Thứ năm 15/01/2026 05:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi - Một số bất cập và hướng hoàn thiện

Bài viết phân tích những tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự đối với “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi”, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn.


1. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự và những tồn tại, hạn chế

1.1. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi

Người dưới 16 tuổi (hay còn gọi là trẻ em) là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Bảo vệ người dưới 16 tuổi là trách nhiệm của toàn xã hội nhằm bảo vệ tương lai của đất nước. Để góp phần bảo vệ người dưới 16 tuổi, trong đó có bảo vệ người dưới 16 tuổi trong lĩnh vực lao động, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi (tại Điều 296 Mục 3 Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng). Đối với tội phạm này, bị hại là người lao động dưới 16 tuổi, người phạm tội có hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định. Người vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

So với Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 - “tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em”, Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 - “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi” có những điểm được sửa đổi là:

(i) Thay đổi về thuật ngữ “lao động trẻ em” thành “người lao động dưới 16 tuổi”; “phạm tội nhiều lần” được sửa đổi thành “phạm tội 02 lần trở lên”. Việc thay đổi về thuật ngữ pháp lý phù hợp với quy định tại các điều luật khác của Bộ luật Hình sự năm 2015, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng;

(ii) Khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là một trong các điều kiện truy cứu TNHS quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm. Cùng với đó, tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng” (khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999) được khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;” - điểm b; hoặc “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%” - điểm c.

(iii) Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ tình tiết “đối với nhiều trẻ em” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999, tình tiết định tính “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” (điểm c khoản 2 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999) được định lượng cụ thể và quy định thành 02 khoản khác nhau. Trong đó, gây hậu quả rất nghiêm trọng được khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành: “Làm chết người” - điểm b; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” - điểm c; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%” - điểm d. Tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 định lượng thành: “Làm chết 02 người trở lên” - điểm a; hoặc “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên” - điểm b.

(iv) Về hình phạt, đối với hình phạt chính, khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nâng mức phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng lên 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng; nâng mức phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm lên 03 năm; nâng mức phạt tù có thời hạn từ 03 tháng đến 02 năm lên 06 tháng đến 03 năm. Cùng với đó, khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 nâng mức thấp nhất của hình phạt tù có thời hạn từ 02 năm lên 03 năm, khoản 3 Điều 296 quy định hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm áp dụng đối với người phạm tội trong khi Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định.

Đối với hình phạt bổ sung, khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, trong khi khoản 3 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tiền thấp hơn (từ 02 triệu đồng đến 20 triệu đồng). Cùng với đó, khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, trong khi khoản 3 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt bổ sung này.

1.2. Những tồn tại, hạn chế

Mặc dù có những điểm tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, tuy nhiên, từ thực tiễn xử lý tội phạm cho thấy, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi” còn có những tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là, về độ tuổi của bị hại là người lao động dưới 16 tuổi. Hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực lao động và gây thiệt hại cho người lao động tùy theo tính chất, mức độ và độ tuổi của người lao động sẽ bị truy cứu TNHS, xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi, không truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 trở lên, trong đó, có người lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Chúng tôi cho rằng, Bộ luật Hình sự năm 2015 không truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là thiếu sót. Bởi lẽ, người lao động dưới 18 tuổi, hay còn gọi là lao động chưa thành niên[1] là đối tượng bảo vệ đặc biệt của Nhà nước trong lĩnh vực lao động. Một trong những nguyên tắc của sử dụng người lao động dưới 18 tuổi quy định tại khoản 1 Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2019 là người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động “chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách”. Bộ luật Lao động cũng quy định thời gian làm việc tối đa, công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động dưới 18 tuổi[2]. Do vậy, việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không truy cứu TNHS đối với người vi phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là thiếu sót do không tương thích với quy định của Bộ luật Lao động, gián tiếp không bảo vệ người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng chia người lao động dưới 18 tuổi thành các nhóm tuổi khác nhau (dưới 13 tuổi, từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi, từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi) và quy định cụ thể những công việc cấm sử dụng lao động trong từng độ tuổi. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn thiếu sót khi không chia độ tuổi của người lao động thành các nhóm: Dưới 13 tuổi, từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi trong cấu thành tội phạm để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động.

Hai là, về cấu thành tội phạm tăng nặng. Nghiên cứu thiệt hại là điều kiện truy cứu TNHS về tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi trong cấu thành tăng nặng (khoản 2, khoản 3) thấy rằng, thiệt hại là điều kiện truy cứu TNHS được xác định là thiệt hại về tính mạng (điểm b khoản 2, điểm a khoản 3) hoặc thiệt hại về sức khỏe (điểm c, điểm d khoản 2; điểm b khoản 3). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội chỉ cần gây hậu quả thuộc 01 trong 02 dạng thiệt hại (hoặc tính mạng, hoặc sức khỏe) sẽ bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm tăng nặng, không cần gây đồng thời cả 02 dạng thiệt hại. Điều này dẫn đến thực trạng là hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi gây thiệt hại lớn hơn bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm nhẹ hơn, gây thiệt hại nhỏ hơn nhưng bị truy cứu TNHS theo cấu thành tội phạm nặng hơn.

Ví dụ 1: A có hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi. A gây thiệt hại cho 03 người: Người thứ nhất chết, người thứ hai bị tổn thương cơ thể 50%, người thứ ba bị tổn thương cơ thể 60%. Hành vi của A thỏa mãn đồng thời quy định “làm chết người” - điểm b và “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%” - điểm d khoản 2 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, A bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 296 với mức phạt tù có thời hạn từ 03 năm đến 07 năm.

Ví dụ 2: B có hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động là người dưới 16 tuổi. B gây thiệt hại cho 03 người: Người thứ nhất bị tổn thương cơ thể 40%, người thứ hai bị tổn thương cơ thể 50%, người thứ ba bị tổn thương cơ thể 60%. Hành vi của B thỏa mãn quy định “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên” - điểm b khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, B bị truy cứu TNHS theo khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự với mức phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến 12 năm.

So sánh thiệt hại do A và B thấy rằng, rõ ràng A gây thiệt hại lớn hơn B nhưng chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 2, trong khi đó, B gây thiệt hại nhỏ hơn A nhưng bị truy cứu TNHS theo khoản 3. Đây là điểm bất hợp lý trong cấu thành tội phạm tăng nặng của tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, về hình phạt. Nghiên cứu về hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 thấy rằng, xét trong mối tương quan với các tội phạm vi phạm quy định được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý (tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người - Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015; tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng - Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015) cùng thuộc Mục 3 Chương XXI thì hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 296 chưa phù hợp, trong khi đối tượng bảo vệ của tội phạm này là người lao động dưới 16 tuổi - người cần quan tâm bảo vệ đặc biệt. Có thể so sánh với tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người (Điều 295) như sau: Khoản 1 Điều 295 quy định “phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” thì khoản 1 Điều 296 quy định “phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”, như vậy, mức phạt tiền ở khoản 1 Điều 296 cao hơn mức phạt tiền ở khoản 1 Điều 295. Tuy nhiên, hình phạt tù có thời hạn ở khoản 1 Điều 296 là “từ 06 tháng đến 03 năm” thấp hơn mức phạt tù có thời hạn “từ 01 năm đến 05 năm” ở khoản 1 Điều 295. Trong khi đó, hình phạt quy định ở khoản 2 và khoản 3 Điều 295 (từ 03 năm đến 07 năm, từ 06 năm đến 12 năm) về cơ bản như hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 (từ 03 năm đến 07 năm, từ 05 năm đến 12 năm). Mặc dù các tội phạm khác nhau thì hình phạt có thể khác nhau, tuy nhiên, quy định hình phạt tù có thời hạn như trong khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự là nhẹ và chưa hợp lý, tạo nên sự không tương thích, vô hình trung làm giảm hiệu quả phòng ngừa, răn đe đối với các hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi. Cùng với đó, mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội quy định tại khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thấp, chưa phù hợp và tương xứng với thiệt hại do người phạm tội gây ra cho xã hội, trong khi đó người lao động dưới 16 tuổi phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại và nhiều trường hợp người phạm tội thu được lợi nhuận rất lớn từ việc sử dụng người lao động dưới 16 tuổi.

2. Một số kiến nghị

Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, chúng tôi kiến nghị một số nội dung nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động là người dưới 16 tuổi như sau:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi bị hại của tội phạm là “người lao động dưới 16 tuổi” thành “người lao động dưới 18 tuổi”, khi đó Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 trở thành “tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 18 tuổi”. Cùng với đó, bổ sung thêm tình tiết “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi” là tình tiết định khung tăng nặng TNHS quy định tại điểm đ khoản 2, bổ sung thêm tình tiết “đối với người dưới 13 tuổi” là tình tiết định khung tăng nặng TNHS quy định tại điểm c khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015. Có như vậy mới đánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm và truy cứu TNHS đầy đủ, chính xác đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng người lao động trong từng độ tuổi khác nhau.

Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng: quy định đồng thời thiệt hại về tính mạng và sức khỏe là điều kiện truy cứu TNHS trong cấu thành tội phạm tăng nặng. Khi đó, khoản 3 được sửa đổi thành (phần in nghiêng đậm):

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên hoặc làm chết 01 người nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

Thứ ba, trong thời gian tới, xem xét sửa đổi hình phạt tù có thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 296 theo hướng tương thích với các tội phạm vi phạm quy định được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý trong Mục 3 Chương XXI của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cùng với đó, cần nâng mức tiền phạt là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội quy định tại khoản 4 Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015.

ThS. Nguyễn Văn Tùng & ThS. Bùi Công Thắng
Học viện Cảnh sát nhân dân



[1]. Xem: Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Xem: Điều 145, 146, 147 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: