Thứ tư 24/06/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện

Pháp luật dân sự quy định: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn chi thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự. Thông qua bài viết này, tác giả trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thực tiễn của việc áp dụng thời hiệu khởi kiện tại cơ quan Tòa án, đồng thời nêu ra một vài kiến nghị hạn chế những bất cập trên.

1. Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện

Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, tổ chức nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc của người khác. Khởi kiện vụ án dân sự là cách thức để chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Trên cơ sở của yêu cầu khởi kiện, Tòa án quyết định buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi đó góp phần vào việc giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, củng cố, xây dựng tình đoàn kết trong nhân dân.

Việc khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Tuy nhiên, việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án chỉ được thực hiện trong một thời hạn do Luật quy định, hết thời hạn đó thì người có quyền khởi kiện bị mất quyền khởi kiện. Thời hạn được quyền khởi kiện vụ án dân sự gọi là thời hiệu khởi kiện. Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu khởi kiện vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thức thì mất quyền khởi kiện.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân dân bị xâm phạm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (iii) Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: (i) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (ii) Bên nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (iii) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân các chủ thể khác bị xâm phạm. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà pháp luật nước đó áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tương ứng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án đối với một số tranh chấp được quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 129); thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 588)… là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Thời hiệu để người yêu cầu chia di sản thừa kế (Điều 623) là ba mươi năm đối với bất động sản, mười năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế…. Thời điểm để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong các trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn liền với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai; (iv) Các trường hợp khác do luật quy định.

Có thể nhận thấy, thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là nhiều hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Các quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được mở rộng hơn, bổ sung thêm một số tranh chấp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản do người khác quản lý, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Bên cạnh các quy định của Bộ luật Dân sự, các văn bản pháp luật khác cũng quy định về thời hiệu khởi kiện như: Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm… (Điều 3); Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định thời hiệu khởi kiện về hư hỏng mất mát hàng hóa vận chuyển là một năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97); thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường tổn thất do hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khỏe và mất mát, hư hỏng hành lý là hai năm… (Điều 118); thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là hai năm kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (Điều 142); thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển (Điều 164); hợp đồng môi giới hàng hải (Điều 168), hợp đồng lai dắt tàu biển (Điều 183), hợp đồng cứu hộ hàng hải (Điều 195), hợp đồng bảo hiểm hàng hải (Điều 257)… cũng là hai năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp.

2. Thực tiễn thực hiện thời hiệu khởi kiện

Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là quyền công dân, quyền con người được Hiến pháp quy định và Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên trong thực tế đời sống xã hội, không phải người dân nào cũng biết quyền khởi kiện hợp pháp của mình. Khởi kiện hợp pháp là người khởi kiện có quyền khởi kiện, có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, thực hiện việc khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định và vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận được đơn khởi kiện.

Tìm hiểu thực tiễn tại một số Tòa án thì Tòa án thường trả lại đơn khởi kiện cho người gửi đơn khởi kiện trong các trường hợp như: (i) Chủ thể khởi kiện không biết quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện nên sau khi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện với lý do là “Thời hiệu khởi kiện đã hết”; (ii) Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện của Tòa án không nắm vững quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, nên đã thụ lý đơn khởi kiện sau ngày kết thúc thời hiệu khởi kiện.

Để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện thời hiệu khởi kiện. Tác giả bài viết đề nghị một số giải pháp quyết nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Cụ thể:

Một là, cần tăng cường và thường xuyên tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời hiệu khởi kiện cho mọi đối tượng. Hiện nay, số lượng vụ án dân sự mà Tòa án các cấp trong cả nước phải giải quyết là rất nhiều, tuy nhiên trong số đó lại có thời hiệu khởi kiện khác nhau: Có loại thời hiệu khởi kiện là hai năm (tranh chấp hợp đồng trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam), có loại khởi kiện là ba năm (tranh chấp hợp đồng bồi thường thiệt hại quy định trong Bộ luật Dân sự), có thời hiệu khởi kiện là mười năm và thời hiệu khởi kiện là ba mươi năm (về thừa kế), có loại khởi kiện là một năm (về giải quyết mất mát, hư hỏng hàng hóa quy định trong Bộ luật Hàng hải…).

Theo báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao số vụ án dân sự mà các cấp Tòa án trong cả nước giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là: Năm 2013 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 259.636 vụ. Năm 2014 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 279.300 vụ. Năm 2015 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 294.555 vụ. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự gần như không có, mà chỉ tập trung giới thiệu, tuyên truyền những quy định của pháp luật, bởi vậy, cần tuyên truyền về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự để mọi tầng lớp nhân dân cũng như bản thân cán bộ Tòa án được biết. Có như vậy mới hạn chế đến mức thấp nhất việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết.

Hai là, Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời hiệu khởi kiện đối với người dân bằng hình thức có Bản tổng hợp các thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự để tại nơi tiếp nhận đơn của các Tòa án trong cả nước để nhân dân biết, để công chức Tòa án biết. Bản tổng hợp thời hiệu khởi kiện bao gồm các nội dung như:

(i) Thời hiệu khởi kiện một năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;

(ii) Thời hiệu khởi kiện hai năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;

(iii) Thời hiệu khởi kiện ba năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;

(iv) Thời hiệu khởi kiện mười năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;

(v) Thời hiệu khởi kiện ba mươi năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu...

ThS. Bùi Thị Mai Liên

Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: