Thứ hai 21/09/2026 23:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về hoạt động khuyến mại trong kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành viễn thông Việt Nam là một trong những ngành có bước tiến vượt bậc và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Để giữ chân khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ liên tục tung ra các chương trình khuyến mại lớn. Số lượng thuê bao tăng lên nhiều có nghĩa khách hàng thực sự tăng lên hay chỉ làm gia tăng thuê bao ảo?

Ngành viễn thông liệu có đang phát triển đúng hướng và người tiêu dùng được lợi gì? Hàng loạt câu hỏi liên quan đến khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông đang được đặt ra. Vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động này như thế nào? Trong bài viết này, tác giả phân tích các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông, quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông và đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Về các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông

Cùng với sự phát triển của dịch vụ viễn thông, pháp luật nước ta cũng đã có những sự thay đổi phù hợp nhằm kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Trước năm 2010, hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông không có văn bản pháp luật riêng điều chỉnh mà chỉ có Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại làm cơ sở pháp lý, thì hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực này về cơ bản vẫn còn tồn tại nhiều bất cập với tình trạng khuyến mại tràn lan. Do đó, để ổn định lại thị trường, ngày 07/9/2009, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) đã có Công văn số 966/XTTM-QLXTTM yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông không được khuyến mại vượt quá 50% giá trị thẻ trả trước. Tuy nhiên, Công văn này vẫn chưa ngăn chặn được tình trạng khuyến mại “vô tội vạ” của các doanh nghiệp viễn thông. Đến khi Thông tư số 11/2010/TT-BTTTT ngày 14/5/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động (Thông tư số 11) được ban hành, thì cơ sở xác định các hình thức khuyến mại cũng như điều kiện, nguyên tắc áp dụng đối với từng hình thức khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông mới được quy định cụ thể. Bên cạnh đó, đối với từng hình thức khuyến mại, Thông tư số 11 còn đưa ra hướng dẫn chi tiết về cách xác định hạn mức trong một chương trình khuyến mại của thương nhân. Quy định này vừa bảo đảm được tính chủ động cho thương nhân thực hiện khuyến mại, vừa ngăn ngừa hành vi bán phá giá để cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc khuyến mại cho khách hàng[1] Có thể nói, với sự ra đời của Thông tư số 11, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể về các hình thức khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông; các quy định pháp luật về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại đã bảo đảm cho hoạt động khuyến mại của thương nhân diễn ra trong một khuôn khổ, trật tự ổn định, đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh; hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp viễn thông đã dần đi vào khuôn khổ ổn định, bảo đảm quyền lợi của khách hàng cũng như quyền lợi của chính doanh nghiệp viễn thông đó và rộng hơn là sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường dịch vụ viễn thông.

Tìm hiểu về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông hiện nay cho thấy, bên cạnh việc thực hiện các hình thức khuyến mại đơn lẻ theo luật định, các doanh nghiệp viễn thông còn thực hiện việc kết hợp nhiều hình thức khuyến mại khác nhau nhằm tăng tính hấp dẫn và thu hút cho chương trình khuyến mại. Tuy nhiên, việc kết hợp các hình thức khuyến mại của doanh nghiệp viễn thông lại đang gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước, vì các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát được hết những vấn đề phát sinh trong quá trình các thương nhân thực hiện các chương trình khuyến mại. Trong trường hợp này, việc xác định hạn mức tối đa dùng để khuyến mại hoặc hạn mức giảm giá tối đa theo quy định của pháp luật còn thiếu cơ sở pháp lý để tính toán cụ thể. Vì nếu thương nhân thực hiện nhiều hình thức khuyến mại trong một chương trình khuyến mại, thì nhóm đối tượng khách hàng hướng đến của mỗi hình thức có thể khác nhau. Do đó, chỉ có thể tính chính xác giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại sau khi kết thúc đợt khuyến mại trên cơ sở xác định số thuê bao hòa mạng mới, số thẻ bán ra, thời gian cụ thể không thu cước mà khách hàng sử dụng trên thực tế. Với vướng mắc như vậy, thì việc tính tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại hay không thực sự không phải là điều đơn giản. Khi đó, vấn đề đặt ra là hạn mức giá trị vật chất tối đa dùng để khuyến mại sẽ được xác định trên cơ sở tổng hợp các hình thức hay xác định riêng cho từng hình thức khuyến mại, pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể.

Từ thực tiễn của hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động có thể khẳng định, đây là một trong những lĩnh vực có hình thức khuyến mại phong phú và đa dạng nhất. Không chỉ vận dụng những hình thức khuyến mại đã được pháp luật quy định, các thương nhân kinh doanh thông tin di động còn tạo ra các hình thức mới. Đây cũng là một việc làm phù hợp với pháp luật và mang tính tích cực trong hoạt động kinh doanh vì pháp luật Việt Nam quy định rõ thương nhân được phép làm những việc mà pháp luật không cấm. Chính vì thế, nếu như pháp luật giản lược hóa những quy định về hình thức, chỉ để lại những quy định mang tính chất khung như hạn mức khuyến mại, thời gian được phép khuyến mại... thì thương nhân sẽ phát huy được tính sáng tạo, đồng thời các cơ quan chức năng cũng dễ dàng phát hiện những sai phạm và kịp thời ngăn chặn.

Pháp luật đặt ra quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhằm góp phần hạn chế tình trạng khuyến mại tràn lan của các doanh nghiệp viễn thông. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc xác định hạn mức giá trị dùng để khuyến mại rất khó thực hiện, bởi nếu thương nhân tặng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền, thì hạn mức tổng giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị dịch vụ được khuyến mại. Trong khi đó, cả hai mức “tổng giá trị” này chỉ có thể được xác định sau khi kết thúc thời gian khuyến mại do đặc trưng của dịch vụ trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông là tiêu dùng ngay, vì vậy khi chưa hết thời gian khuyến mại, thì chỉ có thể ước tính giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại. Hơn nữa, quy định về hạn mức tổng giá trị của dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng viễn thông dùng để khuyến mại so với tổng giá trị của dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng được khuyến mại quy định tại khoản 10 Điều 5 Thông tư số 11 là một khái niệm rất trừu tượng.

Như vậy, có thể thấy, các quy định về hạn mức tối đa giá trị vật chất của một đơn vị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, hạn mức giảm giá tối đa... trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông rất khó xác định chính xác. Vì vậy, Nhà nước hoặc là nên bỏ đi các quy định về hạn mức, hoặc là sửa đổi phù hợp nếu tiếp tục sử dụng các quy định đó. Theo một số ý kiến, thì pháp luật nên bỏ quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại với lý do Luật Cạnh tranh năm 2004 đã tạo ra một hành lang pháp lý khá hoàn thiện để ngăn ngừa nguy cơ bán phá giá đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ. Hành vi này bị cấm thực hiện đối với doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, khi hoạt động khuyến mại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và không gây nguy hại hay đe dọa gây nguy hại cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, thì Nhà nước không cần phải quy định những rào cản hay khuôn phép quá chật hẹp. Nhà nước chỉ nên quy định cấm hoặc hạn chế đối với những hành vi của thương nhân khi hành vi đó có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của chủ thể khác. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật muốn tiếp tục đặt ra các giới hạn, hạn mức đối với các hình thức khuyến mại, thì cần phải quy định rõ trách nhiệm bắt buộc đối với thương nhân thực hiện khuyến mại trong việc thực hiện những báo cáo, giải trình liên quan tới giá trị hàng hóa, dịch vụ viễn thông dùng để khuyến mại, giá trị của hàng hóa, dịch vụ viễn thông được khuyến mại.

Các doanh nghiệp viễn thông không thực hiện các chương trình khuyến mại một cách công khai, minh bạch. Điển hình cho tình trạng này là trong thời gian gần đây, các thuê bao di động liên tục nhận được những tin nhắn mời tham gia các chương trình xổ số khuyến mại trúng tiền triệu của Mobiphone, Vinaphone, Vietnammobile... Những chương trình này đều có chung cách thức là khách hàng có cơ hội trúng thưởng một khoản tiền lớn qua hình thức quay thưởng khi tham gia chương trình. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là nội dung các tin nhắn vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt nhiều tin nhắn không thông báo cụ thể giá cước khiến nhiều khách hàng mất tiền oan. Điều này trái với những nguyên tắc thực hiện khuyến mại, đó là nguyên tắc trung thực, công khai, minh bạch, không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và nguyên tắc không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào[2].

2. Về bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông

Trong thời gian qua, sự cạnh tranh quyết liệt của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã nảy sinh xu hướng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này, đặc biệt là theo lộ trình cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì lĩnh vực viễn thông được mở cửa hội nhập từ cuối năm 2009. Đây là một cơ hội cho lĩnh vực viễn thông Việt Nam đạt được tầm cao mới nhưng cũng là thách thức và tạo ra các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và với thị trường viễn thông nói chung. Theo báo cáo về khảo sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), các doanh nghiệp đã đưa ra những thông tin phản hồi đánh giá các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường viễn thông, kết quả khảo sát và phỏng vấn trực tiếp cũng cho thấy: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến nhất trên thị trường viễn thông là khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh như bán phá giá dịch vụ, giảm giá cung ứng dịch vụ lớn hơn giới hạn mà pháp luật cho phép làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp...

Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, hành vi khuyến mại sẽ bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh là sự ganh đua giành các lợi ích kinh doanh. Do đó, cạnh tranh chỉ hình thành khi có đối thủ cạnh tranh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi gây hại cho đối thủ cạnh tranh; xâm hại quyền, lợi ích của người tiêu dùng. Xuất phát từ điều này, việc quy định các hành vi khuyến mại xâm hại lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng là chưa thực sự phù hợp.

Với những hạn chế như trên, thiết nghĩ chỉ cần quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại (trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực viễn thông) bao gồm những hành vi khuyến mại bị cấm do xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh và của người tiêu dùng là đủ, không cần quy định liệt kê “các hành vi khuyến mại bị cấm khác”.

Trong thời gian qua, lợi ích của người tiêu dùng chưa được các doanh nghiệp viễn thông thực sự quan tâm khi thực hiện các chương trình khuyến mại. Đã có một số chương trình khuyến mại có dấu hiệu vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, gây nhiều bức xúc cho người tiêu dùng. Ví dụ: Từ 28/6/2013 - 29/6/2013, Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) có tổ chức chương trình khuyến mại tặng 50% giá trị thẻ nạp cho thuê bao di động trả trước. Tuy nhiên, liên tục từ 22h đêm ngày 29/6/2013, rất nhiều khách hàng của Viettel không thể nạp thẻ cũng như không thể liên lạc được với tổng đài chăm sóc khách hàng của nhà mạng này. Tình trạng này xảy ra ở rất nhiều địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình... và nhiều khách hàng nạp một số tiền không nhỏ để hưởng khuyến mại nhưng cuối cùng lại không được hưởng quyền lợi chính đáng của mình[3].

Ngoài ra, còn rất nhiều các trường hợp khác. Điều đó chứng tỏ hiện nay, các doanh nghiệp viễn thông đôi khi chỉ khuyến mại nhằm cạnh tranh, lôi kéo khách hàng về phía mình mà không thực sự quan tâm tới chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng và quyền lợi của khách hàng. Đến khi khách hàng phản ánh với các cơ quan chức năng, thì các nhà mạng chỉ giải thích do nghẽn mạng, dung lượng tin nhắn không đủ diễn đạt hết ý của nhà cung cấp, có sự nhầm lẫn trong hệ thống hoặc thậm chí đẩy trách nhiệm sang phía khách hàng và cho rằng khách hàng không tìm hiểu kỹ thông tin khi tham dự chương trình. Điều này đã gây nên không ít bức xúc cho người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ viễn thông thời gian vừa qua.

Như vậy, mặc dù Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 và văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, nhưng trên thực tế, quyền lợi của người tiêu dùng vẫn chưa thực sự được đảm bảo và cho đến nay, người tiêu dùng vẫn phải tự bảo vệ mình. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về lĩnh vực này, cũng như có giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.

3. Về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định rất cụ thể và chi tiết, đảm bảo cho hoạt động khuyến mại được diễn ra trong khuôn khổ thống nhất dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định các điều kiện cần đáp ứng để thương nhân được sự xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyền của thương nhân khi bị từ chối xác nhận việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại. Thiếu sót này có thể biến thủ tục “đăng ký” thành thủ tục “xin phép” và dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, thiếu cơ sở của cơ quan công quyền khi thực hiện quyền hạn của mình và có khả năng làm cho quyền tự do hoạt động khuyến mại của thương nhân khó thực hiện một cách đầy đủ[4]. Những sai phạm chủ yếu trong việc triển khai chương trình khuyến mại dịch vụ viễn thông tập trung ở những hành vi như: Giảm giá cước trong chương trình khuyến mại lớn hơn 50% giá cước ngay trước thời điểm khuyến mại; không thực hiện đầy đủ việc thông báo hoặc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại theo quy định; thời gian triển khai của từng chương trình khuyến mại kéo dài quá thời gian quy định; tổng thời gian khuyến mại trong một năm vượt quá thời hạn quy định. Như vậy, mặc dù những vấn đề này đã được pháp luật điều chỉnh nhưng trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông vẫn mắc phải những sai phạm này. Theo báo cáo kết quả thanh tra trong 09 tháng đầu năm 2013, Bộ Thông tin và truyền thông đã tiến hành 03 cuộc thanh tra hành chính và 70 cuộc thanh tra chuyên ngành; trong đó đối với lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin, kết quả thanh tra cho thấy vẫn xảy ra tình trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông thực hiện các chương trình khuyến mại cước viễn thông không đúng quy định đặc biệt là tin nhắn rác, tin nhắn có nội dung lừa đảo, nội dung lôi kéo khách hàng đánh bạc, mê tín dị đoan. Khi phát hiện, thanh tra Bộ đã kịp thời chấn chỉnh các doanh nghiệp viễn thông, đồng thời xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với các trường hợp vi phạm. Đặc biệt, thanh tra Bộ còn kiến nghị thu hồi nhiều đầu số của doanh nghiệp có hành vi phát tán tin nhắn rác, tin nhắn có nội dung cổ suý, rủ rê, lôi kéo khách hàng đánh bạc trái phép, nội dung đồi trụy không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam[5].

Tình trạng các hành vi khuyến mại có dấu hiệu vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước lại thường không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp thường đưa ra những chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng quà với giá trị rất lớn, nhưng cơ quan nhà nước lại không thể kiểm soát được liệu các chương trình này có vi phạm các quy định về mức giảm giá tối đa của dịch vụ hay hạn mức tối đa của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại hay không? Bởi vì thực tiễn cho thấy, giá của một đơn vị dịch vụ viễn thông bao gồm rất nhiều loại chi phí phức tạp và chỉ có các doanh nghiệp viễn thông mới có thể tính tương đối chính xác những giá trị này.

Mặc dù hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và nhiều hành vi sai phạm trong hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được phát hiện, xử lý kịp thời nhưng thực tế cho thấy, hoạt động thanh tra, kiểm tra vẫn chưa thực sự hiệu quả vì có nhiều trường hợp doanh nghiệp viễn thông vi phạm pháp luật nhưng phải đợi đến khi các doanh nghiệp tố giác lẫn nhau thì lúc đó, thanh tra mới vào cuộc điều tra, xử lý. Còn rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông thực hiện hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trên thực tế nhưng đa phần những trường hợp này, việc xử lý vi phạm không được công khai trên các phương tiện truyền thông nên hiệu quả xử lý vi phạm nhằm mục đích răn đe, khuyến cáo các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông khác không đạt được hiệu quả như mong đợi.

Theo ý kiến của một đại diện Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và truyền thông thì hiện nay, còn nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông không nghiêm túc tuân thủ quy định về việc đăng ký, thông báo với cơ quan chức năng về các chương trình khuyến mại, do đó trên thị trường xuất hiện nhiều vi phạm pháp luật về khuyến mại làm ảnh hưởng tới các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông khác.

4. Kiến nghị

Như vậy, pháp luật về quản lý nhà nước về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và đòi hỏi cần được hoàn thiện hơn, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp như sau:

- Nhà nước cần quy định rõ trách nhiệm của thương nhân trong việc giải trình về giá của một đơn vị dịch vụ được khuyến mại, giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hoá, dịch vụ cũng như tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại, đặc biệt đối với hai hình thức khuyến mại phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông là giảm giá và tặng quà.

- Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật trong đó, xác định rõ các điều kiện cần đáp ứng để thương nhân có được sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như quy định rõ về quyền của thương nhân khi bị từ chối xác nhận việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, từ đó góp phẩn bảo đảm tốt hơn quyền tự do kinh doanh, quyền và các lợi ích hợp pháp khác của thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại nói chung, khuyến mại trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông nói riêng.

- Bộ Thông tin và Truyền thông cần giám sát chặt chẽ thị trường để đảm bảo sự ổn định, không để xảy ra tình trạng doanh nghiệp viễn thông này thấy doanh nghiệp viễn thông khác làm sai mà không bị xử lý thì cũng làm theo để đỡ mất thị phần. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần lưu ý hơn về việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký, thông báo.

ThS. Cao Thanh Huyền
ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
ThS. Lê Văn Đức
Trường Đại học Luật Hà Nội
Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lương Thị Hồng Nhung & Nguyễn Thị Hồng Nhung, Pháp luật điều chỉnh khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

[4]. Lương Thị Hồng Nhung & Nguyễn Thị Hồng Nhung, Pháp luật điều chỉnh khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: