Thứ ba 13/10/2026 11:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Trong những năm qua, tình hình tội phạm tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội với tính chất, mức độ nghiêm trọng, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực kinh tế trọng điểm và một số cơ quan hành chính sự nghiệp.

Các lĩnh vực chủ yếu xảy ra tội phạm tham nhũng là: Tài chính, ngân hàng, quản lý tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, giải quyết các chính sách xã hội... Quy mô các vụ án tham nhũng bị phát hiện được dư luận quan tâm nhìn chung là lớn, thể hiện ở số đối tượng liên quan, lượng tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, nhiều vụ án tham nhũng gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Không chỉ gây thiệt hại về tài sản, tội phạm về tham nhũng còn làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, làm ảnh hưởng đến đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, tác động đến an ninh nội bộ của nước ta.

Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện là yếu tố ảnh hưởng và tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tham nhũng. Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015… đã được thông qua và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới. Hệ thống các quy định trong các văn bản pháp luật nói trên tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội tham nhũng.

Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, chính quyền các cấp đã triển khai nhiều biện pháp nhằm củng cố, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng. Đây là nhân tố, là điều kiện quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Công tác khởi tố, điều tra vụ án tham nhũng đã đạt nhiều kết quả, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước. Đã có nhiều vụ án tham nhũng lớn bị phát hiện, khởi tố điều tra, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, góp phần làm giảm tội phạm tham nhũng[1]. Tuy nhiên, công tác khởi tố, điều tra tội phạm tham nhũng chưa tương xứng với tình hình. Số vụ tội phạm tham nhũng được khởi tố còn ít, tài sản tham nhũng thu hồi được không đáng kể. Việc giải quyết còn nhiều khó khăn, vướng mắc và kéo dài gây hoài nghi trong nhân dân về các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những khó khăn, vướng mắc trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc chứng minh căn cứ khởi tố

Căn cứ vào Điều 143, Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, cơ quan có thẩm quyền khởi tố áp dụng các biện pháp để chứng minh căn cứ khởi tố vụ án tham nhũng là “có dấu hiệu tội phạm tham nhũng” và căn cứ khởi tố bị can phạm tội tham nhũng là “một người đã thực hiện hành vi phạm tội tham nhũng” để tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 2 Điều 1), “vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng” (khoản 5 Điều 2). Trên thực tế, việc xác định một người có vụ lợi về vật chất thì có cơ sở, nhưng xác định vụ lợi về tinh thần thì rất khó, không có định tính, định lượng cụ thể. Các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng khó khăn, thậm chí không thể chứng minh được dấu hiệu tội phạm tham nhũng trong trường hợp này, chính vì vậy, không thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp các đối tượng có vụ lợi về tinh thần.

Việc giám định để xác định căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng còn nhiều bất cập. Đây là công việc khó khăn, nằm ngoài sự cố gắng, nỗ lực của cơ quan điều tra và điều tra viên, đồng thời, cũng là nguyên nhân chính dẫn đến khởi tố nói riêng và quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng nói chung bị kéo dài. Bởi lẽ, việc xác định mức độ thiệt hại về tài sản là công việc đầu tiên phải chứng minh được trong một vụ án tham nhũng. Nếu không xác định được thiệt hại về tài sản thì coi như không có tội phạm xảy ra. Để xác định được thiệt hại về tài sản, cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành công tác giám định tài chính kế toán, giám định kỹ thuật, giám định chất lượng công trình. Đây là nguồn chứng cứ quan trọng chứng minh dấu hiệu tội phạm và người có hành vi phạm tội tham nhũng. Tuy nhiên, thực tiễn khởi tố còn có tình trạng các cơ quan được trưng cầu giám định thường bất hợp tác, từ chối, đùn đẩy trách nhiệm. Đối với các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các cơ quan giám định tài chính kế toán thường yêu cầu phải có giám định chất lượng công trình trước rồi mới có cơ sở kết luận về tài chính kế toán, kể cả công trình đã qua kiểm toán. Trong khi đó, các công trình xây dựng cơ bản thi công trong nhiều năm và không biết khi nào mới quyết toán được. Vì vậy, công tác giám định không thực hiện được vì Viện kiểm sát, Tòa án đòi hỏi phải quyết toán công trình thì kết luận giám định mới có giá trị pháp lý. Nếu chưa quyết toán thì mặc dù có việc lập chứng từ giả mạo, tiền đã xuất ra khỏi quỹ, bị chiếm đoạt nhưng các Tòa án, Viện kiểm sát vẫn cho rằng đó là khoản tiền tạm ứng, chưa quyết toán thì chưa cấu thành tội phạm tham nhũng. Đây chính là nguyên nhân mà có rất ít các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được khởi tố để điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian vừa qua.

Thứ hai, về cơ sở khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng dựa trên các cơ sở như: Tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú[2].

Việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng trong thời gian qua chủ yếu do cơ quan công an trực tiếp phát hiện từ công tác nắm tình hình, xác minh của cơ quan điều tra, từ tố giác của cá nhân, từ kiến nghị khởi tố tham nhũng. Cơ quan giám sát, cơ quan quản lý cấp trên, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước đều không tự mình phát hiện được vụ tham nhũng lớn nào chuyển cơ quan điều tra. Chính vì điều này đã làm hạn chế việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, hệ thống pháp luật liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Hệ thống các quy định pháp luật hình sự về xử lý tội phạm tham nhũng còn thiếu và chưa đồng bộ, không thống nhất, nhất là các hướng dẫn của các cơ quan chức năng, từ đó dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Bộ luật Hình sự năm 2015, Chương XXIII, Mục 1 - Các tội phạm về tham nhũng quy định có 7 hành vi phạm tội, nhưng tại Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) lại quy định 12 hành vi tham nhũng, trong khi đó chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến tình trạng các địa phương vận dụng không thống nhất, gây khó khăn cho việc xác định đối tượng đấu tranh và khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng của lực lượng công an.

Việc Ngân hàng Nhà nước quy định: Chỉ khi có quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, thì mới cung cấp tài liệu cho cơ quan điều tra[3], các tổ chức tài chính, tín dụng dựa vào quy định này để không cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan điều tra, dẫn đến việc xác minh, thu thập tài liệu về tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng ở giai đoạn tiền khởi tố rất khó khăn.

Khoản 4 Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 quy định, nhà báo và cơ quan báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Quy định này gây khó khăn cho công tác phát hiện tội phạm tham nhũng cũng như việc thu thập tài liệu phục vụ cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Việc ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước còn hạn chế. Đây là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, bất cập trong việc khởi tố các vụ án tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Công tác khởi tố, điều tra chủ yếu dựa trên quan hệ có đi có lại giữa các cơ quan tư pháp các nước. Việc ủy thác điều tra và tiếp nhận kết quả ủy thác điều tra phải phụ thuộc vào nước ngoài nên công tác khởi tố, điều tra bị kéo dài.

Thứ tư, về chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm tham nhũng là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng (C48) và Cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, lực lượng này hiện còn bộc lộ một số bất cập sau:

- Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng và lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ còn chồng chéo về địa bàn, lĩnh vực, hệ loại đối tượng trong công tác điều tra. Mặt khác, các đội cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng trực thuộc PC46 nên việc thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản của đội được lãnh đạo Phòng PC46 giao cho các đội trinh sát địa bàn thực hiện, đội cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng chỉ làm công tác điều tra nên nguồn phát hiện án về tham nhũng từ công tác nghiệp vụ cơ bản còn hạn chế.

- Trình độ, năng lực của điều tra viên trong công tác điều tra án tham nhũng còn hạn chế. Đây là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động điều tra tội phạm tham nhũng, bởi vì đối tượng phạm tội tham nhũng thường là những người có trình độ hiểu biết sâu rộng, là những người có chức vụ, quyền hạn, phương thức, thủ đoạn phạm tội rất tinh vi. Ngoài ra, khi tiến hành khởi tố đối với bị can là Đảng viên, cơ quan công an gặp khó khăn vì quy định không được điều tra bí mật đối với Đảng viên trước khi khởi tố[4]. Đối tượng phạm tội tham nhũng là những người có chức vụ đều là Đảng viên.

Thứ năm, về quan hệ phối hợp trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng

Thực tiễn khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng cho thấy: Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vụ án tham nhũng chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Có nhiều vụ án, trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu khởi tố bị can hoặc phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, nhưng khi bị can được chuyển sang Viện kiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân lại đình chỉ điều tra. Hoặc có vụ án, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân đã thống nhất tội danh, tiến hành khởi tố vụ án, nhưng khi kết luận điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu điều tra bổ sung để thay đổi tội danh đã khởi tố. Điển hình: Vụ đưa, nhận hối lộ tại Công ty cổ phần V, thành phố ĐN (khởi tố năm 2009), Viện kiểm sát nhân dân đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để chuyển tội danh từ tội đưa, nhận hối lộ sang tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng góp phần bảo vệ chính trị nội bộ

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tội phạm tham nhũng nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được thông qua nhưng còn thiếu sót. Do vậy, cần kịp thời sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng; gây hậu quả nghiêm trọng khác; gây hậu quả rất nghiêm trọng khác; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác; cần có hướng dẫn cụ thể về việc xác định hành vi tham nhũng, chủ thể tham nhũng như: Thế nào là vụ lợi về tinh thần? Thế nào là động cơ cá nhân khác… để thống nhất thực hiện.

Để bảo đảm việc khởi tố, điều tra tội phạm về tham nhũng được khách quan, toàn diện và kịp thời, đề nghị hủy bỏ quy định tại điểm d khoản 2.2 Mục 2 Phần II Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 04/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước quy định “chỉ khi nào có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì mới cung cấp tài liệu”. Bổ sung Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 ngoài Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên có quyền yêu cầu cơ quan báo chí cung cấp nguồn tin đã đăng tải thì thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên cũng có quyền hạn này.

- Đối với cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng, cần tổ chức và xây dựng theo hướng tập trung, thống nhất, chuyên sâu, độc lập với tinh thần thượng tôn pháp luật.

- Đề nghị cho phép tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử) đối với tất cả các đối tượng tham nhũng kể cả Đảng viên. Cơ sở pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với tội phạm tham nhũng được quy định tại Điều 223, Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động lập pháp và quá trình thực thi về khởi tố, điều tra đối với tội phạm tham nhũng thống nhất về ý chí và hành động, tác giả kiến nghị chỉnh sửa Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng theo hướng không quy định cấm tiến hành biện pháp bí mật đối với Đảng viên.

- Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm về tham nhũng nói riêng, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế, pháp luật trong nước về phòng, chống tội phạm và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế - xã hội; đóng góp vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, chú trọng việc tăng cường ký kết, đàm phán các điều ước quốc tế song phương và đa phương phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế của Nhà nước ta trong phê chuẩn và thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, đặc biệt là các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, hợp tác tịch thu, thu hồi tài sản do phạm tội mà có, tài sản có được do tham nhũng .

ThS. Lưu Thanh Hùng

Đại học An ninh nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Năm 2015, cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý điều tra 351 vụ án, 813 bị can phạm tội về tham nhũng, đã kết luận điều tra 198 vụ, 489 bị can; hiện đang điều tra 140 vụ, 299 bị can.

[2]. Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Điểm d khoản 2.2 Mục 2 Phần II Thông tư số 02/2001/TT-NHNN ngày 04/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.

[4]. Khoản 1 Điều 5 Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: