Thứ sáu 13/03/2026 02:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Cùng với chủ trương xã hội hóa một số lĩnh vực quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh. Hoạt động trợ giúp pháp lý, về bản chất, là một loại hình dịch vụ xã hội. Bài viết sau đây khái quát và đánh giá về thực trạng xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: Along with the policy of socializing some areas of state management, orientation of socialization of legal aid has been more and more paid attention to and strengthened. Legal aid is naturally a social service form. This article makes a general assessment on the current real situation of socializing legal aid in Vietnam.

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp và được coi là sự thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân khi họ thuộc các trường hợp đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ. Nhà nước đóng vai trò quản lý, điều phối nguồn nhân lực và tài chính bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả, đồng thời hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không để người dân đói nghèo về pháp luật.

Trợ giúp pháp lý với tính chất là một dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, ngay từ đầu những năm 2000 đã được xác định là một trong những hoạt động cần được phát triển theo hướng xã hội hóa. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đều khẳng định phải đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách theo hướng xã hội hóa. Chủ trương xã hội hóa trợ giúp pháp lý đã được thể chế hóa trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 ban hành theo Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ cũng khẳng định nhất quán đường lối “phát triển trợ giúp pháp lý ổn định, bền vững, cung ứng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, đầy đủ, có chất lượng cho người dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý trên cơ sở phát huy vai trò nòng cốt trong tổ chức thực hiện của Nhà nước, huy động triệt để sự tham gia của các nguồn lực xã hội, sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi có vướng mắc pháp luật, bảo vệ công lý, công bằng xã hội, tăng hiệu quả thực thi công vụ và ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống”. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam cho thấy, công tác xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý vẫn còn chậm, việc huy động các nguồn lực con người và nguồn lực tài chính chưa hiệu quả. Trong khi hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế, số lượng và chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý còn khoảng cách xa so với yêu cầu thực tiễn.

Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 cũng như Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 cho thấy, mới chỉ có một phần khá nhỏ các nguồn lực xã hội được huy động cho công tác trợ giúp pháp lý [1]. Các tổ chức đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý theo chủ trương xã hội hóa còn ít, chưa có chính sách phù hợp để thu hút được các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật có uy tín và kinh nghiệm tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý, chưa gắn kết được quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý với quyền lợi và trách nhiệm của các cá nhân thuộc những tổ chức đó khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức. Sau 09 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, số lượng luật sư - cộng tác viên tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý mới chỉ chiếm khoảng 1/10 tổng số luật sư trong cả nước (tính đến tháng 6/2015 là 1.239 người, phân bổ không đồng đều giữa các địa phương). Nhiều luật sư - cộng tác viên trợ giúp pháp lý mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm, năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế. Kinh phí cấp cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu từ ngân sách địa phương, không đồng đều giữa các địa phương và không ổn định trong các năm; các dự án hợp tác quốc tế, nhất là nguồn ODA hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý từ năm 2010 hầu như đã không còn. Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam được thành lập trong nhiều năm qua nhưng nguồn thu hầu như không có do Nhà nước chưa có chính sách huy động tài trợ từ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước một cách phù hợp.

Chính vì vậy, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 đã xác định: “Đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa với lộ trình phù hợp với đặc thù từng vùng, miền, khu vực” với nhiều giải pháp mạnh mẽ, có tính chiến lược nhằm thu hút hiệu quả các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật có uy tín trong các lĩnh vực, các cá nhân luật sư, luật gia có kinh nghiệm tham gia cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, chất lượng tương đương với dịch vụ mà luật sư cung cấp trên thị trường.

1. Về các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý

Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, trong đó, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý chính là lực lượng được huy động từ xã hội để thực hiện trợ giúp pháp lý theo 02 phương thức: Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 còn quy định hình thức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý giữa các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp - cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương. Quy định về ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục một số bất cập trong thực tiễn thu hút nguồn lực xã hội. Bằng cơ chế ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý, sẽ hạn chế tối đa hiện tượng các tổ chức chỉ đăng ký tham gia nhưng không thực hiện trợ giúp pháp lý; đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích của các cá nhân thành viên - luật sư, tư vấn viên pháp lý về việc làm (thực hiện vụ, việc trợ giúp pháp lý) và về thu nhập từ hưởng thù lao theo vụ, việc cụ thể với lợi ích của tổ chức (thu nhập từ việc thực hiện đúng hợp đồng, thực hiện được trách nhiệm xã hội, nâng cao uy tín nghề nghiệp của tổ chức). Ngoài ra, việc ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước có thể huy động được các tổ chức hành nghề luật sư hay Trung tâm tư vấn pháp luật lớn có năng lực và điều kiện để thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý khó, phức tạp. Để tạo điều kiện cho các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, đặc biệt là các Trung tâm tư vấn pháp luật chưa đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có thể tiếp tục cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, khoản 2 Điều 48 quy định chuyển tiếp của Luật này cho phép các tổ chức trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành, phải đáp ứng các điều kiện theo quy định trên cơ sở kiện toàn tổ chức, nhân sự.

2. Về các cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, ngoài trợ giúp viên pháp lý của Nhà nước, người thực hiện trợ giúp pháp lý được huy động từ xã hội gồm có: Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Với luật sư, được thực hiện trợ giúp pháp lý theo 02 phương thức: (i) Trực tiếp ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý và (ii) Thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý (hoặc tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, hoặc tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp).

Với tư vấn viên pháp luật, họ phải có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Việc quy định điều kiện này là cần thiết nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng tư vấn pháp luật trong các vụ, việc trợ giúp pháp lý.

Với cộng tác viên trợ giúp pháp lý, chỉ những người đã nghỉ hưu có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý và trước khi về hưu đã là trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên, kiểm tra viên, điều tra viên, chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước. Ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện thực tế tại địa phương, Giám đốc Sở Tư pháp theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý và chỉ thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật tại địa phương. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý sẽ bị thu hồi thẻ cộng tác viên nếu không thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan.

Để hỗ trợ người được trợ giúp pháp lý có đầy đủ thông tin và dễ dàng tiếp cận, lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý, nhất là những người được huy động từ xã hội, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định trách nhiệm của Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên Trang Thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Đây là giải pháp góp phần đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng và cạnh tranh bình đẳng giữa những người thực hiện trợ giúp pháp lý.

3. Về huy động nguồn tài chính từ xã hội cho công tác trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 xác định nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Bên cạnh đó, cũng khuyến khích các tổ chức, luật sư, cá nhân khác tự nguyện thực hiện trợ giúp pháp lý theo nguyên tắc “kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý của tổ chức tự nguyện thực hiện do tổ chức đó tự bảo đảm”... Nhà nước ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý dưới mọi hình thức, thông qua đó, khẳng định sự ủng hộ và thừa nhận của Nhà nước và xã hội về trách nhiệm xã hội và những đóng góp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sự phát triển xã hội, do đó, uy tín nghề nghiệp của tổ chức, cá nhân được nâng cao.

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng giao cho Bộ Tư pháp trách nhiệm “tiếp nhận hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân cho công tác trợ giúp pháp lý”, đồng thời, là cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, giúp Chính phủ thực hiện công tác khen thưởng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, trong đó có việc vinh danh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho công tác trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp cũng trực tiếp thực hiện công tác hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý, thông qua đó tìm kiếm các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho hoạt động trợ giúp pháp lý, kể cả việc lồng ghép hỗ trợ tài chính cho trợ giúp pháp lý trong các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo bền vững tại Việt Nam.

Có thể nói, trợ giúp pháp lý là một chính sách lớn, có tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (đặc biệt là những người nghèo, người yếu thế trong xã hội), góp phần vào việc nâng cao nhận thức về pháp luật cho người dân, từ đó có những hành vi ứng xử đúng pháp luật. Đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí thường là người nghèo, người có công với cách mạng và những người yếu thế trong xã hội như: Người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số. Với nhiều hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp khác, ngày càng có nhiều người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn... được thụ hưởng quyền tiếp cận các dịch vụ pháp lý.

Xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý là một chủ trương lớn của Đảng đã được nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm thu hút các nguồn lực xã hội, sự tham gia của tổ chức, cá nhân chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước trong công tác trợ giúp pháp lý, tăng thêm cơ hội, khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân, giảm bớt gánh nặng công việc lên các cơ quan nhà nước. Bởi vậy, nên khuyến khích các tổ chức luật sư tham gia tự nguyện hỗ trợ pháp lý cho người dân, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Điều này một mặt tận dụng được trí tuệ, trình độ, nguồn lực trong xã hội; mặt khác, sẽ góp phần làm giảm gánh nặng cho Nhà nước về biên chế, ngân sách và các chi phí hành chính khác./.

Nguyễn Việt Khoa

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh



[1]. Đến tháng 6/2015 trên toàn quốc có 56/203 Công ty luật, 226/806 Văn phòng luật sư, 82/124 Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, nhưng thực tế chỉ có một phần rất nhỏ, hầu như không đáng kể các tổ chức này có nhận việc và thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách tổ chức.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: