Thứ năm 12/03/2026 12:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề rút khỏi, gia nhập hợp đồng hợp tác

Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

1. Rút khỏi hợp đồng hợp tác

Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Bộ luật Dân sự năm 2015 không thừa nhận tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nên kết quả của hợp đồng hợp tác cũng không làm hình thành một chủ thể độc lập. Đây cũng chính là lý do khiến vị trí của hợp đồng hợp tác được thay đổi. Cụ thể, trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 thì kết quả của hợp đồng hợp tác là hình thành chủ thể “tổ hợp tác” để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự nên các quy định về hợp đồng hợp tác được kết cấu tại phần các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, sự giao kết hợp đồng hợp tác chỉ thuần túy là việc xác lập hợp đồng nên các quy định về hợp đồng này được kết cấu trong Chương XVI. “Một số hợp đồng thông dụng”.

Đối với các hợp đồng khác, số lượng chủ thể của hợp đồng tương đối ổn định mà hầu như không có sự thay đổi từ lúc giao kết, thực hiện và đến giai đoạn chấm dứt hợp đồng. Ngược lại, số lượng chủ thể hợp đồng hợp tác lại thường xuyên có sự thay đổi do sự gia nhập của chủ thể mới hoặc sự rút khỏi hợp đồng hợp tác của chủ thể cũ. Do đó, số lượng chủ thể của hợp đồng hợp tác có thể tăng lên hoặc giảm đi so với số lượng các chủ thể giao kết ban đầu. Nhưng số lượng chủ thể của hợp đồng hợp tác luôn được duy trì tối thiểu là hai chủ thể để bảo đảm sự tồn tại của hợp đồng hợp tác. Pháp luật ghi nhận cũng như cho phép việc gia nhập hoặc rút khỏi hợp đồng hợp tác xuất phát từ chính mục đích của hợp đồng này là sự hợp tác của các bên chủ thể trên cơ sở đóng góp vốn, góp công sức để cùng nhau thực hiện công việc nhất định thu lợi nhuận và phân chia lợi nhuận đó. Với mục đích này, việc các chủ thể khác mặc dù không tham gia giao kết hợp đồng nhưng hoàn toàn có thể đóng góp tài sản hoặc công sức để gia nhập hợp đồng. Ngược lại, với các chủ thể của hợp đồng hợp tác, khi họ không có nhu cầu hợp tác với các chủ thể còn lại của hợp đồng thì họ có thể rút khỏi hợp đồng hợp tác và phần tài sản họ đã đóng góp được giải quyết theo quy định của pháp luật. Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận cho các chủ thể được rút khỏi hoặc gia nhập hợp đồng hợp tác nhưng những sự thay đổi này được tiến hành theo các quy định của pháp luật để tránh sự tùy tiện của các chủ thể; qua đó, bảo đảm sự ổn định của hợp đồng hợp tác trong một giới hạn nhất định.

Rút khỏi hợp đồng hợp tác là việc chủ thể không tiếp tục tham gia hợp đồng hợp tác với tư cách chủ thể của hợp đồng. Sau khi rút khỏi hợp đồng hợp tác, chủ thể đã rút khỏi hợp đồng không còn là thành viên của hợp đồng, mọi quyền lợi cũng như nghĩa vụ của họ trong hợp đồng hợp tác đều được chấm dứt.

Điều 510 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thành viên có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác trong hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất, theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác

Khi các chủ thể xác lập hợp đồng hợp tác thì họ có thể thỏa thuận luôn các điều kiện để một thành viên được quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác. Khi thực hiện hợp đồng hợp tác xảy ra các điều kiện mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thì thành viên hợp tác có quyền xin rút khỏi hợp đồng hợp tác. Các điều kiện mà các bên thường thỏa thuận để thành viên có thể rút khỏi hợp đồng hợp tác như:

- Vì lý do sức khỏe không thể tiếp tục thực hiện các công việc trong hợp đồng hợp tác. Điều kiện này thường được áp dụng đối với các thành viên có nghĩa vụ đóng góp công sức để thực hiện hợp đồng hợp tác;

- Vì lý do kết quả hợp tác thua lỗ;

- Vì lý do một thành viên hợp tác chuyển nơi cư trú. Điều kiện này thường được đặt ra khi việc tiến hành công việc hợp tác được xác định theo địa điểm nhất định;

- Các bên cũng có thể thỏa thuận về tỷ lệ đồng ý về việc cho rút khỏi hợp đồng hợp tác đối với thành viên có nguyện vọng xin rút...

Thứ hai, có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.

Trong trường hợp này, để rút khỏi hợp đồng hợp tác thì phải có đầy đủ hai điều kiện sau đây: (i) Bên xin rút có lý do chính đáng; (ii) Được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác. Số lượng hơn một nửa thành viên hợp tác phụ thuộc vào số lượng thành viên hợp tác trong từng trường hợp cụ thể. Ví dụ: Nếu số lượng thành viên hợp tác là 03 người thì khi một người muốn xin rút phải được sự đồng ý của 02 người; nếu số lượng thành viên hợp tác là 04 người thì khi một người muốn xin rút phải được sự đồng ý của 03 người; nếu số lượng thành viên hợp tác là 05 người thì khi một người muốn xin rút phải được sự đồng ý của 03 người...

Đây là hai điều kiện đồng thời và nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì thành viên xin rút sẽ không được phép rút khỏi hợp đồng hợp tác. Theo đánh giá của tác giả, quy định này còn tồn tại một số hạn chế sau đây:

Một, điều luật chỉ quy định chung chung “có lý do chính đáng” mà không có bất cứ giải thích như thế nào là có lý do chính đáng gây ra khó khăn và thiếu thống nhất trong việc áp dụng điều kiện này. Hơn thế nữa, để thừa nhận lý do thành viên xin rút đưa ra là chính đáng hay không phụ thuộc phần lớn vào sự đánh giá chủ quan của các thành viên còn lại của hợp đồng hợp tác. Vì vậy, theo tác giả cần phải bổ sung quy định giải thích như thế nào là “có lý do chính đáng”, theo đó, đây là những lý do liên quan đến sức khỏe, công việc, nơi ở... của thành viên hợp tác khiến họ không thể tiếp tục thực hiện được việc hợp tác với các thành viên hợp tác khác.

Hai, điều kiện được rút khỏi hợp đồng hợp tác là “được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác” không áp dụng được khi số lượng thành viên hợp đồng hợp tác chỉ có 02 chủ thể. Do đó, với trường hợp số lượng thành viên hợp tác chỉ có hai thành viên mà một chủ thể xin rút và được sự đồng ý của thành viên kia thì đương nhiên họ có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác và hậu quả tất yếu là chấm dứt hợp đồng hợp tác. Bộ luật Dân sự năm 2015 cần bổ sung thêm cho riêng trường hợp này.

Ba, điểm hạn chế lớn nhất của quy định này là đặt ra yêu cầu phải đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện: Bên xin rút có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác. Trên thực tế sẽ tồn tại nhiều trường hợp một người có lý do chính đáng không thể tiếp tục tham gia hợp đồng hợp tác nhưng lại không được hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác đồng ý cho rút thì họ cũng không thể rút được. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi cũng như cuộc sống của họ. Ví dụ: A đang tham gia hợp đồng hợp tác cùng với B và C, theo đó công việc hợp tác là A, B, C cùng đóng góp công sức để đóng gạch bán chung. Hợp đồng hợp tác kéo dài 05 năm. Khi thực hiện hợp đồng được 02 năm, A bị đột quỵ, tai biến nằm liệt giường. A đã xin rút khỏi hợp đồng hợp tác nhưng không được sự chấp thuận của B và C. Xét theo quy định của luật, trường hợp này A không được quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác. Điều này không phù hợp với thực tế tình trạng của A. Đặc biệt khi công việc hợp tác lại liên quan đến việc đóng góp công sức mà A lại không còn khả năng lao động. Do đó, theo ý kiến tác giả, quy định để rút khỏi hợp đồng hợp tác thì phải có đầy đủ hai điều kiện bên xin rút có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác là không phù hợp và cứng nhắc. Bởi vậy, chỉ cần có một trong hai điều kiện này thì thành viên của hợp đồng hợp tác có quyền rút khỏi hợp đồng.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thành viên chỉ được quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác theo một trong hai căn cứ trên. Nếu thành viên tự ý rút khỏi hợp đồng hợp tác không theo đúng các căn cứ do Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì việc rút khỏi hợp đồng của thành viên đó bị xác định là vi phạm hợp đồng và họ phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật khác có liên quan.

Khi thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác, họ có quyền và nghĩa vụ như sau:

- Về quyền của thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác: Họ được yêu cầu nhận lại tài sản đã đóng góp, được chia phần tài sản trong khối tài sản chung. Quy định thành viên hợp tác được nhận lại tài sản đã đóng góp gây ra cách hiểu sai là thành viên được quyền nhận lại tài sản bằng với tài sản họ đã đóng góp. Điều này chỉ đúng khi việc hợp tác có lãi, tạo ra lợi nhuận. Trong nhiều trường hợp việc hợp tác thua lỗ thì thành viên đã rút khỏi hợp đồng hợp tác không thể yêu cầu nhận lại toàn bộ số tài sản mà họ đã đóng góp khi giao kết hoặc khi gia nhập hợp đồng hợp tác. Bên cạnh đó, quy định này cũng chưa quy định triệt để việc xác định giá trị tài sản nhận lại theo đúng thời điểm góp vào hay theo giá tài sản tại thời điểm rút khỏi hợp đồng hợp tác. Ví dụ: 04 người bạn cùng góp tiền và vàng để hợp tác làm ăn chung. Tại thời điểm góp tài sản, anh M góp 15 cây vàng và số vàng này đã được bán để thực hiện công việc làm ăn chung. 03 năm sau, M xin rút khỏi hợp đồng hợp tác, trường hợp này M được nhận lại theo số tiền theo đúng thời điểm bán vàng hay được nhận lại số tiền tính theo giá trị 15 cây vàng tại thời điểm rút khỏi hợp đồng hợp tác. Qua phân tích cũng như ví dụ minh họa đưa ra, tác giả cho rằng để tránh các tranh chấp phát sinh trên thực tế cũng như hạn chế việc giải quyết không thống nhất giữa các Tòa án, Bộ luật Dân sự năm 2015 nên quy định triệt để và chặt chẽ vấn đề này. Theo đó, giá trị tài sản mà thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác được nhận lại cần được xác định theo giá trị tại thời điểm họ rút khỏi hợp đồng hợp tác bởi lẽ giá trị của tài sản có sự thay đổi theo thời gian nên không thể tính theo thời điểm góp tài sản để trả lại cho thành viên rút khỏi hợp đồng, như vậy sẽ gây bất lợi cho thành viên đó. Hơn thế nữa, nhiều hợp đồng hợp tác có thời gian kéo dài lên tới vài chục năm thì việc xác định giá trị tài sản để hoàn trả cho người rút khỏi hợp đồng theo giá tại thời điểm đóng góp sẽ bất hợp lý. Ngoài ra, trường hợp việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác thì tài sản được tính giá trị thành tiền để chia.

- Về nghĩa vụ của thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác: Họ phải thanh toán các nghĩa vụ theo thỏa thuận. Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người này được xác lập, thực hiện trước thời điểm rút khỏi hợp đồng hợp tác.

2. Gia nhập hợp đồng hợp tác

Ngược lại với quá trình rút khỏi hợp đồng hợp tác là việc gia nhập hợp đồng. Nếu như rút khỏi hợp đồng hợp tác là căn cứ chấm dứt tư cách chủ thể hợp đồng của bên rút khỏi thì gia nhập hợp đồng hợp tác là căn cứ để xác lập tư cách chủ thể hợp đồng của chủ thể đã gia nhập. Điều 511 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề gia nhập hợp đồng hợp tác như sau: “Trường hợp hợp đồng hợp tác không quy định khác thì một cá nhân, pháp nhân trở thành thành viên mới của hợp đồng nếu được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác”. Theo quy định này, việc gia nhập hợp đồng hợp tác dựa trên hai căn cứ sau đây:

Một là, việc gia nhập hợp đồng hợp tác được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hợp tác. Các chủ thể ký kết hợp đồng hợp tác được đặt ra các điều kiện để một người được gia nhập vào hợp đồng cũng như quy định tỷ lệ thành viên đồng ý để một chủ thể có thể được gia nhập hợp đồng. Trong hợp đồng hợp tác có thể có điều khoản để xác định điều kiện gia nhập hợp đồng hợp tác như điều kiện về việc đóng góp tài sản, công sức; điều kiện về độ tuổi; điều kiện về nghề nghiệp; điều kiện về giới tính; điều kiện về nơi cư trú, công việc… của người gia nhập. Các điều kiện này được đặt ra theo tính chất công việc của hợp đồng hợp tác. Ví dụ như 03 người bạn cùng ký kết hợp đồng hợp tác để mở salon tóc. Họ cùng đóng góp tài sản và công sức để mở salon và trực tiếp thực hiện công việc. Trong hợp đồng hợp tác quy định điều kiện gia nhập như về độ tuổi dưới 35 tuổi; có tay nghề và chứng chỉ liên quan đến hoạt động làm tóc…

Hai là, trường hợp các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác thì một cá nhân, pháp nhân trở thành thành viên mới của hợp đồng nếu được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác. Theo quan điểm của tác giả, quy định này không phù hợp bởi vì sự thỏa thuận hợp tác giữa các bên chính là hợp đồng mà theo nguyên tắc chung của hợp đồng, các nội dung của hợp đồng được thống nhất trên cơ sở của các bên chủ thể. Trong khi đó, việc một chủ thể xin gia nhập hợp đồng hợp tác có tác động lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ các thành viên hợp tác. Do đó, quan điểm của tác giả cho rằng, nếu một chủ thể muốn xin gia nhập hợp đồng hợp tác mà trong hợp đồng hợp tác các thành viên của hợp đồng chưa dự liệu, ghi nhận vấn đề này thì cần phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên của hợp đồng hợp tác. Quy định này vừa thể hiện đúng bản chất thể hiện ý chí của các bên chủ thể trong hợp đồng và đồng thời bảo đảm quyền của tất cả các thành viên trong hợp đồng hợp tác.

Khi một chủ thể được gia nhập hợp đồng hợp tác theo một trong hai căn cứ trên, họ được công nhận là thành viên của hợp đồng và có các quyền cũng như nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hợp tác./.

TS. Lê Thị Giang
Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: