Chủ nhật 18/01/2026 21:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về hoạt động khuyến mại trong kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành viễn thông Việt Nam là một trong những ngành có bước tiến vượt bậc và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Để giữ chân khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ liên tục tung ra các chương trình khuyến mại lớn. Số lượng thuê bao tăng lên nhiều có nghĩa khách hàng thực sự tăng lên hay chỉ làm gia tăng thuê bao ảo?

Ngành viễn thông liệu có đang phát triển đúng hướng và người tiêu dùng được lợi gì? Hàng loạt câu hỏi liên quan đến khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông đang được đặt ra. Vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động này như thế nào? Trong bài viết này, tác giả phân tích các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông, quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông và đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Về các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông

Cùng với sự phát triển của dịch vụ viễn thông, pháp luật nước ta cũng đã có những sự thay đổi phù hợp nhằm kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Trước năm 2010, hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông không có văn bản pháp luật riêng điều chỉnh mà chỉ có Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại làm cơ sở pháp lý, thì hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực này về cơ bản vẫn còn tồn tại nhiều bất cập với tình trạng khuyến mại tràn lan. Do đó, để ổn định lại thị trường, ngày 07/9/2009, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) đã có Công văn số 966/XTTM-QLXTTM yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông không được khuyến mại vượt quá 50% giá trị thẻ trả trước. Tuy nhiên, Công văn này vẫn chưa ngăn chặn được tình trạng khuyến mại “vô tội vạ” của các doanh nghiệp viễn thông. Đến khi Thông tư số 11/2010/TT-BTTTT ngày 14/5/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động (Thông tư số 11) được ban hành, thì cơ sở xác định các hình thức khuyến mại cũng như điều kiện, nguyên tắc áp dụng đối với từng hình thức khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông mới được quy định cụ thể. Bên cạnh đó, đối với từng hình thức khuyến mại, Thông tư số 11 còn đưa ra hướng dẫn chi tiết về cách xác định hạn mức trong một chương trình khuyến mại của thương nhân. Quy định này vừa bảo đảm được tính chủ động cho thương nhân thực hiện khuyến mại, vừa ngăn ngừa hành vi bán phá giá để cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc khuyến mại cho khách hàng[1] Có thể nói, với sự ra đời của Thông tư số 11, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể về các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông; các quy định pháp luật về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại đã bảo đảm cho hoạt động khuyến mại của thương nhân diễn ra trong một khuôn khổ, trật tự ổn định, đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh; hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp viễn thông đã dần đi vào khuôn khổ ổn định, bảo đảm quyền lợi của khách hàng cũng như quyền lợi của chính doanh nghiệp viễn thông đó và rộng hơn là sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường dịch vụ viễn thông.

Tìm hiểu về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông hiện nay cho thấy, bên cạnh việc thực hiện các hình thức khuyến mại đơn lẻ theo luật định, các doanh nghiệp viễn thông còn thực hiện việc kết hợp nhiều hình thức khuyến mại khác nhau nhằm tăng tính hấp dẫn và thu hút cho chương trình khuyến mại. Tuy nhiên, việc kết hợp các hình thức khuyến mại của doanh nghiệp viễn thông lại đang gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước, vì các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát được hết những vấn đề phát sinh trong quá trình các thương nhân thực hiện các chương trình khuyến mại. Trong trường hợp này, việc xác định hạn mức tối đa dùng để khuyến mại hoặc hạn mức giảm giá tối đa theo quy định của pháp luật còn thiếu cơ sở pháp lý để tính toán cụ thể. Vì nếu thương nhân thực hiện nhiều hình thức khuyến mại trong một chương trình khuyến mại, thì nhóm đối tượng khách hàng hướng đến của mỗi hình thức có thể khác nhau. Do đó, chỉ có thể tính chính xác giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại sau khi kết thúc đợt khuyến mại trên cơ sở xác định số thuê bao hòa mạng mới, số thẻ bán ra, thời gian cụ thể không thu cước mà khách hàng sử dụng trên thực tế. Với vướng mắc như vậy, thì việc tính tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại hay không thực sự không phải là điều đơn giản. Khi đó, vấn đề đặt ra là hạn mức giá trị vật chất tối đa dùng để khuyến mại sẽ được xác định trên cơ sở tổng hợp các hình thức hay xác định riêng cho từng hình thức khuyến mại, pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể.

Từ thực tiễn của hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động có thể khẳng định, đây là một trong những lĩnh vực có hình thức khuyến mại phong phú và đa dạng nhất. Không chỉ vận dụng những hình thức khuyến mại đã được pháp luật quy định, các thương nhân kinh doanh thông tin di động còn tạo ra các hình thức mới. Đây cũng là một việc làm phù hợp với pháp luật và mang tính tích cực trong hoạt động kinh doanh vì pháp luật Việt Nam quy định rõ thương nhân được phép làm những việc mà pháp luật không cấm. Chính vì thế, nếu như pháp luật giản lược hóa những quy định về hình thức, chỉ để lại những quy định mang tính chất khung như hạn mức khuyến mại, thời gian được phép khuyến mại... thì thương nhân sẽ phát huy được tính sáng tạo, đồng thời các cơ quan chức năng cũng dễ dàng phát hiện những sai phạm và kịp thời ngăn chặn.

Pháp luật đặt ra quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhằm góp phần hạn chế tình trạng khuyến mại tràn lan của các doanh nghiệp viễn thông. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc xác định hạn mức giá trị dùng để khuyến mại rất khó thực hiện, bởi nếu thương nhân tặng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền, thì hạn mức tổng giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị dịch vụ được khuyến mại. Trong khi đó, cả hai mức “tổng giá trị” này chỉ có thể được xác định sau khi kết thúc thời gian khuyến mại do đặc trưng của dịch vụ trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông là tiêu dùng ngay, vì vậy khi chưa hết thời gian khuyến mại, thì chỉ có thể ước tính giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại. Hơn nữa, quy định về hạn mức tổng giá trị của dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng viễn thông dùng để khuyến mại so với tổng giá trị của dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng được khuyến mại quy định tại khoản 10 Điều 5 Thông tư số 11 là một khái niệm rất trừu tượng.

Như vậy, có thể thấy, các quy định về hạn mức tối đa giá trị vật chất của một đơn vị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, hạn mức giảm giá tối đa... trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông rất khó xác định chính xác. Vì vậy, Nhà nước hoặc là nên bỏ đi các quy định về hạn mức, hoặc là sửa đổi phù hợp nếu tiếp tục sử dụng các quy định đó. Theo một số ý kiến, thì pháp luật nên bỏ quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại với lý do Luật Cạnh tranh năm 2004 đã tạo ra một hành lang pháp lý khá hoàn thiện để ngăn ngừa nguy cơ bán phá giá đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ. Hành vi này bị cấm thực hiện đối với doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, khi hoạt động khuyến mại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và không gây nguy hại hay đe dọa gây nguy hại cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, thì Nhà nước không cần phải quy định những rào cản hay khuôn phép quá chật hẹp. Nhà nước chỉ nên quy định cấm hoặc hạn chế đối với những hành vi của thương nhân khi hành vi đó có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của chủ thể khác. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật muốn tiếp tục đặt ra các giới hạn, hạn mức đối với các hình thức khuyến mại, thì cần phải quy định rõ trách nhiệm bắt buộc đối với thương nhân thực hiện khuyến mại trong việc thực hiện những báo cáo, giải trình liên quan tới giá trị hàng hóa, dịch vụ viễn thông dùng để khuyến mại, giá trị của hàng hóa, dịch vụ viễn thông được khuyến mại.

Các doanh nghiệp viễn thông không thực hiện các chương trình khuyến mại một cách công khai, minh bạch. Điển hình cho tình trạng này là trong thời gian gần đây, các thuê bao di động liên tục nhận được những tin nhắn mời tham gia các chương trình xổ số khuyến mại trúng tiền triệu của Mobiphone, Vinaphone, Vietnammobile... Những chương trình này đều có chung cách thức là khách hàng có cơ hội trúng thưởng một khoản tiền lớn qua hình thức quay thưởng khi tham gia chương trình. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là nội dung các tin nhắn vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt nhiều tin nhắn không thông báo cụ thể giá cước khiến nhiều khách hàng mất tiền oan. Điều này trái với những nguyên tắc thực hiện khuyến mại, đó là nguyên tắc trung thực, công khai, minh bạch, không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và nguyên tắc không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào[2].

2. Về bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông

Trong thời gian qua, sự cạnh tranh quyết liệt của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã nảy sinh xu hướng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này, đặc biệt là theo lộ trình cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì lĩnh vực viễn thông được mở cửa hội nhập từ cuối năm 2009. Đây là một cơ hội cho lĩnh vực viễn thông Việt Nam đạt được tầm cao mới nhưng cũng là thách thức và tạo ra các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và với thị trường viễn thông nói chung. Theo báo cáo về khảo sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), các doanh nghiệp đã đưa ra những thông tin phản hồi đánh giá các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường viễn thông, kết quả khảo sát và phỏng vấn trực tiếp cũng cho thấy: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến nhất trên thị trường viễn thông là khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh như bán phá giá dịch vụ, giảm giá cung ứng dịch vụ lớn hơn giới hạn mà pháp luật cho phép làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp...

Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, hành vi khuyến mại sẽ bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh là sự ganh đua giành các lợi ích kinh doanh. Do đó, cạnh tranh chỉ hình thành khi có đối thủ cạnh tranh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi gây hại cho đối thủ cạnh tranh; xâm hại quyền, lợi ích của người tiêu dùng. Xuất phát từ điều này, việc quy định các hành vi khuyến mại xâm hại lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng là chưa thực sự phù hợp.

Với những hạn chế như trên, thiết nghĩ chỉ cần quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại (trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực viễn thông) bao gồm những hành vi khuyến mại bị cấm do xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh và của người tiêu dùng là đủ, không cần quy định liệt kê “các hành vi khuyến mại bị cấm khác”.

Trong thời gian qua, lợi ích của người tiêu dùng chưa được các doanh nghiệp viễn thông thực sự quan tâm khi thực hiện các chương trình khuyến mại. Đã có một số chương trình khuyến mại có dấu hiệu vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, gây nhiều bức xúc cho người tiêu dùng. Ví dụ: Từ 28/6/2013 - 29/6/2013, Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) có tổ chức chương trình khuyến mại tặng 50% giá trị thẻ nạp cho thuê bao di động trả trước. Tuy nhiên, liên tục từ 22h đêm ngày 29/6/2013, rất nhiều khách hàng của Viettel không thể nạp thẻ cũng như không thể liên lạc được với tổng đài chăm sóc khách hàng của nhà mạng này. Tình trạng này xảy ra ở rất nhiều địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình... và nhiều khách hàng nạp một số tiền không nhỏ để hưởng khuyến mại nhưng cuối cùng lại không được hưởng quyền lợi chính đáng của mình[3].

Ngoài ra, còn rất nhiều các trường hợp khác. Điều đó chứng tỏ hiện nay, các doanh nghiệp viễn thông đôi khi chỉ khuyến mại nhằm cạnh tranh, lôi kéo khách hàng về phía mình mà không thực sự quan tâm tới chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng và quyền lợi của khách hàng. Đến khi khách hàng phản ánh với các cơ quan chức năng, thì các nhà mạng chỉ giải thích do nghẽn mạng, dung lượng tin nhắn không đủ diễn đạt hết ý của nhà cung cấp, có sự nhầm lẫn trong hệ thống hoặc thậm chí đẩy trách nhiệm sang phía khách hàng và cho rằng khách hàng không tìm hiểu kỹ thông tin khi tham dự chương trình. Điều này đã gây nên không ít bức xúc cho người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ viễn thông thời gian vừa qua.

Như vậy, mặc dù Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 và văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, nhưng trên thực tế, quyền lợi của người tiêu dùng vẫn chưa thực sự được đảm bảo và cho đến nay, người tiêu dùng vẫn phải tự bảo vệ mình. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về lĩnh vực này, cũng như có giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.

3. Về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định rất cụ thể và chi tiết, đảm bảo cho hoạt động khuyến mại được diễn ra trong khuôn khổ thống nhất dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định các điều kiện cần đáp ứng để thương nhân được sự xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyền của thương nhân khi bị từ chối xác nhận việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại. Thiếu sót này có thể biến thủ tục “đăng ký” thành thủ tục “xin phép” và dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, thiếu cơ sở của cơ quan công quyền khi thực hiện quyền hạn của mình và có khả năng làm cho quyền tự do hoạt động khuyến mại của thương nhân khó thực hiện một cách đầy đủ[4]. Những sai phạm chủ yếu trong việc triển khai chương trình khuyến mại dịch vụ viễn thông tập trung ở những hành vi như: Giảm giá cước trong chương trình khuyến mại lớn hơn 50% giá cước ngay trước thời điểm khuyến mại; không thực hiện đầy đủ việc thông báo hoặc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại theo quy định; thời gian triển khai của từng chương trình khuyến mại kéo dài quá thời gian quy định; tổng thời gian khuyến mại trong một năm vượt quá thời hạn quy định. Như vậy, mặc dù những vấn đề này đã được pháp luật điều chỉnh nhưng trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông vẫn mắc phải những sai phạm này. Theo báo cáo kết quả thanh tra trong 09 tháng đầu năm 2013, Bộ Thông tin và truyền thông đã tiến hành 03 cuộc thanh tra hành chính và 70 cuộc thanh tra chuyên ngành; trong đó đối với lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin, kết quả thanh tra cho thấy vẫn xảy ra tình trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông thực hiện các chương trình khuyến mại cước viễn thông không đúng quy định đặc biệt là tin nhắn rác, tin nhắn có nội dung lừa đảo, nội dung lôi kéo khách hàng đánh bạc, mê tín dị đoan. Khi phát hiện, thanh tra Bộ đã kịp thời chấn chỉnh các doanh nghiệp viễn thông, đồng thời xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với các trường hợp vi phạm. Đặc biệt, thanh tra Bộ còn kiến nghị thu hồi nhiều đầu số của doanh nghiệp có hành vi phát tán tin nhắn rác, tin nhắn có nội dung cổ suý, rủ rê, lôi kéo khách hàng đánh bạc trái phép, nội dung đồi trụy không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam[5].

Tình trạng các hành vi khuyến mại có dấu hiệu vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước lại thường không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp thường đưa ra những chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng quà với giá trị rất lớn, nhưng cơ quan nhà nước lại không thể kiểm soát được liệu các chương trình này có vi phạm các quy định về mức giảm giá tối đa của dịch vụ hay hạn mức tối đa của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại hay không? Bởi vì thực tiễn cho thấy, giá của một đơn vị dịch vụ viễn thông bao gồm rất nhiều loại chi phí phức tạp và chỉ có các doanh nghiệp viễn thông mới có thể tính tương đối chính xác những giá trị này.

Mặc dù hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và nhiều hành vi sai phạm trong hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được phát hiện, xử lý kịp thời nhưng thực tế cho thấy, hoạt động thanh tra, kiểm tra vẫn chưa thực sự hiệu quả vì có nhiều trường hợp doanh nghiệp viễn thông vi phạm pháp luật nhưng phải đợi đến khi các doanh nghiệp tố giác lẫn nhau thì lúc đó, thanh tra mới vào cuộc điều tra, xử lý. Còn rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông thực hiện hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trên thực tế nhưng đa phần những trường hợp này, việc xử lý vi phạm không được công khai trên các phương tiện truyền thông nên hiệu quả xử lý vi phạm nhằm mục đích răn đe, khuyến cáo các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông khác không đạt được hiệu quả như mong đợi.

Theo ý kiến của một đại diện Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và truyền thông thì hiện nay, còn nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông không nghiêm túc tuân thủ quy định về việc đăng ký, thông báo với cơ quan chức năng về các chương trình khuyến mại, do đó trên thị trường xuất hiện nhiều vi phạm pháp luật về khuyến mại làm ảnh hưởng tới các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông khác.

4. Kiến nghị

Như vậy, pháp luật về quản lý nhà nước về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và đòi hỏi cần được hoàn thiện hơn, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp như sau:

- Nhà nước cần quy định rõ trách nhiệm của thương nhân trong việc giải trình về giá của một đơn vị dịch vụ được khuyến mại, giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hoá, dịch vụ cũng như tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại, đặc biệt đối với hai hình thức khuyến mại phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông là giảm giá và tặng quà.

- Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật trong đó, xác định rõ các điều kiện cần đáp ứng để thương nhân có được sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như quy định rõ về quyền của thương nhân khi bị từ chối xác nhận việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, từ đó góp phẩn bảo đảm tốt hơn quyền tự do kinh doanh, quyền và các lợi ích hợp pháp khác của thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại nói chung, khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông nói riêng.

- Bộ Thông tin và Truyền thông cần giám sát chặt chẽ thị trường để đảm bảo sự ổn định, không để xảy ra tình trạng doanh nghiệp viễn thông này thấy doanh nghiệp viễn thông khác làm sai mà không bị xử lý thì cũng làm theo để đỡ mất thị phần. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần lưu ý hơn về việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký, thông báo.

ThS. Cao Thanh Huyền
ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
ThS. Lê Văn Đức
Trường Đại học Luật Hà Nội
Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lương Thị Hồng Nhung & Nguyễn Thị Hồng Nhung, Pháp luật điều chỉnh khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

[4]. Lương Thị Hồng Nhung & Nguyễn Thị Hồng Nhung, Pháp luật điều chỉnh khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: