Thứ tư 26/08/2026 18:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi - Một số bất cập và hướng hoàn thiện

Bài viết phân tích những tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự đối với “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi”, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn.


1. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự và những tồn tại, hạn chế

1.1. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi

Người dưới 16 tuổi (hay còn gọi là trẻ em) là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Bảo vệ người dưới 16 tuổi là trách nhiệm của toàn xã hội nhằm bảo vệ tương lai của đất nước. Để góp phần bảo vệ người dưới 16 tuổi, trong đó có bảo vệ người dưới 16 tuổi trong lĩnh vực lao động, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi (tại Điều 296 Mục 3 Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng). Đối với tội phạm này, bị hại là người lao động dưới 16 tuổi, người phạm tội có hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định. Người vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

So với Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 - “tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em”, Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 - “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi” có những điểm được sửa đổi là:

(i) Thay đổi về thuật ngữ “lao động trẻ em” thành “người lao động dưới 16 tuổi”; “phạm tội nhiều lần” được sửa đổi thành “phạm tội 02 lần trở lên”. Việc thay đổi về thuật ngữ pháp lý phù hợp với quy định tại các điều luật khác của Bộ luật Hình sự năm 2015, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng;

(ii) Khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là một trong các điều kiện truy cứu TNHS quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm. Cùng với đó, tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng” (khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999) được khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;” - điểm b; hoặc “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%” - điểm c.

(iii) Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ tình tiết “đối với nhiều trẻ em” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999, tình tiết định tính “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” (điểm c khoản 2 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999) được định lượng cụ thể và quy định thành 02 khoản khác nhau. Trong đó, gây hậu quả rất nghiêm trọng được khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành: “Làm chết người” - điểm b; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” - điểm c; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%” - điểm d. Tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành: “Làm chết 02 người trở lên” - điểm a; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên” - điểm b.

(iv) Về hình phạt, đối với hình phạt chính, khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nâng mức phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng lên 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng; nâng mức phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm lên 03 năm; nâng mức phạt tù có thời hạn từ 03 tháng đến 02 năm lên 06 tháng đến 03 năm. Cùng với đó, khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 nâng mức thấp nhất của hình phạt tù có thời hạn từ 02 năm lên 03 năm, khoản 3 Điều 296 quy định hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm áp dụng đối với người phạm tội trong khi Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định.

Đối với hình phạt bổ sung, khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, trong khi khoản 3 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tiền thấp hơn (từ 02 triệu đồng đến 20 triệu đồng). Cùng với đó, khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, trong khi khoản 3 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt bổ sung này.

1.2. Những tồn tại, hạn chế

Mặc dù có những điểm tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, tuy nhiên, từ thực tiễn xử lý tội phạm cho thấy, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi” còn có những tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là, về độ tuổi của bị hại là người lao động dưới 16 tuổi. Hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực lao động và gây thiệt hại cho người lao động tùy theo tính chất, mức độ và độ tuổi của người lao động sẽ bị truy cứu TNHS, xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi, không truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 trở lên, trong đó, có người lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Chúng tôi cho rằng, Bộ luật Hình sự năm 2015 không truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là thiếu sót. Bởi lẽ, người lao động dưới 18 tuổi, hay còn gọi là lao động chưa thành niên[1] là đối tượng bảo vệ đặc biệt của Nhà nước trong lĩnh vực lao động. Một trong những nguyên tắc của sử dụng người lao động dưới 18 tuổi quy định tại khoản 1 Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2019 là người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động “chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách”. Bộ luật Lao động cũng quy định thời gian làm việc tối đa, công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động dưới 18 tuổi[2]. Do vậy, việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không truy cứu TNHS đối với người vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là thiếu sót do không tương thích với quy định của Bộ luật Lao động, gián tiếp không bảo vệ người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng chia người lao động dưới 18 tuổi thành các nhóm tuổi khác nhau (dưới 13 tuổi, từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi, từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi) và quy định cụ thể những công việc cấm sử dụng lao động trong từng độ tuổi. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn thiếu sót khi không chia độ tuổi của người lao động thành các nhóm: Dưới 13 tuổi, từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi trong cấu thành tội phạm để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động.

Hai là, về cấu thành tội phạm tăng nặng. Nghiên cứu thiệt hại là điều kiện truy cứu TNHS về tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi trong cấu thành tăng nặng (khoản 2, khoản 3) thấy rằng, thiệt hại là điều kiện truy cứu TNHS được xác định là thiệt hại về tính mạng (điểm b khoản 2, điểm a khoản 3) hoặc thiệt hại về sức khỏe (điểm c, điểm d khoản 2; điểm b khoản 3). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội chỉ cần gây hậu quả thuộc 01 trong 02 dạng thiệt hại (hoặc tính mạng, hoặc sức khỏe) sẽ bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm tăng nặng, không cần gây đồng thời cả 02 dạng thiệt hại. Điều này dẫn đến thực trạng là hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi gây thiệt hại lớn hơn bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm nhẹ hơn, gây thiệt hại nhỏ hơn nhưng bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm nặng hơn.

Ví dụ 1: A có hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi. A gây thiệt hại cho 03 người: Người thứ nhất chết, người thứ hai bị tổn thương cơ thể 50%, người thứ ba bị tổn thương cơ thể 60%. Hành vi của A thỏa mãn đồng thời quy định “làm chết người” - điểm b và “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%” - điểm d khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, A bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 296 với mức phạt tù có thời hạn từ 03 năm đến 07 năm.

Ví dụ 2: B có hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động là người dưới 16 tuổi. B gây thiệt hại cho 03 người: Người thứ nhất bị tổn thương cơ thể 40%, người thứ hai bị tổn thương cơ thể 50%, người thứ ba bị tổn thương cơ thể 60%. Hành vi của B thỏa mãn quy định “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên” - điểm b khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, B bị truy cứu TNHS theo khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự với mức phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến 12 năm.

So sánh thiệt hại do A và B thấy rằng, rõ ràng A gây thiệt hại lớn hơn B nhưng chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 2, trong khi đó, B gây thiệt hại nhỏ hơn A nhưng bị truy cứu TNHS theo khoản 3. Đây là điểm bất hợp lý trong cấu thành tội phạm tăng nặng của tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, về hình phạt. Nghiên cứu về hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 thấy rằng, xét trong mối tương quan với các tội phạm vi phạm quy định được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý (tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người - Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015; tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng - Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015) cùng thuộc Mục 3 Chương XXI thì hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 296 chưa phù hợp, trong khi đối tượng bảo vệ của tội phạm này là người lao động dưới 16 tuổi - người cần quan tâm bảo vệ đặc biệt. Có thể so sánh với tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người (Điều 295) như sau: Khoản 1 Điều 295 quy định “phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” thì khoản 1 Điều 296 quy định “phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”, như vậy, mức phạt tiền ở khoản 1 Điều 296 cao hơn mức phạt tiền ở khoản 1 Điều 295. Tuy nhiên, hình phạt tù có thời hạn ở khoản 1 Điều 296 là “từ 06 tháng đến 03 năm” thấp hơn mức phạt tù có thời hạn “từ 01 năm đến 05 năm” ở khoản 1 Điều 295. Trong khi đó, hình phạt quy định ở khoản 2 và khoản 3 Điều 295 (từ 03 năm đến 07 năm, từ 06 năm đến 12 năm) về cơ bản như hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 (từ 03 năm đến 07 năm, từ 05 năm đến 12 năm). Mặc dù các tội phạm khác nhau thì hình phạt có thể khác nhau, tuy nhiên, quy định hình phạt tù có thời hạn như trong khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự là nhẹ và chưa hợp lý, tạo nên sự không tương thích, vô hình trung làm giảm hiệu quả phòng ngừa, răn đe đối với các hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi. Cùng với đó, mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội quy định tại khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thấp, chưa phù hợp và tương xứng với thiệt hại do người phạm tội gây ra cho xã hội, trong khi đó người lao động dưới 16 tuổi phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại và nhiều trường hợp người phạm tội thu được lợi nhuận rất lớn từ việc sử dụng người lao động dưới 16 tuổi.

2. Một số kiến nghị

Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, chúng tôi kiến nghị một số nội dung nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động là người dưới 16 tuổi như sau:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi bị hại của tội phạm là “người lao động dưới 16 tuổi” thành “người lao động dưới 18 tuổi”, khi đó Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 trở thành “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 18 tuổi”. Cùng với đó, bổ sung thêm tình tiết “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi” là tình tiết định khung tăng nặng TNHS quy định tại điểm đ khoản 2, bổ sung thêm tình tiết “đối với người dưới 13 tuổi” là tình tiết định khung tăng nặng TNHS quy định tại điểm c khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Có như vậy mới đánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm và truy cứu TNHS đầy đủ, chính xác đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động trong từng độ tuổi khác nhau.

Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng: quy định đồng thời thiệt hại về tính mạng và sức khỏe là điều kiện truy cứu TNHS trong cấu thành tội phạm tăng nặng. Khi đó, khoản 3 được sửa đổi thành (phần in nghiêng đậm):

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên hoặc làm chết 01 người nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

Thứ ba, trong thời gian tới, xem xét sửa đổi hình phạt tù có thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 296 theo hướng tương thích với các tội phạm vi phạm quy định được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý trong Mục 3 Chương XXI của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cùng với đó, cần nâng mức tiền phạt là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội quy định tại khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015.

ThS. Nguyễn Văn Tùng & ThS. Bùi Công Thắng
Học viện Cảnh sát nhân dân



[1]. Xem: Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Xem: Điều 145, 146, 147 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: