law Journal101, no. 8 (1992), tr. 1909 - 68.

[11]. Vụ United States v. Marin, 961 F.2d 493, 496 (1992).

[12]. Jeffrey D. Stein, How to Make an Innocent Client Plead Guilty, https://www.washingtonpost.com/opinions/ why-innocent-people-plead-guilty/2018/01/12/e05d262c-b805-11e7-a908-a3470754bbb9_story.html, truy cập ngày 04/3/2019.

[13]. Stephen J. Schulhofer, Plea Bargaining as Disaster, The Yale Law Journal101, no. 8 (1992), tr. 1979 - 2009.

[14]. Gregory M. Gilchrist, Plea Bargains, Convictions and Legitimacy, https://papers.ssrn.com/ abstract=1666856, truy cập ngày 05/3/2019.

[15]. Wayne LaFave et al., Criminal Procedure, Nxb. West Academic, năm 2016. tr. 1198.

[16]. Vincent E. Scott v. United States 419 F.2d 264 (1969).

[17]. William Walker, Alcohol Highway-Traffic Safety Workshop for the Judiciary, Nxb. U.S. Government Printing Office, năm 1974. tr. 72.

[18]. Robert A. KAGAN and Robert A. Kagan, Adversarial Legalism: The American Way of Law, Nxb. Harvard University Press, năm 2009. tr. p84.

[19]. Jacqueline E. Ross and Stephen C. Thaman, Comparative Criminal Procedure, Nxb. Edward Elgar Publishing, năm 2016. tr. 1200.

[20]. Bureau of International Information Programs and United States Department of State, Outline of the U.S Legal System, https://usa.usembassy.de/etexts/gov/outlinelegalsystem.pdf, truy cập ngày 11/3/2019.

[21]. Albert Alschuler, Implementing the Criminal Defendant’s Right to Trial: Alternatives to the Plea Bargaining System, University of Chicago Law Review: No. 50.3, tr. 933.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: