Thứ năm 15/01/2026 09:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở thành phố Cần Thơ

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một sắc thuế trực thu ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và đang áp dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ 30 - 40%, thậm chí trên 50% tại một số quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, Australia, New Zealand; các nước đang phát triển chiếm từ 15 - 30% như Thái Lan, Malaysia, Philipine. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta chủ trương áp dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển. Xuất phát từ chủ trương đó, Luật Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam được Quốc hội ban hành từ năm 2007 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009), đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), tuy nhiên, tỷ trọng thuế TNCN còn khá khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng thu NSNN. Thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ, Ngành Thuế đã và đang thực hiện kế hoạch cải cách hệ thống thuế nhằm tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý thuế, kiện toàn bộ phận quản lý các khoản thu về thuế, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thuế, cải cách thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế... Tuy nhiên, cơ chế quản lý thuế vẫn được đánh giá còn một số bất cập, hiệu quả quản lý thuế chưa cao, chưa được cải cách kịp thời: Cơ chế kê khai thu nhập chưa được áp dụng rộng rãi để bổ sung cho cơ chế khấu trừ tại nguồn, cơ quan thuế chưa thực hiện tốt quyết toán thuế cho từng đối tượng nộp thuế, chưa kiểm soát tốt tình trạng trốn thuế, lách thuế đối với một số đối tượng, chưa tạo được sự thuận lợi cho người nộp thuế... kéo theo hệ lụy chưa đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế và làm thất thu cho NSNN.

1. Thành tựu trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở thành phố Cần Thơ

Thực hiện các quy định của pháp luật về thuế TNCN, thành phố Cần Thơ tích cực trong chỉ đạo, điều hành các đơn vị trực thuộc về thu ngân sách và chống thất thu thuế. Tính từ năm 2009, thuế TNCN chiếm tỷ lệ 5,62% trong tổng thu ngân sách của thành phố Cần Thơ, bằng 215,55 % so cùng kỳ năm 2008; kế đến năm 2010 là 6,31%; năm 2011 là 7,72%; năm 2012 là 7,51%…; đến năm 2015 thuế TNCN chiếm tỷ lệ 6,67%, tăng 25,15% so cùng kỳ năm 2014. Như vậy, tỷ trọng thuế thu nhập từ năm 2009 đến năm 2015 có xu hướng tăng trong tổng thu ngân sách, thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của thuế thu nhập cá nhân đối với NSNN tại địa phương.

Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 quy định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập: Thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng. Trong 10 loại thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật, thì thuế TNCN từ tiền lương, tiền công ở thành phố Cần Thơ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thuế TNCN; thứ hai là thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản; thứ ba là thuế TNCN từ sản xuất, kinh doanh và thứ tư là thuế thu nhập cá nhân từ trúng thưởng. Với kết quả thu thuế như trên, cho thấy cơ quan thuế các cấp trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã tuân thủ các quy định của pháp luật thuế TNCN, phương pháp thực hiện hợp lý; đối tượng nộp thuế ý thức nghĩa vụ của mình trong việc nộp thuế TNCN để góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

2. Những khó khăn trong thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở thành phố Cần Thơ

Việc thực hiện các quy định của pháp luật thuế TNCN đối với người lao động hành nghề tự do như giảng dạy, bác sỹ khám bệnh ngoài giờ, luật sư, môi giới... chưa được cơ quan thuế quản lý đầy đủ. Theo quy định của pháp luật, đối với các khoản thu nhập này thì phải kê khai để tính tổng thu nhập, từ đó xác định mức thuế thu nhập phải nộp, nhưng trong thực tế các đối tượng này chưa nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật đăng ký, chưa tự giác kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân. Cục Thuế thành phố Cần Thơ chưa thực hiện giám sát các hoạt động này một cách chặt chẽ, chỉ chờ việc tự giác khấu trừ thuế của các tổ chức chi trả thu nhập cũng như tự kê khai của cá nhân. Từ đó, số thuế thu được trong thời gian qua vẫn chưa đủ, dẫn đến thất thu thuế thu nhập cá nhân. Bên cạnh đó, ngoài việc rất nhiều đối tượng phải nộp thuế bị bỏ sót thì ngay cả trong những người nộp thuế thu nhập cũng chưa khai báo trung thực số thu nhập thực tế mà họ nhận được. Bằng nhiều cách khác nhau người nộp thuế thu nhập cá nhân tìm cách khai báo giảm thu nhập trong khi cơ quan thuế vẫn còn lúng túng trong việc thẩm tra mức độ chính xác của việc kê khai.

Đối với các cá nhân làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh có đăng ký kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân cho lao động của cơ sở mình, thì cơ quan thuế cũng chưa kiểm tra được mà chủ yếu vẫn dựa vào kê khai của tổ chức chi trả thu nhập. Điều này tạo nên sự mất công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân

- Hoàn thiện công tác quản lý thu nhập dân cư

Đây là yếu tố quyết định hiệu quả việc thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân. Ở các nước phát triển, mọi giao dịch kinh tế phát sinh trong xã hội đều thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, thì vấn đề kiểm soát thu nhập dân cư thuận lợi, dễ dàng, nhưng đối với Việt Nam, khi giao dịch tiền mặt còn phổ biến thì đây là một thách thức. Để kiểm soát được thu nhập dân cư, cơ quan thuế căn cứ vào những thông tin, dữ liệu được cung cấp bởi các cơ quan chi trả thu nhập; căn cứ vào thông tin từ các tổ chức, đơn vị có quan hệ kinh tế với các cá nhân để khai thác các nguồn thu nhập; dựa vào hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm chính quyền và hội đồng tư vấn thuế phường, xã để có được những thông tin về thu nhập của cá nhân.

- Hoàn thiện về quản lý thu nhập của cá nhân kinh doanh

Biện pháp tối ưu hàng đầu của Ngành Thuế là tận dụng triệt để và phát huy những kinh nghiệm tốt trong quá trình quản lý hộ kinh doanh đã đúc kết; đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan thuế nói chung và cán bộ ở các đội thuế phường, xã trực tiếp quản lý hộ kinh doanh nói riêng. Để đảm bảo quản lý sát doanh số, chi phí và thu nhập của cá nhân kinh doanh, cơ quan thuế các cấp cần phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, từ các đơn vị kinh tế có quan hệ với các hộ kinh doanh, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ hơn nữa với hội đồng tư vấn thuế phường, xã, bởi đây là tổ chức gần dân và sát dân nhất, sẽ hỗ trợ tích cực cho Ngành Thuế trong việc quản lý đối tượng này. Thông qua hệ thống dịch vụ hỗ trợ, cơ quan thuế cung cấp đầy đủ thông tin, kịp thời hướng dẫn các thủ tục cũng như giải đáp nhanh những khó khăn, vướng mắc, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để người nộp thuế TNCN thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Bên cạnh đó, cơ quan thuế tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nhằm phát hiện kịp thời những trường hợp cố tình vi phạm về khai thuế TNCN để xử lý theo luật định.

- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân trong nhân dân

Để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế TNCN trong nhân dân, trước tiên phải tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Tuyên truyền là một biện pháp quan trọng để vận động quần chúng, là một hình thái của công tác tư tưởng. Công tác thuế ở nước ta có đặc thù riêng, nó không đơn thuần là việc thực thi các luật, pháp lệnh thuế mà còn là công tác vận động quần chúng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào cho người chịu thuế, thực chất là đông đảo các tầng lớp dân cư hiểu rõ bản chất của thuế trong chế độ ta, quyền lợi của họ khi đóng thuế, sự khác nhau cơ bản giữa chế độ sưu thuế của chế độ cũ với thuế hiện nay, tại sao cần phải nộp thuế, mục đích của thuế là gì... khi họ đã hiểu rõ, nhận thức ra thì họ sẽ tự giác chấp hành. Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế nói chung, trong đó có thuế TNCN, Ngành Thuế nên phối hợp chặt chẽ với cơ quan truyền thông đại chúng như báo, đài, tạp chí, Đài phát thanh, Đài truyền hình... trong việc phổ biến, giải thích các chính sách, pháp luật về thuế TNCN cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi đối tượng nộp thuế... các luật, nghị định, các văn bản quy phạm pháp luật khác về thuế được Nhà nước ban hành, đều được đăng tải trên báo chí, trên truyền hình một cách kịp thời, rộng rãi. Từ đó, các chủ trương chính sách của Nhà nước về thuế TNCN đều đến với nhân dân, tăng thêm hiểu biết của họ. Đồng thời, cũng thông qua các cơ quan truyền thông đại chúng, các đối tượng chịu thuế TNCN tham gia ý kiến về các chính sách thuế của Nhà nước.

Tóm lại, việc thực thi pháp luật thuế TNCN ở thành phố Cần Thơ đã đạt được những kết quả bước đầu rất khả quan, nhưng vẫn còn những khó khăn. Để thực hiện tốt hơn nữa pháp luật về thuế TNCN, Nhà nước cần sớm hoàn thiện các chính sách pháp luật về thuế TNCN; đồng thời, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp, sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sẽ thúc đẩy việc thực thi pháp luật thuế TNCN tốt hơn, nhằm tăng thu cho NSNN để Nhà nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

ThS. Huỳnh Văn Diện

Nguyên Phó Viện trưởng phụ trách viện Kinh tế - Xã hội thành phố Cần Thơ

Tài liệu tham khảo:

Cục thuế thành phố Cần Thơ, Báo cáo tổng kết thuế từ năm 2007 - 2015.

Nguyễn Thị Mỹ Linh và Phan Thị Cúc (2008), “Suy nghĩ về cách thu thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí Thương mại.


Văn phòng Quốc hội - Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học (2006), “Chuyên đề Thuế thu nhập cá nhân - những mục tiêu cơ bản và kinh nghiệm một số nước

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: