Thứ ba 10/02/2026 07:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Trong những năm qua, tình hình tội phạm tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội với tính chất, mức độ nghiêm trọng, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực kinh tế trọng điểm và một số cơ quan hành chính sự nghiệp.

Các lĩnh vực chủ yếu xảy ra tội phạm tham nhũng là: Tài chính, ngân hàng, quản lý tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, giải quyết các chính sách xã hội... Quy mô các vụ án tham nhũng bị phát hiện được dư luận quan tâm nhìn chung là lớn, thể hiện ở số đối tượng liên quan, lượng tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, nhiều vụ án tham nhũng gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Không chỉ gây thiệt hại về tài sản, tội phạm về tham nhũng còn làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, làm ảnh hưởng đến đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, tác động đến an ninh nội bộ của nước ta.

Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện là yếu tố ảnh hưởng và tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tham nhũng. Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015… đã được thông qua và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới. Hệ thống các quy định trong các văn bản pháp luật nói trên tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội tham nhũng.

Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, chính quyền các cấp đã triển khai nhiều biện pháp nhằm củng cố, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng. Đây là nhân tố, là điều kiện quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Công tác khởi tố, điều tra vụ án tham nhũng đã đạt nhiều kết quả, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước. Đã có nhiều vụ án tham nhũng lớn bị phát hiện, khởi tố điều tra, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, góp phần làm giảm tội phạm tham nhũng[1]. Tuy nhiên, công tác khởi tố, điều tra tội phạm tham nhũng chưa tương xứng với tình hình. Số vụ tội phạm tham nhũng được khởi tố còn ít, tài sản tham nhũng thu hồi được không đáng kể. Việc giải quyết còn nhiều khó khăn, vướng mắc và kéo dài gây hoài nghi trong nhân dân về các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những khó khăn, vướng mắc trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc chứng minh căn cứ khởi tố

Căn cứ vào Điều 143, Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, cơ quan có thẩm quyền khởi tố áp dụng các biện pháp để chứng minh căn cứ khởi tố vụ án tham nhũng là “có dấu hiệu tội phạm tham nhũng” và căn cứ khởi tố bị can phạm tội tham nhũng là “một người đã thực hiện hành vi phạm tội tham nhũng” để tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 2 Điều 1), “vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng” (khoản 5 Điều 2). Trên thực tế, việc xác định một người có vụ lợi về vật chất thì có cơ sở, nhưng xác định vụ lợi về tinh thần thì rất khó, không có định tính, định lượng cụ thể. Các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng khó khăn, thậm chí không thể chứng minh được dấu hiệu tội phạm tham nhũng trong trường hợp này, chính vì vậy, không thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp các đối tượng có vụ lợi về tinh thần.

Việc giám định để xác định căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng còn nhiều bất cập. Đây là công việc khó khăn, nằm ngoài sự cố gắng, nỗ lực của cơ quan điều tra và điều tra viên, đồng thời, cũng là nguyên nhân chính dẫn đến khởi tố nói riêng và quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng nói chung bị kéo dài. Bởi lẽ, việc xác định mức độ thiệt hại về tài sản là công việc đầu tiên phải chứng minh được trong một vụ án tham nhũng. Nếu không xác định được thiệt hại về tài sản thì coi như không có tội phạm xảy ra. Để xác định được thiệt hại về tài sản, cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành công tác giám định tài chính kế toán, giám định kỹ thuật, giám định chất lượng công trình. Đây là nguồn chứng cứ quan trọng chứng minh dấu hiệu tội phạm và người có hành vi phạm tội tham nhũng. Tuy nhiên, thực tiễn khởi tố còn có tình trạng các cơ quan được trưng cầu giám định thường bất hợp tác, từ chối, đùn đẩy trách nhiệm. Đối với các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các cơ quan giám định tài chính kế toán thường yêu cầu phải có giám định chất lượng công trình trước rồi mới có cơ sở kết luận về tài chính kế toán, kể cả công trình đã qua kiểm toán. Trong khi đó, các công trình xây dựng cơ bản thi công trong nhiều năm và không biết khi nào mới quyết toán được. Vì vậy, công tác giám định không thực hiện được vì Viện kiểm sát, Tòa án đòi hỏi phải quyết toán công trình thì kết luận giám định mới có giá trị pháp lý. Nếu chưa quyết toán thì mặc dù có việc lập chứng từ giả mạo, tiền đã xuất ra khỏi quỹ, bị chiếm đoạt nhưng các Tòa án, Viện kiểm sát vẫn cho rằng đó là khoản tiền tạm ứng, chưa quyết toán thì chưa cấu thành tội phạm tham nhũng. Đây chính là nguyên nhân mà có rất ít các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được khởi tố để điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian vừa qua.

Thứ hai, về cơ sở khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng dựa trên các cơ sở như: Tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú[2].

Việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng trong thời gian qua chủ yếu do cơ quan công an trực tiếp phát hiện từ công tác nắm tình hình, xác minh của cơ quan điều tra, từ tố giác của cá nhân, từ kiến nghị khởi tố tham nhũng. Cơ quan giám sát, cơ quan quản lý cấp trên, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước đều không tự mình phát hiện được vụ tham nhũng lớn nào chuyển cơ quan điều tra. Chính vì điều này đã làm hạn chế việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, hệ thống pháp luật liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Hệ thống các quy định pháp luật hình sự về xử lý tội phạm tham nhũng còn thiếu và chưa đồng bộ, không thống nhất, nhất là các hướng dẫn của các cơ quan chức năng, từ đó dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Bộ luật Hình sự năm 2015, Chương XXIII, Mục 1 - Các tội phạm về tham nhũng quy định có 7 hành vi phạm tội, nhưng tại Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) lại quy định 12 hành vi tham nhũng, trong khi đó chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến tình trạng các địa phương vận dụng không thống nhất, gây khó khăn cho việc xác định đối tượng đấu tranh và khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng của lực lượng công an.

Việc Ngân hàng Nhà nước quy định: Chỉ khi có quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, thì mới cung cấp tài liệu cho cơ quan điều tra[3], các tổ chức tài chính, tín dụng dựa vào quy định này để không cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan điều tra, dẫn đến việc xác minh, thu thập tài liệu về tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng ở giai đoạn tiền khởi tố rất khó khăn.

Khoản 4 Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 quy định, nhà báo và cơ quan báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Quy định này gây khó khăn cho công tác phát hiện tội phạm tham nhũng cũng như việc thu thập tài liệu phục vụ cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Việc ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước còn hạn chế. Đây là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, bất cập trong việc khởi tố các vụ án tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Công tác khởi tố, điều tra chủ yếu dựa trên quan hệ có đi có lại giữa các cơ quan tư pháp các nước. Việc ủy thác điều tra và tiếp nhận kết quả ủy thác điều tra phải phụ thuộc vào nước ngoài nên công tác khởi tố, điều tra bị kéo dài.

Thứ tư, về chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm tham nhũng là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng (C48) và Cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, lực lượng này hiện còn bộc lộ một số bất cập sau:

- Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng và lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ còn chồng chéo về địa bàn, lĩnh vực, hệ loại đối tượng trong công tác điều tra. Mặt khác, các đội cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng trực thuộc PC46 nên việc thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản của đội được lãnh đạo Phòng PC46 giao cho các đội trinh sát địa bàn thực hiện, đội cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng chỉ làm công tác điều tra nên nguồn phát hiện án về tham nhũng từ công tác nghiệp vụ cơ bản còn hạn chế.

- Trình độ, năng lực của điều tra viên trong công tác điều tra án tham nhũng còn hạn chế. Đây là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động điều tra tội phạm tham nhũng, bởi vì đối tượng phạm tội tham nhũng thường là những người có trình độ hiểu biết sâu rộng, là những người có chức vụ, quyền hạn, phương thức, thủ đoạn phạm tội rất tinh vi. Ngoài ra, khi tiến hành khởi tố đối với bị can là Đảng viên, cơ quan công an gặp khó khăn vì quy định không được điều tra bí mật đối với Đảng viên trước khi khởi tố[4]. Đối tượng phạm tội tham nhũng là những người có chức vụ đều là Đảng viên.

Thứ năm, về quan hệ phối hợp trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Thực tiễn khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng cho thấy: Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vụ án tham nhũng chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Có nhiều vụ án, trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu khởi tố bị can hoặc phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, nhưng khi bị can được chuyển sang Viện kiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân lại đình chỉ điều tra. Hoặc có vụ án, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân đã thống nhất tội danh, tiến hành khởi tố vụ án, nhưng khi kết luận điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu điều tra bổ sung để thay đổi tội danh đã khởi tố. Điển hình: Vụ đưa, nhận hối lộ tại Công ty cổ phần V, thành phố ĐN (khởi tố năm 2009), Viện kiểm sát nhân dân đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để chuyển tội danh từ tội đưa, nhận hối lộ sang tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng góp phần bảo vệ chính trị nội bộ

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tội phạm tham nhũng nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được thông qua nhưng còn thiếu sót. Do vậy, cần kịp thời sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng; gây hậu quả nghiêm trọng khác; gây hậu quả rất nghiêm trọng khác; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác; cần có hướng dẫn cụ thể về việc xác định hành vi tham nhũng, chủ thể tham nhũng như: Thế nào là vụ lợi về tinh thần? Thế nào là động cơ cá nhân khác… để thống nhất thực hiện.

Để bảo đảm việc khởi tố, điều tra tội phạm về tham nhũng được khách quan, toàn diện và kịp thời, đề nghị hủy bỏ quy định tại điểm d khoản 2.2 Mục 2 Phần II Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 04/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước quy định “chỉ khi nào có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì mới cung cấp tài liệu”. Bổ sung Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 ngoài Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên có quyền yêu cầu cơ quan báo chí cung cấp nguồn tin đã đăng tải thì thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên cũng có quyền hạn này.

- Đối với cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng, cần tổ chức và xây dựng theo hướng tập trung, thống nhất, chuyên sâu, độc lập với tinh thần thượng tôn pháp luật.

- Đề nghị cho phép tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử) đối với tất cả các đối tượng tham nhũng kể cả Đảng viên. Cơ sở pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với tội phạm tham nhũng được quy định tại Điều 223, Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động lập pháp và quá trình thực thi về khởi tố, điều tra đối với tội phạm tham nhũng thống nhất về ý chí và hành động, tác giả kiến nghị chỉnh sửa Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng theo hướng không quy định cấm tiến hành biện pháp bí mật đối với Đảng viên.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm về tham nhũng nói riêng, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế, pháp luật trong nước về phòng, chống tội phạm và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế - xã hội; đóng góp vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, chú trọng việc tăng cường ký kết, đàm phán các điều ước quốc tế song phương và đa phương phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế của Nhà nước ta trong phê chuẩn và thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, đặc biệt là các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, hợp tác tịch thu, thu hồi tài sản do phạm tội mà có, tài sản có được do tham nhũng .

ThS. Lưu Thanh Hùng

Đại học An ninh nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Năm 2015, cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý điều tra 351 vụ án, 813 bị can phạm tội về tham nhũng, đã kết luận điều tra 198 vụ, 489 bị can; hiện đang điều tra 140 vụ, 299 bị can.

[2]. Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Điểm d khoản 2.2 Mục 2 Phần II Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 04/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.

[4]. Khoản 1 Điều 5 Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: