Thứ hai 02/11/2026 17:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật

Bài viết tập trung làm rõ thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và thực trạng kiểm soát về vấn đề này, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện về mặt chính sách, pháp luật để nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn.

1. Khái quát về thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò là “đầu tàu” kinh tế của cả nước, đứng đầu về kinh tế, dân số, được xem là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Bên cạnh dân cư đông đúc, các hoạt động phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hóa, xã hội, giao thông vận tải… tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất phát triển nhưng cũng chính điều này đã để lại nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, trong đó có tình trạng ô nhiễm tiếng ồn.

Theo phản ánh của người dân sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn diễn ra thường xuyên và chưa có xu hướng giảm, điều này đã tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân. Theo phản ánh của Báo Người lao động, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn diễn ra khắp nơi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đơn cử như tại khu vực chế xuất Tân Thuận (Quận 7), hàng ngày, khu vực này phải chịu đủ loại âm thanh hỗn tạp từ tiếng loa rao của xe hàng rong, xe tải chạy bóp còi inh ỏi đến quán nhậu, karaoke ầm ĩ, điều này làm người dân sinh sống tại khu vực này lao đao, khốn khổ, nhiều người đã bị stress. Tại các chợ truyền thống, các cửa hàng quần áo, điện máy, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn diễn ra hầu như quanh năm, suốt tháng bởi việc phát loa hết công suất để rao bán sản phẩm lặp đi lặp lại từ sáng đến chiều. Tại khu phố Bùi Viện (Quận 1) diễn ra tình trạng các quán bar mở nhạc thường xuyên đến tận khoảng 04 giờ sáng; tại Công viên Gia Định (quận Phú Nhuận), loa điện tử “bắp rang bơ 15.000 đồng/gói” ra rả suốt ngày; tại đoạn đường Phạm Văn Đồng (quận Gò Vấp), các quán bia, club ngoài trời mở nhạc sàn hết công suất; khu vực vòng xoay Lê Đại Hành đến tận hơn 23 giờ vẫn ca nhạc ồn ào; đường Tân Thới Nhất (Quận 12) có điểm tập gym mở loa ầm ĩ từ 05 giờ 30 phút đến tối mà nhiều năm nay không ai xử lý... Thậm chí, ngay cả trong các khu dân cư, tình trạng hát karaoke bằng loa thùng cũng thường xuyên diễn ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân.

Theo kết quả quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian gần đây cho thấy, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục vượt quy chuẩn quy định. Theo kết quả đo tiếng ồn tại 150 điểm quan trắc đặt trên 30 tuyến đường của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ nghiên cứu thì hầu hết số lần đo vượt tiêu chuẩn ở mức cao. Trong đó, ngay cả thời gian ban đêm (từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau), mức độ tiếng ồn đo được vẫn vượt quá giới hạn gấp nhiều lần; riêng ở 06 trạm quan trắc tại ngã tư An Sương, ngã sáu Gò Vấp, vòng xoay Hàng Xanh, ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ, vòng xoay Phú Lâm và ngã tư Huỳnh Tấn Phát - Nguyễn Văn Linh, kết quả đo cho thấy nhiều lần đạt trên 85 dB, vượt ngưỡng tiếng ồn cao nhất cho phép[1]. Theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thì mức độ tiếng ồn của Thành phố Hồ Chí Minh là rất cao, thậm chí là nằm trong tốp các thành phố cao nhất thế giới[2]. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP), trong bảng xếp hạng với tổng cộng 61 thành phố về mức độ tiếng ồn thì Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng là thành phố ô nhiễm môi trường thứ 04 trên thế giới[3]. Từ thực tế nêu trên, có thể thấy rằng, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang diễn ra rất nghiêm trọng, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

2. Thực trạng về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trước tình trạng ô nhiễm tiếng ồn diễn ra thường xuyên, tác động tiêu cực đến sức khỏe và chất lượng môi trường sống của người dân, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều chính sách để thúc đẩy thực hiện các giải pháp kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Cụ thể, thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã rất quyết tâm và nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp như thiết lập các kênh thông tin và đường dây nóng để tiếp nhận thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm tiếng ồn, tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm tiếng ồn; thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiếng ồn… Theo đó, để kịp thời ghi nhận, giải quyết phản ánh của người dân về tình trạng gây ô nhiễm tiếng ồn, Thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập nhiều kênh tiếp nhận thông tin phản ánh như: Tổng đài 1022, đường dây nóng về ô nhiễm môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường (số điện thoại: 02838290568); đường dây nóng, cổng thông tin điện tử, các ứng dụng mạng xã hội của quận, huyện, phường, xã, thị trấn; hệ thống mặt trận các cấp. Thông qua việc thiết lập các kênh thông tin tiếp nhận này, trong 08 tháng đầu năm 2023, Cổng thông tin 1022 của Thành phố đã tiếp nhận 11.115 tin phản ánh về tiếng ồn, đây là nguồn thông tin quan trọng làm cơ sở để giúp các cơ quan chức năng Thành phố Hồ Chí Minh kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn[4]. Đồng thời, thời gian qua, Thanh tra Sở Văn hóa - Thông tin, đoàn kiểm tra liên ngành văn hóa - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều cuộc kiểm tra, phát hiện được các cơ sở có hành vi vi phạm gây ô nhiễm tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn cho phép cũng như kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2022, Thành phố đã kiểm tra và phát hiện 8.679 trường hợp có vi phạm về tiếng ồn, trong đó nhắc nhở 8.544 trường hợp và xử phạt 135 trường hợp, tổng số tiền xử phạt khoảng 430 triệu đồng[5]. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tích cực tuyên truyền, vận động các cơ sở, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư chấp hành các quy định về tiếng ồn, hạn chế, tiến tới chấm dứt các hoạt động, sinh hoạt gây tiếng ồn. Trong công tác quản lý và thực hiện chính sách về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có văn bản gửi các sở, ngành, quận, huyện và thành phố Thủ Đức chỉ đạo tiếp tục tăng cường công tác xử lý vi phạm về tiếng ồn, cũng như yêu cầu thủ trưởng các đơn vị tiếp tục chủ động thực hiện hiệu quả các giải pháp, biện pháp xử lý nghiêm nhóm hành vi vi phạm liên quan đến tiếng ồn. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng giao các cơ quan chức năng như Sở Tư pháp, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế phối hợp nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xử lý hiệu quả hơn nữa vi phạm về tiếng ồn.

Nhìn chung, công tác kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn đã được Thành phố quan tâm, đầu tư đẩy mạnh triển khai thực hiện, điều này đã góp phần vào việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm bảo vệ kịp thời chất lượng môi trường sống cho người dân. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, hiện nay, hiệu quả kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự bảo đảm, tình trạng tái phạm lại còn diễn ra khá phổ biến. Đơn cử như trường hợp của cơ sở sản xuất nước đá Đại Anh tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở này đã bị Ủy ban nhân dân quận Tân Phú xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm gấp ba lần ngưỡng tiếng ồn cho phép, tuy nhiên sau khi nộp phạt thì mọi chuyện vẫn diễn ra như cũ[6]; hay trường hợp quán Inthepub II (Quận 1) bị Ủy ban nhân dân phường Phạm Ngũ Lão kiểm tra và lập biên bản các hành vi gây tiếng ồn vượt quy định, song sau đó kiểm tra lại thì phát hiện quán vẫn tiếp tục gây ồn[7]. Sở dĩ tình trạng kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa thực sự hiệu quả là do xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản như sau:

Một là, chế tài xử phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn chưa thực sự đủ sức răn đe, việc áp dụng các quy định pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm gây ô nhiễm tiếng ồn trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, tại Điều 22 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nghị định số 45/2022/NĐ-CP) đã đưa ra các quy định về xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính liên quan đến ô nhiễm tiếng ồn. Theo đó, tùy vào mức độ ô nhiễm tiếng ồn gây ra so với quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn cho phép mà có thể bị áp dụng hình thức xử phạt nhẹ nhất là cảnh cáo hoặc cao nhất là phạt tiền lên đến 160.000.000 đồng đối với cá nhân và 320.000.000 đồng đối với tổ chức; ngoài ra, còn có thể áp dụng thêm hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Mức xử phạt theo như quy định là cần thiết để áp dụng xử lý đối với các hành vi vi phạm, tuy nhiên, với mức phạt như hiện nay thì chưa thực sự đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm, dẫn đến tình trạng các chủ thể mặc dù vi phạm bị xử phạt nhưng vẫn tiếp tục sẵn sàng tái phạm.

Hơn nữa, hiện nay, các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn chưa được luật hóa thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, đây cũng là một điểm hạn chế, bởi việc không quy định sẽ dẫn đến tình trạng không có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý triệt để đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn ở mức độ nguy hiểm cho xã hội, từ đó tạo kẽ hở để các đối tượng thực hiện các hành vi ô nhiễm tiếng ồn ở mức độ nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà không sợ phải gánh chịu những chế tài pháp lý nặng nề nhất trong các khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định.

Bên cạnh đó, vấn đề thực thi, áp dụng pháp luật để xử lý đối với các hành vi vi phạm gây ô nhiễm tiếng ồn cũng gặp rất nhiều khó khăn. Theo các cơ quan chức năng tại Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù đã có những quy định xử phạt hành vi vi phạm tiếng ồn trong khu dân cư, tuy nhiên, công tác xử lý ô nhiễm tiếng ồn trong khu dân cư không phải là vấn đề có thể dễ dàng giải quyết triệt để và nhanh chóng. Thực tế, khi nhận được phản ánh, tố giác từ người dân về tình trạng gây ô nhiễm tiếng ồn, các cơ quan chức năng cần thời gian để xem xét, xác thực rồi mới tiến hành lập đoàn kiểm tra, xử lý. Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành thu thập chứng cứ, dựa trên kết quả đo độ ồn ở hiện trường và thời gian phát ra tiếng ồn để tiến hành các thủ tục xử phạt. Để đo được tiếng ồn, buộc phải trang bị máy đo, tuy nhiên, không phải khu vực nào cũng đủ điều kiện trang bị máy đo tiếng ồn. Hơn nữa, khi lực lượng chức năng xuống tới hiện trường thì hầu như tiếng ồn đã chấm dứt nên không thể xử phạt kịp thời được.

Hai là, nhận thức về tác hại của tiếng ồn và sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn từ các chủ thể còn tồn tại những hạn chế nhất định. Về phía người dân, người dân chưa thực sự mạnh dạn, tích cực trong vấn đề phản ánh, tố giác những đối tượng có hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn, thậm chí, có người còn mặc nhiên cho rằng, ô nhiễm tiếng ồn là vấn đề thường ngày, quen thuộc trong cuộc sống nên chấp nhận với điều đó. Mặt khác, một số bộ phận người dân còn cả nể, ngại va chạm nên chủ yếu là im lặng hoặc nhắc nhở nhau dựa trên “tình làng nghĩa xóm”, chỉ khi nào quá nghiêm trọng, lặp đi lặp lại nhiều lần thì mới phản ánh đến các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người dân chưa có ý thức tuân thủ về vấn đề kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn trên thực tế vì sở thích cá nhân, vì lợi nhuận kinh doanh, vì các giá trị lợi ích kinh tế mang lại mà các chủ thể sẵn sàng thực hiện các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn một cách thường xuyên, từ đó gây ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng. Ngoài ra, ngay cả chính một bộ phận cán bộ địa phương cũng chưa thực sự ý thức đúng, đầy đủ về tầm quan trọng của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và cho rằng, ô nhiễm tiếng ồn chỉ đơn giản là những thói quen thường nhật và chưa thực sự là một mối đe dọa cho cộng đồng. Chính những điều này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm tiếng ồn vẫn tiếp tục diễn ra phổ biến trên thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Ba là, còn thiếu sự quyết tâm từ các cơ quan chức năng trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nên chưa xử lý triệt để được vấn nạn ô nhiễm tiếng ồn. Theo phản ánh của người dân tại địa phương, mặc dù có rất nhiều trường hợp gửi đơn phản ánh lên Ủy ban nhân dân và Công an phường nhưng vẫn không được giải quyết triệt để, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm tiếng ồn[8]. Từ năm 2020, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nhìn nhận việc ô nhiễm tiếng ồn là một trong những vấn nạn cần sớm khắc phục nhưng các phường, xã và cơ quan chức năng thiếu kiên quyết trong xử lý[9]. Chính điều này cũng là một trong những lý do dẫn đến tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa được kiểm soát hiệu quả.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện về mặt chính sách, pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Một là, thông qua thực tiễn hoạt động, các cơ quan chức năng trực thuộc cần rà soát, xác định và nêu ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập, thiếu sót, không bảo đảm tính khả thi trong các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, kịp thời đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện gửi đến các cơ quan có thẩm quyền lập pháp ở trung ương để kịp thời khắc phục, hoàn thiện nhằm tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ để phục vụ kịp thời cho việc kiểm soát hiệu quả tình trạng ô nhiễm tiếng ồn trên thực tế hiện nay. Theo đó, cần hoàn thiện các quy định về chế tài xử phạt hành vi vi phạm gây ô nhiễm tiếng ồn, bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là cần phải có quy định về thời gian sử dụng âm thanh trong kinh doanh đối với các nhà hàng, quán ăn có loa âm thanh lớn, cũng như cần có một văn bản pháp luật quy định thống nhất về ngưỡng, phương pháp xác định mức độ ồn, mức chế tài, thẩm quyền xử phạt... để làm căn cứ xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm tiếng ồn.

Hai là, để xử lý tình trạng gây ô nhiễm tiếng ồn trong khu dân cư, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục đề nghị Ban chỉ đạo phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” vận động các khu phố quan tâm thực hiện, phân công từng thành viên tổ chức nắm tình hình, theo dõi và giám sát các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm tiếng ồn và báo cáo cho chính quyền, công an địa phương xử lý theo quy định. Đặc biệt, phải xem xét, đánh giá việc chấp hành các hành vi vi phạm tiếng ồn của tổ chức, cá nhân trong xét tặng các danh hiệu văn hóa tại địa phương. Đồng thời, tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền về tuân thủ các quy định về tiếng ồn trong khu dân cư trên các màn hình quảng cáo điện tử, các phương tiện quảng cáo nơi công cộng; tuyên truyền, vận động các tổ chức và người dân tại địa phương chấp hành các quy định tiếng ồn. Việc đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền là rất cần thiết bởi điều này sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho người dân, cho các cơ sở kinh doanh, giúp các chủ thể này thấy được những tác hại của tiếng ồn đối với sức khỏe con người, đối với an ninh trật tự, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn.

Ba là, các lực lượng chức năng cần tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động kinh doanh, buôn bán có phát sinh tiếng ồn trên địa bàn; phải xác định được cơ quan làm đầu mối trong việc tham mưu chính quyền địa phương có các biện pháp quyết liệt, giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm tiếng ồn. Bên cạnh đó, cũng cần phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong xử lý ô nhiễm tiếng ồn, tránh tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm. Đặc biệt, cần phải xem xét yêu cầu các cơ sở kinh doanh viết cam kết việc tuân thủ các quy định về tiếng ồn trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động phát sinh tiếng ồn. Lập danh sách các điểm thường xuyên có sử dụng thiết bị âm thanh vi phạm gây tiếng ồn để tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Đồng thời, xác định rõ, ở địa phương, cấp quận, huyện, xã nào để xảy ra vi phạm về tiếng ồn do buông lỏng quản lý thì tiến hành xem xét trách nhiệm, xử lý người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức.

Bốn là, cần nghiên cứu xem xét áp dụng cơ chế phạt nguội đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn. Theo đó, phạt nguội được hiểu là hình thức xử lý vi phạm sau khi các chủ thể đã vi phạm được một khoảng thời gian nhất định. Với hình thức phạt này, chủ thể vi phạm không bị xử lý ngay khi vi phạm mà sẽ bị xử phạt sau. Việc phạt nguội có thể được tiến hành dựa trên những thông tin, dữ liệu thu thập được từ camara giám sát hoặc từ những thông tin, dữ liệu bằng chứng do tổ chức, cá nhân cung cấp hoặc đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Việc áp dụng hình thức phạt nguội đối với các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn sẽ góp phần phát huy hiệu quả trong việc giúp người dân nâng cao ý thức trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn; đồng thời, giảm tải cho lực lượng chức năng trong việc tuần tra, kiểm soát nhưng vẫn bảo đảm được hiệu quả kiểm soát, xử lý. Tuy nhiên, để hình thức xử phạt này phát huy hiệu quả thì cần thiết phải hoàn thiện các văn bản pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Hiện nay, tại một số quốc gia, chỉ cần qua trình báo của người dân lân cận về hành vi gây tiếng ồn lớn, cảnh sát khu vực sẽ có mặt và kiểm tra, nếu đúng sự thật sẽ xử phạt ngay[10]. Thành phố Hồ Chí Minh cũng có thể xem xét, đề xuất, kiến nghị áp dụng giải pháp này vào hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn để góp phần nâng cao hiệu quả tối ưu đối với hoạt động này trên thực tế.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Thành Luân, Thành phố Hồ Chí Minh: Ô nhiễm tiếng ồn gia tăng, http://daidoanket.vn/tp-ho-chi-minh-o-nhiem-tieng-on-gia-tang-402452.html, truy cập ngày 01/11/2023.

[2]. Mai Quốc Ấn, “Khó khăn trong kiểm soát nạn ô nhiễm không khí ở Thành phố Hồ Chí Minh”, https://www.vietnamplus.vn/kho-khan-trong-kiem-soat-nan-o-nhiem-khong-khi-o-thanh-pho-ho-chi-minh/325457.vnp, truy cập ngày 02/11/2023.

[3]. Trần Trung, “Thành phố Hồ Chí Minh ô nhiễm hàng đầu thế giới”, vnreport.vn, truy cập ngày 02/11/2023.

[4]. Cẩm Nương, “Thành phố Hồ Chí Minh nhận hơn 11.000 phản ánh tiếng ồn, ồn nhất từ 18h - 22h”, https://tuoitre.vn/tp-hcm-nhan-hon-11-000-phan-anh-tieng-on-on-nhat-tu-18h-22h-20230930171724509.htm, truy cập ngày 02/11/2023.

[5]. Minh Hải, “Nhức nhối ô nhiễm tiếng ồn trong khu dân cư”, https://baomoi.com/nhuc-nhoi-o-nhiem-tieng-on-trong-khu-dan-cu-c47301673.epi, truy cập ngày 02/11/2023.

[6]. VTC24h, “Thành phố Hồ Chí Minh: Nhức nhối cơ sở sản xuất nước đá gây ô nhiễm tiếng ồn”, https://vtv.vn/trong-nuoc/tp-hcm-nhuc-nhoi-co-so-san-xuat-nuoc-da-gay-o-nhiem-tieng-on-20141029205037002.htm, truy cập ngày 01/11/2023.

[7]. Sỹ Đông, “Quán xá dội nhạc, hàng xóm điên đầu”, https://nld.com.vn/ban-doc/quan-xa-doi-nhac-hang-xom-dien-dau-20150329222339898.htm, truy cập ngày 01/11/2023.

[8]. Ý Linh, “Không khó xử lý tiếng ồn karaoke, chỉ là muốn làm hay không mà thôi”, https://nld.com.vn/ban-doc/xu-ly-tieng-on-karaoke-nam-trong-kha-nang-cua-chinh-quyen-2019021914054851.htm, truy cập ngày 02/11/2023.

[9]. Kim Ngân, “Ô nhiễm tiếng ồn: Nguyên nhân cơ bản là buông lỏng quản lý”, https://tphcm.chinhphu.vn/o-nhiem-tieng-on-nguyen-nhan-co-ban-la-buong-long-quan-ly-101220923192229282.htm, truy cập ngày 02/11/2023.

[10]. Nguyễn Thành Công, “Trị tiếng ồn trong khu dân cư: Dễ hay khó: Nhà nước phải vào cuộc”, https://nld.com.vn/ban-doc/tri-tieng-on-trong-khu-dan-cu-de-hay-kho-nha-nuoc-phai-vao-cuoc-20200227211007696.htm, truy cập ngày 02/11/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, gắn với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh quan hệ lao động có nhiều thay đổi, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Đề án "Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới" của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trong toàn hệ thống Công đoàn.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.

Theo dõi chúng tôi trên: