Thứ ba 25/08/2026 05:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Sơn La

Trong những năm gần đây, các vụ án do người chưa thành niên (NCTN) phạm tội thực hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La đã tăng lên về số lượng và diễn biến hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm, phức tạp. Đây là hồi chuông cảnh báo đối với gia đình, nhà trường và toàn xã hội về loại đối tượng phạm tội này. Do vậy, cần có chế định tăng cường hơn nữa vai trò của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật hình sự cho những đối tượng là NCTN; đồng thời cần có hệ thống pháp luật hoàn thiện để điều chỉnh và áp dụng cho đối tượng phạm tội này.

1. Đặc điểm người chưa thành niên và những chính sách hình sự đối với người chưa thành niên

NCTN là người chưa ổn định về sinh lý, tâm lý, còn bị hạn chế về nhận thức, thiếu kinh nghiệm sống, chưa có khả năng đánh giá đúng đắn sự việc, nhất là đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì chưa nhận thức được đầy đủ tính chất của nó, không lường hết được hậu quả của nó. Trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tuy chúng ta đã đạt được những thành tích rất đáng tự hào, nhưng cũng còn rất nhiều thiếu sót, nhất là việc giáo dục ở cả ba môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Trẻ em phạm tội có phần trách nhiệm của cả gia đình, nhà trường và xã hội.

Dựa vào những đặc điểm trên, mà chính sách hình sự đối với NCTN cũng đã được pháp luật quy định rất cụ thể và mang tính đặc thù, nó thực sự phản ánh được chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục người chưa đến tuổi trưởng thành.

Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990 quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.

Ở Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong Hiến Pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính... và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và pháp luật hình sự cũng có những quy định riêng về trách nhiệm hình sự của NCTN trong từng lĩnh vực và từng hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm[1]. Về mặt nguyên tắc, mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội là NCTN, Nhà nước có chính sách xử lý riêng căn cứ vào đặc điểm đặc thù của sự phát triển tâm sinh lý con người ở độ tuổi này cũng như đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm gần đây

Theo thống kê chưa đầy đủ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm Công an tỉnh Sơn La về các vụ án mà đối tượng là NCTN phạm tội (trong đó có các vụ án đã bị khởi tố về hình sự, xử lý vi phạm hành chính và đưa vào các trường giáo dưỡng), trong năm 2013, trên địa bàn tỉnh Sơn La xảy ra 91 vụ, trong đó có 129 đối tượng phạm tội; năm 2014 xảy ra 47 vụ, trong đó có 94 đối tượng phạm tội; năm 2015 xảy ra 61 vụ, trong đó 110 đối tượng phạm tội. Cũng theo thống kê về tình hình xét xử của toàn tỉnh Sơn La trong những năm gần đây, có rất nhiều bị cáo là NCTN phạm tội, cụ thể:

- Năm 2013, tổng số toàn tỉnh xét xử 1.145 vụ án với 1.805 bị cáo trong đó có 74 bị cáo là NCTN chủ yếu về các loại tội phạm như: Tội trộm cắp tài sản có 24 bị cáo; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác có 13 bị cáo; tội tàng trữ vận chuyển mua bán hoặc chiếm đoạt ma túy; tội giết người có 1 bị cáo và các tội phạm khác.

- Năm 2014, toàn tỉnh đã xét xử 1.256 vụ án với 2.065 bị cáo trong đó có 78 bị cáo là NCTN chủ yếu về các loại tội phạm như: Tội trộm cắp tài sản có 41 bị cáo; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma túy có 10 bị cáo; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có 9 bị cáo và các loại tội phạm khác.

- Năm 2015, toàn tỉnh đã xét xử 1.019 vụ án với 1.608 bị cáo trong đó có 61 bị cáo là NCTN chủ yếu về các tội như: Tội trộm cắp tài sản 26 bị cáo; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma túy với 15 bị cáo; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có 5 bị cáo; tội hiếp dâm có 2 bị cáo; tội hiếp dâm trẻ em có 2 bị cáo; tội cướp tài sản có 4 bị cáo; tội đánh bạc có 2 bị cáo và các loại tội phạm khác.

Dựa vào các con số thống kê nêu trên, có thể thấy rằng, tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La là rất cao. Nếu như trước đây NCTN thường phạm một số ít những loại tội như: Trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích với tính chất đơn lẻ, thủ đoạn đơn giản, thì hiện nay, xu hướng phạm nhiều loại tội với tình chất côn đồ, ổ nhóm, thủ đoạn phạm tội tinh vi, phức tạp và manh động hơn. Không chỉ có vậy, đối tượng này còn nhúng tay vào hầu như tất cả các hình thức phạm tội của người lớn có tính chất rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như cướp tài sản, hiếp dâm, thậm chí cả giết người. Điều đáng nói ở đây là tính chất hành vi vi phạm ngày càng táo bạo, liều lĩnh hơn và nghiêm trọng hơn.

3. Nguyên nhân của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Sơn La

Thứ nhất, do hạn chế về nhận thức: Sơn La là địa bàn biên giới, nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, trình độ dân trí của một bộ phận bà con vùng sâu vùng xa, vùng biên giới còn chưa cao. Hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, trình độ nhận thức còn lạc hậu, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, công tác tuyên truyền pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm triển khai, nhưng chưa thực sự làm chuyển biến được nhận thức của người dân, nội dung tuyên truyền còn chung chung, chưa đi sâu vào nhóm đối tượng chính là NCTN.

Thứ hai, do thiếu sự quan tâm, dạy dỗ của gia đình: Đa phần trẻ em phạm tội thường là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: Trẻ em thiếu sự quan tâm của gia đình (bố mẹ ly hôn, thiếu tình thương yêu của gia đình), các bậc cha mẹ chỉ biết chu cấp vật chất đầy đủ cho con cái mà thiếu sự quan tâm, dạy dỗ các em, nhưng cũng có những người vì cuộc sống quá cơ cực, bần hàn, họ phải lăn lộn để mưu sinh, nên không còn thời gian và sức lực để chăm sóc con cái. Những em thiếu sự quan tâm của bố mẹ sẽ dễ bị lôi kéo vào các hoạt động phạm pháp. Hoặc các em sẽ dễ tái phạm tội nếu sau khi hết thời gian giáo dục cải tạo về địa phương, mà không được quan tâm, quản lý. Những yếu tố tiêu cực trong gia đình cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Cha mẹ các em thấy con mình hư hỏng, thì mắng chửi, nên trẻ hoặc cãi lại, hoặc càng tái phạm tội với mức độ cao hơn. Bố mẹ trẻ cho rằng, đưa các em vào những trung tâm giáo dưỡng với suy nghĩ gia đình không giáo dục được trẻ thì để các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Đó chính là những việc làm như giọt nước làm tràn ly, chỉ khiến những tư tưởng phá phách của trẻ phát triển với cường độ mạnh hơn, tính chất cũng phức tạp hơn rất nhiều.

Thứ ba, do sự thay đổi quá nhanh của xã hội, sự bùng nổ của công nghệ thông tin: Sự phát triển của các tệ nạn xã hội khiến trẻ không kịp thích ứng, tâm lý trẻ trong giai đoạn vị thành niên lại thiếu ổn định, xốc nổi, thích tự lập, thích được thể hiện mình, nên dễ dẫn đến thái độ sống không đúng đắn, dễ bị bạn bè dụ dỗ, lôi kéo vào những hành vi xấu, trong khi đó người lớn dần ít quan tâm hơn đến đời sống con cái mà chạy theo sự chuyển biến của xã hội. Bên cạnh đó là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự phát triển đa dạng của các trò chơi bạo lực, đẫm máu, những trang web thiếu lành mạnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý của các em và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn các em đến việc thực hiện hành vi phạm tội.

Thứ tư, do sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường ở nhiều nơi còn chưa chặt chẽ, đặc biệt là các xã, các huyện ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

4. Một số giải pháp phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Một là, cần đưa nội dung pháp luật hình sự đối với NCTN vào chương trình học chính khóa tại các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, nên đưa các tội danh cụ thể mà NCTN phải chịu TNHS khi có hành vi vi phạm, các tội danh cụ thể mà ở lứa tuổi của các em có thể nhận biết được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi đó như: Giết người, cướp của, hiếp dâm... Bản thân các em khi được tiếp cận các thông tin đó sẽ hiểu được tác hại của việc vi phạm pháp luật giúp các em tránh không thực hiện những điều mà pháp luật ngăn cấm. Bên cạnh đó, còn giúp cho gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục các em có hiệu quả hơn, chỉ ra cho các em những điều mà pháp luật ngăn cấm, khuyên bảo các em không thực hiện những hành vi đó.

Hai là, xây dựng hệ thống giáo dục pháp luật tốt, trong đó giáo dục của các tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể và gia đình đóng vai trò cốt lõi. Lứa tuổi chưa thành niên cần có sự quan tâm cả về mặt vật chất và tinh thần, có sự giáo dục đầy đủ, từ đó hạn chế tội phạm do NCTN phạm tội thực hiện. Ở tuyến cơ sở xã, phường, thôn, bản cần có đội ngũ cán bộ làm công tác đoàn, công tác xã hội tìm hiểu và quan tâm tới những gia đình và thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt, các gia đình có xung đột, mâu thuẫn đã diễn ra lâu ngày, nhưng chưa thể giải quyết được. Các tổ chức đoàn thể và xã hội này cần phải tiếp cận, tìm cách hạn chế, ngăn chặn xu hướng thiếu tích cực xảy ra. Đồng thời, giáo dục trẻ em hướng các em thành người có ích cho xã hội. Điều này rất cần có sự chung tay phối hợp chặt chẽ giữa ba mắt xích quan trọng: Gia đình, nhà trường và xã hội.

Ba là, có chính sách giáo dục thanh thiếu niên thông qua nhiều kênh thông tin đại chúng; xét xử công khai, xét xử lưu động đối với những vụ án phức tạp, điển hình có tính chất nổi cộm nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, đồng thời có tính răn đe đối với các em.

Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho các em ở nhà trường, ở địa phương và tại các tổ chức sinh hoạt đoàn thể nơi các em tham gia. Xây dựng các “tủ sách pháp luật tại địa phương”, thường xuyên cập nhật những văn bản pháp luật mới giúp các em có khả năng tiếp cận với các thông tin về pháp luật nhanh nhất, qua đó nâng cao được nhận thức về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội của lứa tuổi mình qua đó sẽ hạn chế được việc thực hiện tội phạm, bảo đảm tính chất phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.

Năm là, Nhà nước có chính sách tạo việc làm cho người lao động, ổn định kinh tế - chính trị - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, nâng cao chất lượng gia đình, bởi lẽ, gia đình chính là tế bào của xã hội. Giáo dục trong gia đình chính là giáo dục đầu tiên, quan trọng nhất đối với mỗi con người. Đồng thời, ở mỗi địa phương cần đẩy lùi những tụ điểm xấu của xã hội, có môi trường cho trẻ được tham gia vui chơi, học tập sinh hoạt tập thể lành mạnh…

Sáu là, Nhà nước cần có chính sách quản lý hệ thống thông tin mạng internet, vì trẻ em hiện nay là đối tượng thường tiếp xúc sớm, nhanh với các thông tin văn hóa phẩm độc hại, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng.

Bảy là, đào tạo đội ngũ giáo viên, tuyên truyền viên có kiến thức về pháp luật để kịp thời cập nhật những văn bản pháp luật mới để đưa vào giảng dạy cũng như tuyên truyền, phổ biến đến người dân.

Trẻ em là tương lai của đất nước, vì vậy, việc giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng đối NCTN là một đòi hỏi cấp thiết. Với sự chung tay của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân của tỉnh Sơn La trong việc giáo dục pháp luật cho NCTN, hi vọng thời gian tới sẽ hạn chế được tình trạng NCTN phạm tội, góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ vùng Tây Bắc thân yêu của Tổ quốc.

Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: