Thứ năm 15/01/2026 06:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại

Ngày 02/8/2013, Ban chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đã tổ chức Hội nghị Triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và Quyết định số 510/QĐ-TTG ngày 25/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”.

Ngày 02/8/2013, Ban chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đã tổ chức Hội nghị Triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và Quyết định số 510/QĐ-TTG ngày 25/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường - Trưởng Ban Chỉ đạo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đức Chính - Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo và đại diện một số cơ quan, ban, ngành, địa phương có liên quan.

Ở nước ta, chế định Thừa phát lại đã từng tồn tại từ thời Pháp thuộc. Trải qua một khoảng thời gian dài, đến nay chế định này mới được áp dụng lại và đang trong giai đoạn thí điểm. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó quy định việc thí điểm chế định Thừa phát lại. Bộ Tư pháp đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua tổng kết cho thấy hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả khả quan, được xã hội, người dân đón nhận tích cực. Từ kết quả này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, theo đó, xác định giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 đến hết ngày 31/12/2015 và tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2015. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013 phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”. Để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan thống nhất lựa chọn 13 địa phương (kể cả thành phố Hồ Chí Minh) để mở rộng thí điểm chế định Thừa phát lại.

Hội nghị đã ghi nhận sự thành công bước đầu của công tác thí điểm, trao đổi về những kinh nghiệm, thuận lợi, khó khăn và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế định Thừa phát lại.

1. Về khó khăn, vướng mắc

Chế định Thừa phát lại là chế định mới nên không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc nảy sinh như:

- Về nhận thức: Nhiều cơ quan, tổ chức chưa nhận thức rõ ràng, đầy đủ và thiếu sự thống nhất về Thừa phát lại, nên họ chưa có sự phối hợp tốt trong quá trình thực hiện. Nhiều người dân vẫn còn xa lạ với loại hình dịch vụ này, chưa tin tưởng đối với một số việc do Thừa phát lại thực hiện. Có đại biểu còn đề nghị cần phải xác định rõ Thừa phát lại có phải là hoạt động kinh doanh hay là hoạt động gì?

- Về tổ chức nhân sự: Biên chế thực hiện công tác Thừa phát lại còn thiếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều…

- Văn bản pháp luật hướng dẫn, chỉ đạo, quy định về Thừa phát lại chưa được hoàn thiện, có những quy định còn thiếu hay còn mâu thuẫn, chưa thống nhất: Chưa có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên trong việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức; chưa quy định về kiểm sát lập vi bằng; chưa quy định phạm vi công việc Thừa phát lại; chưa phân biệt tách bạch Thừa phát lại với các hoạt động bổ trợ tư pháp khác (công chứng, luật sư, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp, tư vấn pháp luật…); còn có sự mẫu thuẫn với pháp luật về thuế, nhà đất, tín dụng, đăng ký tài sản…

2. Về đề xuất, kiến nghị

Từ những kinh nghiệm qua việc triển khai thí điểm thời gian qua và để khắc phục những khó khăn, vướng mắc, các đại biểu cũng đã nêu lên những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác Thừa phát lại.

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện chủ trương thí điểm chế định Thừa phát lại.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền.

Thứ ba, chú trọng đến công tác phối hợp, cần xây dựng quy chế phối hợp giữa các ban, ngành, cơ quan, tổ chức.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại: Bổ sung những quy định còn thiếu, khắc phục những mâu thuẫn, trong đó cần sửa đổi ngay Nghị định số 61/2009/NĐ-CP vì Nghị định này chỉ áp dụng riêng cho thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ năm, cần quan tâm đúng mức đến công tác tuyển chọn vì Thừa phát lại là một chức danh tư pháp do Nhà nước bổ nhiệm, nhân danh và được sử dụng quyền lực trong lĩnh vực tư pháp; cần bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm công tác này.

Đặc biệt, đại diện của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nhấn mạnh đề xuất các địa phương trong quá trình thực hiện khi có vướng mắc phải báo cáo ngay để việc kiểm sát được thực hiện từ đầu và có phương án giải quyết ngay, tránh tình trạng vi phạm rồi rất khó xử lý.

Kết luận tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường – Trưởng Ban chỉ đạo – đã nêu rõ: Thừa phát lại là một giải pháp đúng đắn trong cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Thừa phát lại cũng là một trong nhiều lĩnh vực tư pháp đã được Chủ tịch nước hoan nghênh là điểm sáng của ngành Tư pháp giúp người dân tiếp cận dịch vụ bình đẳng, an toàn. Thí điểm Thừa phát lại là tiền đề quan trọng và chúng ta có quyền tin tưởng rằng, việc thí điểm nhất định sẽ thành công, nghề Thừa phát lại sẽ khẳng định được vị trí, vai trò là người bạn đồng hành, hỗ trợ hữu ích cho các cơ quan tư pháp và mọi người dân, tổ chức trong nền tư pháp dân chủ, vì dân. Mặc dù phải thừa nhận một số việc thực hiện còn chậm hoặc rất chậm mà nguyên nhân một phần là do lúng túng về quy trình, thủ tục, một phần do phối kết hợp giữa các ngành với trung ương, địa phương nhưng quan trong là chúng ta đã rút ra được kinh nghiệm cần thiết. Bộ trưởng đã nêu ra những công việc cần phải thực hiện:

Một là, cần phê duyệt triển khai đề án phù hợp với trách nhiệm được giao, khi triển khai cần quan tâm đến sự phối kết hợp chặt chẽ. Địa phương cần khẩn trương hoàn thiện đề án theo đúng yêu cầu, đây là trách nhiệm thuộc giám đốc sở tư pháp và cục trưởng cục thi hành án.

Hai là, cần soạn thảo văn bản pháp luật để hoàn thiện pháp luật về chế định Thừa phát lại. Ban hành các thông tư liên tịch nhằm sửa đổi Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Bộ trưởng nhấn mạnh Hội nghị cần thống nhất hai nhận thức:

- Thừa phát lại là công lại (giống công chứng viên) do Nhà nước bổ nhiệm (không phải là doanh nhân) để thực hiện dịch vụ công. Văn phòng Thừa phát lại tuy được thành lập dựa trên mô hình doanh nghiệp nhưng không phải là doanh nghiệp, không thể thành lập rồi lại giải thể được. Do đó, cần rất chặt chẽ khi bổ nhiệm Thừa phát lại.

- Thời điểm tổng kết báo cáo Quốc hội vào tháng 10/2015 nhưng không phải Văn phòng Thừa phát lại thành lập ra đến năm 2015 mà chấm dứt. Tháng 10/2015 có thể sẽ được xem xét bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có một luật về Thừa phát lại.

Ba là, cần hoàn tất thủ tục bổ nhiệm Thừa phát lại, chậm nhất trong tháng 9/2013, các địa phương phải thực hiện hoàn tất thủ tục để Văn phòng Thừa phát lại đi vào hoạt động trong tháng 10/2013.

Bốn là, đề nghị các bộ, ngành, địa phương thực hiện thí điểm Thừa phát lại trong ngành, địa phương mình.

Ngô Huyền

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: