Thứ hai 09/03/2026 07:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện đàm phán và giao kết hợp đồng lập hội

Tóm tắt: Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, hợp đồng lập hội là một loại hợp đồng quan trọng không thể thiếu được trong đời sống xã hội do nhu cầu khách quan của con người đòi hỏi. Dựa vào các căn cứ khác nhau, hợp đồng lập hội có thể được phân chia ra nhiều phân loại nhỏ và có quy chế pháp lý khá khác nhau, trong đó có cả việc đàm phán và giao kết từng hợp đồng theo các phân loại nhỏ.

Abstract: In the context of the current market economy and international integration, the contract of association is an indispensable contract in social life due to the objective needs of the people. Relying on the different bases, the contract of association can be pided into many different types. They have quite different legal regulations, including the negotiation and signing of each type of contract.


1. Đàm phán hợp đồng lập hội

Nói tới đàm phán hợp đồng là nói tới sự gặp gỡ, trao đổi để đi đến sự thống nhất ý chí giữa những người giao kết hợp đồng. Hợp đồng lập hội được phân chia thành hai loại lớn có tính cách tổng quát là hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định và hợp đồng gia nhập một hội nhất định. Hai loại hợp đồng này có sự khác nhau liên quan tới đàm phán để giao kết hợp đồng lập hội. Tuy nhiên, khó có thể làm rõ sự khác biệt này nếu không có sự phân loại tiếp đối với hai phân loại tổng quát này.

Hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định có thể được phân loại thành hợp đồng lập hội không mở ra cho sự gia nhập của các thành viên mới (hội đóng) và hợp đồng lập hội có mở ra cho sự gia nhập của các thành viên mới (hội mở). Đối với hợp đồng gia nhập một hội nhất định, thì việc đàm phán được tiến hành giữa hội và hội viên mong muốn gia nhập. Tuy nhiên vấn đề đàm phán chỉ được đặt ra trong trường hợp hội yêu cầu thành viên mong muốn gia nhập phải làm hoặc không làm một hay một số việc gì đó để đáp ứng nhu cầu của hội. Tất nhiên, các điều kiện của hợp đồng không có sự thay đổi bởi đàm phán. Hợp đồng trong trường hợp này được xem là hợp đồng gia nhập, có nghĩa là hợp đồng với các điều kiện được dựng sẵn bởi các thành viên tạo lập hội từ ban đầu. Việc đàm phán trong trường hợp này có thể gọi là “đàm phán về tư cách” của người gia nhập.

Đàm phán hợp đồng lập hội đóng có đặc điểm là các thành viên của hội phải cùng nhau đàm phám để đi đến ưng thuận về các điều kiện của hợp đồng. Việc đàm phán này không khác gì các cuộc đàm phán thông thường khác. Thông thường các bên cùng nhau thảo luận vì một mục đích chung là tạo lập ra một hội mà trong đó thể hiện được lợi ích của các và từng thành viên (người tham gia đàm phán). Những thành viên này có thể trực tiếp đàm phán hoặc có thể ủy quyền cho người khác thể hiện ý chí của mình. Đàm phán hợp đồng lập hội mở đòi hỏi những thành viên sáng lập hoặc những sáng lập viên phải đàm phán với nhau để thiết lập nên các điều kiện của một hội trong tương lai rồi kêu gọi sự gia nhập hội đó, chẳng hạn đối với hội không có mục đích kinh tế như một đảng phái chính trị hay một hội nghề nghiệp; đối với hội có mục đích kinh tế như công ty cổ phần gọi vốn công khai từ công chúng. Việc đàm phán này có thể liên quan tới nhiều loại hợp đồng tiền lập hội. Thực tế đối với việc thành lập công ty cổ phần, nhiều hệ thống pháp luật qui định rất chi tiết về các loại hợp đồng này và thủ tục đàm phán, giao kết chúng.

Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, có bốn dạng hợp đồng trong giai đoạn tiền công ty: (i) Thỏa thuận giữa các sáng lập viên nhằm tạo thành công ty; (ii) Các thỏa thuận cổ đông; (iii) Thỏa thuận lập hội; (iv) Thỏa thuận giữa các sáng lập viên và người thứ ba1. Trong các hợp đồng tiền công ty, có thỏa thuận lập hội. Thực chất hợp đồng này là loại hợp đồng định hình rõ hội ra đời trong tương lai, nhưng không phải vì thế mà có sự tách biệt ba loại hợp đồng còn lại. Tổng thể chúng là những hợp đồng bắt buộc trong qui trình giao kết hợp đồng lập hội nói chung. Sáng lập viên được xem là người có sáng kiến muốn lập công ty, đứng ra kết hợp hội viên, kêu gọi góp vốn, thu thập tiền vốn và làm những thể lệ cần thiết cho công ty được thành lập2.

2. Giao kết hợp đồng lập hội

Hợp đồng lập hội có các thủ tục và trình tự giao kết khác nhau tùy thuộc vào mục đích tạo lập nên loại hội nào của hợp đồng lập hội. Khoa học pháp lý thường phân loại hội theo luật điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của hội. Theo cách phân loại này, hội được chia thành hội được thành lập theo luật công và hội được thành lập theo luật tư. Hội được thành lập theo luật tư lại được phân loại thành hội dân sự (được thành lập theo luật dân sự) và hội thương mại hay còn gọi là thương hội hay công ty (được thành lập theo luật thương mại). Tuy nhiên, chỉ có các thương hội hay các công ty là có dấu hiệu nhận biết rõ ràng bởi tính hình thức chặt chẽ và mục tiêu lợi nhuận của loại hội này. Hội dân sự nếu mục đích hoạt động liên quan tới quyền nhân thân, trong nhiều trường hợp, rất khó phân biệt với hội được thành lập theo luật công. Đơn cử, khoản 1, Điều 3 Dự thảo Luật về Hội ngày 16/09/2016 có định nghĩa: “Hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của cá nhân, tổ chức cùng chung mục đích; hoạt động không vì lợi nhuận; nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng theo quy định của pháp luật; góp phần thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động”. Định nghĩa này không có khuynh hướng phân biệt giữa hội thành lập theo luật công và hội thành lập theo luật tư, trừ trường hợp phân biệt với thương hội. Vì vậy, hội những bà mẹ đơn thân, hội những người chuyển đổi giới tính, hội những người hiến tạng... được điều chỉnh bởi cùng một quy chế đối với hội hỗ trợ bảo vệ biển đảo, hội chống xâm lược văn hóa... Cách thức điều chỉnh này làm đơn giản hóa đi phần nào việc tiếp cận tới quy chế thành lập hội, nhưng cũng gây khó khăn hơn cho việc cá biệt hóa hội để điều chỉnh thật cụ thể.

Hợp đồng lập hội được giao kết với các thủ tục và quy trình phức tạp, nhất là các hội mở và các loại hội có tác động lớn tới xã hội. Pháp luật thường giao sự kiểm soát trình tự và thủ tục giao kết hợp đồng lập hội cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và hội thông thường chỉ có tư cách pháp lý để được hoạt động sau khi đã tuân thủ đúng trình tự và thủ tục giao kết. Các bước giao kết hợp đồng lập hội có thể bao gồm:

Bước 1: Kiểm soát tính mục đích của việc thành lập hội

Bước này nếu có chỉ áp dụng đối với các hội có mục đích phi kinh tế. Ngoài ra bước này còn được sử dụng để kiểm soát hoạt động đầu tư vào nước sở tại để thành lập những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những người có ý tưởng sáng lập hội phải xin phép để được vận động thành lập hội. Xét từ phương diện hợp đồng thì đây là bước xin phép để được tiến hành đàm phán và giao kết hợp đồng lập hội.

Bước 2: Xây dựng và xuất trình bằng chứng của việc thống nhất ý chí thành lập hội

Thông thường dù có hay không điều chỉnh cụ thể các thỏa thuận tiền lập hội, thì hầu hết các hệ thống pháp luật đều quan tâm tới việc những người có sáng kiến thành lập hội đưa ra bằng chứng về việc thống nhất ý chí thành lập hội. Bước này thực chất là để kiểm soát việc đáp ứng các điều kiện thành lập hội như điều kiện về sự biểu lộ và thống nhất ý chí, điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng lập hội, điều kiện về động cơ, mục đích của việc thành lập hội và các điều kiện khác tùy thuộc vào nhu cầu kiểm soát của nước sở tại3. Các bằng chứng này tập hợp lại thành bộ hồ sơ lập hội hay hồ sơ xin đăng ký kinh doanh mà thông qua đó bước đầu người ta có thể hình dung được hình hài của hội và hệ quả của hội đối với xã hội4. Trong bộ hồ sơ này luôn phải có điều lệ của hội. Văn bản này được ví như “hiến pháp” của hội, có nghĩa là văn bản chứa đựng các nguyên tắc và quy tắc cao nhất liên quan tới việc thành lập và hoạt động của hội. Ngoài ra trong bộ hồ sơ này còn phải có các giấy tờ, tài liệu chứng minh nhân thân của các thành viên sáng lập hội. Pháp luật của mỗi nước có thể yêu cầu thêm các giấy tờ, tài liệu khác liên quan tới phương hướng hoạt động, tài sản, trụ sở... Bộ hồ sơ này gửi kèm theo đơn xin thành lập hội mà thực chất là văn bản yêu cầu cho phép hay đăng ký thành lập hội cùng với các yêu cầu khác liên quan cụ thể như lĩnh vực, khu vực hoạt động.

Bước 3: Chính thức hóa giao kết hợp đồng lập hội

Sau khi bộ hồ sơ thành lập hội được chấp nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhiều hệ thống pháp luật cho rằng hội đã chính thức được thành lập, nhưng có một số hệ thống pháp luật quy định những thành viên của hội trong tương lai phải cùng nhau tổ chức đại hội thành lập để thông qua chính thức điều lệ và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Sau đó, dù như thế nào, hội cũng phải công khai hóa việc thành lập hội trước cộng đồng bằng cách bố cáo thành lập để mọi thành viên trong xã hội được biết. Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định cả hai cách thức trên cho hai loại hội có hoặc không có mục đích kinh tế. Đối với hội có mục đích kinh tế, khoản 2 Điều 47, khoản 2 Điều 110 và khoản 2 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có nghĩa là kể từ khi kết thúc bước 2 trong trình tự giao kết hợp đồng lập hội. Với trường hợp này, bước 3 chỉ dành cho việc công khai hóa công ty. Trong khi đó, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội quy định: Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày quyết định cho phép thành lập hội có hiệu lực, ban vận động thành lập hội phải tổ chức đại hội; nếu quá thời hạn trên không tổ chức đại hội, thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày hết thời hạn tổ chức đại nói trên, ban vận động thành lập hội có văn bản gửi cơ quan nhà nước đã quyết định cho phép thành lập hội đề nghị gia hạn, thời gian gia hạn không quá ba mươi ngày, nếu quá thời gian được gia hạn mà không tổ chức đại hội thì quyết định cho phép thành lập hội hết hiệu lực (Điều 10). Các quy định này cho thấy, sau khi hồ sơ lập hội đối với hội không có mục tiêu lợi nhuận được chấp nhận, thì việc thành lập hội về thực chất mới được tiến hành dù trước đó việc thống nhất ý chí đã có minh chứng đầy đủ.

Khi giao kết hợp đồng lập hội cần chú ý tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lập hội và hệ quả của việc vi phạm các điều kiện này. Hợp đồng lập hội cũng giống như bất kể loại hợp đồng nào đều phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, vì nếu không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dựa trên các yếu tố căn bản để hình thành hợp đồng, bao gồm yếu tố ưng thuận, yếu tố năng lực, yếu tố đối tượng và yếu tố nguyên nhân của nghĩa vụ hợp đồng5. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lập hội cũng dựa trên các yếu tố này.

Trước hết, về sự ưng thuận của hợp đồng lập hội. Hợp đồng lập hội có thể là hợp đồng song phương hoặc hợp đồng đa phương, song các bên giao kết hợp đồng này phải biểu lộ rõ ràng sự ưng thuận về việc thành lập hội mà họ là thành viên và về các điều kiện của hội. Sự ưng thuận được xem là được đáp ứng nếu được các thành viên thể hiện ý chí giao kết hợp đồng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc nhầm lẫn, lừa dối hoặc đe dọa có thể dẫn tới hợp đồng lập hội bị vô hiệu. Pháp luật của hầu hết các nước đều có quy định khác nhau về điều kiện năng lực (hay chủ thể) của hợp đồng lập hội dựa trên việc phân loại hợp đồng lập hội hướng tới thành lập ra loại hội nào. Ví dụ đối với công ty hợp danh, tất cả các thành viên hợp danh đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ bởi loại công ty này là công ty đối nhân, có nghĩa là các thành viên xem trọng tới nhân thân của nhau mà tin tưởng lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh. Trong khi đó các hội được thành lập theo luật công, vấn đề độ tuổi hay năng lực hành vi không được đặt ra mà tùy thuộc vào điều lệ của hội, chẳng hạn như hội đồng đội, đoàn thanh niên, đội thiếu niên, hội bảo vệ những người khuyết tật, hội khám chữa bệnh miễn phí… Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biệt phần nào đó liên quan tới việc hợp đồng tạo lập nên hội và hợp đồng gia nhập hội. Thông thường việc tạo lập nên hội là một công việc hết sức nghiêm túc và cẩn trọng bởi sự ảnh hưởng của nó tới xã hội và tới bản thân các thành viên của hội. Vì vậy, pháp luật cần kiểm soát năng lực hành vi của người giao kết hợp đồng tạo lập nên hội.

Đối tượng của hợp đồng lập hội nói chung là sự liên kết giữa các hội viên vì lợi ích vật chất hoặc tinh thần của chính họ hoặc của một cộng đồng nhất định. Tuy nhiên, hợp đồng lập hội không thể chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội, ví dụ không thể thành lập hội để chống lại tổ quốc, và cũng không thể thành lập hội để quảng bá hình ảnh khiêu dâm trẻ em… Dự thảo Luật về Hội ngày 16/09/2016 của Việt Nam có đặt ra nhiều điều cấm liên quan tới thành lập hội như cấm lợi dụng việc thành lập, tổ chức, hoạt động hội nhằm: “(a) Làm phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước; đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; (b) Gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; (c) Tuyên truyền trái chính sách, pháp luật của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đất nước, danh nhân, anh hùng dân tộc; (d) Rửa tiền, tài trợ khủng bố” (Điều 9, khoản 3). Pháp luật nói chung của bất kỳ quốc gia nào về mặt nguyên tắc không cho phép bất kỳ hành vi nào chống lại trật tự công và chống lại đạo đức xã hội. Liên quan tới quyền tự do lập hội, Hiến pháp Bahrain năm 2002 tuyên bố: “Quyền tự do lập hội và công đoàn..., nhằm các mục tiêu hợp pháp và bằng các phương pháp hòa bình được bảo đảm theo các quy tắc và các điều kiện được quy định bởi luật và trong chừng mực mà các nguyên tắc cơ bản của tín ngưỡng và trật tự công cộng không bị vi phạm. Không ai có thể bị cưỡng bức gia nhập bất kỳ một hội hay một công đoàn nào hoặc tiếp tục là một thành viên của những tổ chức đó” (Điều 27). Các quy định cấm như vậy có thể được thể hiện cụ thể trong các điều luật quy định trực tiếp về hợp đồng lập hội hoặc có thể được thể hiện ở các quy định có tính nguyên tắc chung cho hợp đồng, hành vi pháp lý hay ở các quy định mang tính hiến pháp. Nghĩa vụ hợp đồng phải có nguyên nhân, nguyên nhân phải hợp pháp và nguyên nhân không được giả tạo là điều kiện có hiệu lực không thể thiếu của hợp đồng lập nói chung và của hợp đồng lập hội nói riêng. Hợp đồng lập hội giả tạo xuất hiện khá nhiều hiện nay ở Việt Nam, chẳng hạn thành lập một công ty để nhận ủy thác mua bán hàng hóa nhưng thực chất là để tàng trữ trái phép những vật cấm lưu thông, hay thành lập một công ty cung cấp dịch vụ karaoke nhưng thực chất là chứa gái mại dâm… Những hợp đồng này gây ảnh hưởng rất xấu cho xã hội, do đó cần phải bị kiểm soát bởi pháp luật bằng chế định hợp đồng vô hiệu.

Khi chống lại các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu. Các hệ thống pháp luật đều rất xem trọng chế định pháp luật này để bảo vệ cộng đồng và bảo vệ chính những người giao kết hợp đồng. Ngoài việc phân loại hợp đồng vô hiệu thành vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần, khoa học pháp lý rất chú ý tới phân loại hợp đồng vô hiệu thành vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối. Hợp đồng lập hội có một số đặc thù được xét trên căn bản những vấn đề pháp lý quan trọng này.

Giống như các loại hợp đồng khác, hợp đồng lập hội có thể bị vô hiệu nếu sự ưng thuận bị nại ra. Việc nại ra sự vô hiệu thuộc về đương sự. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hợp đồng lập hội có thể bị tuyên vô hiệu một phần mà phần đó liên quan tới người giao kết yêu cầu tuyên vô hiệu, bởi hợp đồng vô hiệu hoàn toàn có nghĩa là không có hội nào được tạo lập hay nói cách khác hội đó bị hủy trong khi các thành viên khác hoàn toàn chấp nhận hợp đồng dù đã biết các tì ố của sự ưng thuận, chưa kể tới những người không liên quan tới tì ố. Ví dụ A, B và C cùng nhau thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn. C bị A lừa dối để lập nên thương hội này. C nại ra Tòa yêu cầu tuyên hủy hợp đồng lập hội này. Tòa án có thể xem xét và hủy cam kết của C với A và B mà trong đó có cả cam kết góp vốn bằng quyền hưởng dụng một ngôi nhà.

Hành vi pháp lý là căn cứ để trở thành thành viên của hội có thể bị hủy bỏ do vô hiệu trong trường hợp vi phạm điều kiện về năng lực giao kết hợp đồng. Để luận giải cho vấn đề này, người ta không thể bỏ qua việc phân loại hội. Đối với thương hội, việc quy định về độ tuổi để giao kết hợp đồng lập hội và trở thành thành viên của hội là một việc làm thiết yếu để bảo vệ hội, các thành viên và xã hội. Do đó, pháp luật thường quy định người giao kết hợp đồng phải có năng lực giao kết hợp đồng một cách độc lập vì vào hội có nghĩa là phải định đoạt tài sản. Độ tuổi này có thể được quy định chung cho tất cả những người giao kết các loại hợp đồng. Vi phạm các điều kiện này, hợp đồng lập hội có thể bị vô hiệu tùy thuộc vào sự nại ra của đương sự hoặc của Tòa án. Tuy nhiên, người không hoặc chưa có năng lực giao kết hợp đồng lập hội có thể trở thành thành viên của công ty bởi thừa kế theo di chúc hoặc theo luật định. Đây là các quy định chung cho các thương hội. Tuy nhiên, đối với các loại công ty đối nhân, người giao kết hợp đồng để trở thành thành viên hợp danh của công ty phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện để trở thành thương nhân, thể nhân vì thành viên này có tư cách thương nhân. Người hưởng thừa kế của thành viên này chỉ có thể trở thành thành viên hợp danh của công ty nếu được tất cả các thành viên hợp danh khác đồng ý. Nếu không có sự nhất trí đó thì người này chỉ có thể trở thành thành viên góp vốn của công ty, có nghĩa là trở thành người không có tư cách thương nhân, không là đại diện theo pháp luật của công ty và chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn tới phần vốn góp của mình vào công ty.

Hợp đồng lập hội bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được hoặc đối tượng bị cấm hay hạn chế lưu thông. Vô hiệu này thường là vô hiệu tuyệt đối. Hợp đồng lập hội có thể tạo ra nghĩa vụ đóng góp tài sản. Nếu tài sản này là những vật bị cấm hoặc hạn chế lưu thông thì vấn đề hợp đồng vô hiệu bị đặt ra. Nếu nghĩa vụ tạo ra bởi hợp đồng lập hội là một công việc nhưng công việc ấy bị cấm, chẳng hạn như mại dâm, thì hợp đồng bị vô hiệu. Hợp đồng trong trường hợp này có thể vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu từng phần phụ thuộc vào tài sản đó hay công việc đó ảnh hưởng tới một phần hay toàn bộ hợp đồng. Hợp đồng lập hội bị vô hiệu tuyệt đối nếu là hợp đồng giả tạo để che đậy một hành vi khác. Việc tuyên hợp đồng vô hiệu có nghĩa là hủy bỏ hội đã lập bởi hợp đồng đó. Một trường hợp đặc trưng quan trọng nữa của hợp đồng lập hội vô hiệu là hợp đồng lập hội vi phạm hình thức hợp đồng lập hội. Nếu pháp luật đòi hỏi hội phải đăng ký thành lập, thì hợp đồng lập hội bị vô hiệu tuyệt đối do không tuân thủ đòi hỏi đó. Việc hủy bỏ hội do vô hiệu được xem như hội chưa bao giờ được lập và có hậu quả pháp lý như hậu quả đối với các loại hợp đồng khác bị hủy do vô hiệu.

ThS. Đào Thị Hồng Phương

Tổng Cục Khí tượng và Thủy văn

Tài liệu tham khảo:

[1]. Harry G. Henn, John R. Alexander, Laws of Corporations, West Publishing Co., USA, 1983

[2]. Ngô Huy Cương (2014), “Dự án sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp lý chủ yếu”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 13 (269) Kỳ 1 - tháng 07/2014, tr. 26.

[3]. Ngô Huy Cương (2016), Hợp đồng lập hội, Bài giảng điện tử.

[4]. Ngô Huy Cương (2016), Môi trường pháp lý kinh doanh, Bài giảng điện tử.

[5]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung - Dùng cho đào tạo sau đại học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 303 - 304.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: