Thứ năm 20/08/2026 03:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến đối với việc bảo vệ nhãn hiệu trong thương mại điện tử

Bảo vệ nhãn hiệu trong môi trường TMĐT là việc Nhà nước và bản thân các chủ sở hữu nhãn hiệu có những biện pháp, phương thức phù hợp với quy định của pháp luật để ngăn chặn

Bảo vệ nhãn hiệu trong môi trường TMĐT là việc Nhà nước và bản thân các chủ sở hữu nhãn hiệu có những biện pháp, phương thức phù hợp với quy định của pháp luật để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu khi trao đổi thương mại thông qua các mạng viễn thông bằng các phương tiện công nghệ điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến là những nhà cung cấp dịch vụ internet hay nhà cung cấp dịch vụ nối mạng, đóng vai trò là những nhà cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ, cung cấp môi trường cho hoạt động thương mại điện tử phát triển trên đó, bao gồm những nhà cung cấp dịch vụ đường tuyền internet và những nhà cung cấp nội dung trực tuyến dựa trên đường truyền internet. Như vậy, khi có sự trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trên thương mại điện tử, thì cơ chế trách nhiệm đối với các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến sẽ bao gồm cả trách nhiệm của các website cung cấp môi trường cho hoạt động thương mại điện tử. Trong bài viết, tác giả đề cập đến quy định pháp luật về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến đối với việc bảo vệ nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật sở hữu trí tuệ.

1. Bảo vệ nhãn hiệu trong thương mại điện tử và vấn đề xác định trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến với việc bảo vệ nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.1. Khái niệm về nhãn hiệu, bảo vệ nhãn hiệu trong thương mại điện tử

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh khác thì được gọi là nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) đã cụ thể hóa hơn về các dấu hiệu và đối tượng có khả năng bảo hộ về nhãn hiệu, nhưng vẫn mang tính quy chuẩn cao. Tại Việt Nam, nhãn hiệu được hiểu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”[1] và đáp ứng được các điều kiện theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ). Như vậy, theo quan điểm của tác giả, hiểu theo nghĩa rộng thì nhãn hiệu bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào (nhìn thấy được và không nhìn thấy được) có khả năng phân biệt giữa hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu này với chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ khác. Dưới góc độ thương mại nói chung, thương mại điện tử (TMĐT) nói riêng, nhãn hiệu bao gồm bất kỳ các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác.

Bản chất của sự bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu chính là thể hiện sự can thiệp, quản lý của Nhà nước đối với quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, hay nói rộng hơn, nó chính là sự thể hiện việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế thông qua công cụ pháp luật. Theo nghĩa khách quan, bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu là việc bằng các quy định của pháp luật, Nhà nước xác định những hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu và quy định các cách thức, biện pháp xử lý những hành vi xâm phạm đó nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu. Theo nghĩa chủ quan, bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu là việc Nhà nước và chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng các phương thức và biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu, đồng thời, khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu khi bị xâm phạm.

Về TMĐT, theo nghĩa chung nhất thì TMĐT được hiểu là các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử.

Như vậy, bảo vệ nhãn hiệu trong môi trường TMĐT chính là việc Nhà nước và bản thân các chủ sở hữu nhãn hiệu có những biện pháp, phương thức phù hợp với quy định của pháp luật để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu khi trao đổi thương mại thông qua các mạng viễn thông bằng các phương tiện công nghệ điện tử.

1.2. Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến và việc xác định trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến

Khác với hoạt động thương mại truyền thống, đối với TMĐT, bên cạnh chủ thể người mua, người bán thì luôn luôn có chủ thể thứ ba tham gia vào quá trình giao dịch của các bên đó là nhà cung cấp dịch vụ. Chủ thể thứ ba có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch và xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT. Họ chính là những nhà cung cấp dịch vụ internet hay nhà cung cấp dịch vụ nối mạng (Internet Service Provider - ISP), chuyên cung cấp các giải pháp kết nối mạng toàn cầu (internet) cho các đơn vị tổ chức hay các cá nhân người dùng. Họ đóng vai trò là những nhà cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ, cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT phát triển trên đó. Trên nền tảng công nghệ đó, trong thế giới ảo do các trung gian thương mại tạo nên, người bán và người mua sẽ tiến hành giao dịch với nhau qua hệ thống TMĐT. Những thương nhân, tổ chức thiết lập webiste TMĐT để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại (người bán) thực chất cũng chính là những trung gian trực tuyến (tức là các ISP) đưa nội dung đó tới công chúng. Như thế, nếu xem xét dưới góc độ kỹ thuật công nghệ thông tin, thì các ISP chính là các nhà cung cấp các giải pháp kết nối, đường truyền mạng toàn cầu internet. Tuy nhiên, nếu xem xét dưới góc độ ứng dụng công nghệ thông tin và internet, thì các ISP bao gồm cả những nhà cung cấp dịch vụ đường truyền internet (như FPT, VNPT, NetNam…) và những nhà cung cấp nội dung trực tuyến dựa trên đường truyền internet (chủ các website TMĐT, sàn TMĐT, gian hàng trên các trang TMĐT như Lazada, Tiki, Shopee...). Khi có sự trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với quyền SHCN đối với nhãn hiệu trên TMĐT, thì cơ chế trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến sẽ bao gồm cả trách nhiệm của các website cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT.

Đối với việc bảo vệ nhãn hiệu trong TMĐT, vấn đề chính liên quan đến nhãn hiệu đặt ra là, trong các hoạt động cung cấp môi trường TMĐT như trên (từ việc nhà cung cấp dịch vụ internet, chủ các website TMĐT, sàn TMĐT, chợ ảo…), khi có sự xâm phạm nhãn hiệu của bên thứ ba đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, ngay trên chính môi trường TMĐT mà các chủ thể trên cung cấp, thì cơ chế trách nhiệm của các bên liên quan được xác định như thế nào? Việc “vào cuộc” của các nhà cung cấp môi trường TMĐT về mặt pháp lý ra sao để tạo nên sự cân bằng, hài hòa lợi ích giữa sự phát triển của thông tin, của hoạt động TMĐT và việc bảo hộ thành quả lao động trí tuệ? Bởi lẽ, một mặt, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng chính là bảo hộ thành quả sáng tạo trí óc của con người thông qua các độc quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, mặt khác, nó cũng cần xem xét trên góc độ mở rộng khả năng tiếp cận thông tin để đảm bảo lợi ích của toàn xã hội. Trong môi trường TMĐT, cho dù bản chất và nguyên lý của hệ thống sở hữu trí tuệ không thay đổi, nhưng vẫn cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thống này tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà các tiến bộ công nghệ, kinh tế đem lại.

2. Quy định pháp luật về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến đối với việc bảo vệ nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử

Trong hệ thống pháp luật về quyền SHCN đối với nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay, trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ là một khoảng trống lớn. Chúng ta chưa có quy định cụ thể nào để đưa ra trách nhiệm của các ISP trong việc thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong môi trường TMĐT. Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng chưa đề cập đến nội dung này. Hiện nay, quy định pháp lý đối với dịch vụ trung gian trực tuyến được thể hiện trong khuôn khổ Luật Công nghệ thông tin năm 2006 nói chung và các nghị định, thông tư về quản lý TMĐT nói riêng.

Luật Công nghệ thông tin năm 2006 không đưa ra khái niệm về tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, mà đề cập đến trách nhiệm của các trung gian trực tuyến với các điều khoản tương ứng về chức năng cho thuê chỗ lưu trữ. Theo đó, trách nhiệm của các trung gian trực tuyến là: “...Tiến hành kịp thời các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin số hoặc loại bỏ thông tin số trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Ngừng cho tổ chức, cá nhân khác thuê chỗ lưu trữ thông tin số trong trường hợp tự mình phát hiện hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo cho biết thông tin đang được lưu trữ là trái pháp luật” (khoản 3 Điều 18). Tương tự như đối với cơ chế của Đạo luật Bản quyền kỹ thuật số thiên niên kỷ năm 1998 của Hoa Kỳ (Digital Millennium Copyright Act - DMCA) và Chỉ thị Thương mại điện tử (Electronic Commerce Directive) năm 2000 của Liên minh châu Âu (EU) (Chỉ thị ECD), theo khoản 2 Điều 20 Luật Công nghệ thông tin năm 2006, các ISP không phải chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát thông tin, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình truyền đưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân khác, hay cung cấp thông tin về khách hàng trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Bên cạnh đó, một cách chi tiết hơn, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về TMĐT (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP) đã đưa ra khái niệm về website TMĐT, cũng như xác định được cụ thể hơn trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử (cũng chính là một trong số những chủ sở hữu thông tin số được lưu trữ bởi các ISP theo Luật Công nghệ thông tin). Theo đó, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT phải có trách nhiệm kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc cung cấp thông tin của người bán trên sàn giao dịch TMĐT, có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh về hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch TMĐT, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước điều tra các hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật, cung cấp thông tin đăng ký, lịch sử giao dịch và các tài liệu khác về đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch TMĐT. Công bố công khai cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao dịch trên sàn TMĐT (Điều 36 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP). Đặc biệt, gần đây nhất, liên quan trực tiếp đến hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Thông tư số 20/2018/VBHN-BCT ngày 18/9/2018 của Bộ Công Thương quy định về quản lý website TMĐT (Thông tư số 20/2018/VBHN-BCT) đã xác định rõ trách nhiệm của chủ sàn TMĐT liên quan đến website TMĐT. Theo đó, Thông tư số 20/2018/VBHN-BCT quy định chủ sàn TMĐT phải có trách nhiệm: “Loại bỏ khỏi website những thông tin bán hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật khác khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh có căn cứ xác thực về những thông tin này” (Điều 4). Như vậy, theo quy định này, các nhà điều hành website cung cấp dịch vụ TMĐT có chức năng như một ISP lưu trữ có trách nhiệm ngăn chặn truy cập hoặc xóa bỏ các nội dung xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, loại bỏ những website vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về hàng giả, hàng nhái, chấm dứt dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi tự mình phát hiện… Quy định này chính là cơ sở để xác định trách nhiệm đối với việc xâm phạm nhãn hiệu của người bán qua website.

Ngoài ra, Điều 66 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/01/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ và Nghị định số 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ đã quy định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm của bên thứ ba (trong đó có nhà cung cấp dịch vụ truyền thông) khi cung cấp thông tin không đúng về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Mặc dù, trách nhiệm pháp lý của các ISP đã được pháp luật Việt Nam quy định trong môi trường internet, tuy nhiên, điều này vẫn chưa được coi là thỏa đáng khi xem xét tới trách nhiệm của bên thứ ba góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường, “sân chơi” cho các hành vi TMĐT diễn ra. Pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể việc ngăn chặn, xóa bỏ website có vi phạm về sở hữu trí tuệ trong TMĐT, chưa có cơ chế trong việc bảo đảm việc chủ động ngăn chặn, xóa bỏ các hành vi như trên của các ISP. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có quy định về khả năng miễn trừ trách nhiệm của các ISP theo quy định pháp luật quốc tế để tạo sự công bằng và tạo động lực phát triển TMĐT.

Về vấn đề này, theo Chỉ thị ECD, các ISP không phải chịu trách nhiệm với điều kiện: “(a) Nhà cung cấp không có hiểu biết thực tế về hành vi hoặc thông tin bất hợp pháp và liên quan đến yêu cầu bồi thường, không biết về các sự kiện và điều kiện mà từ đó hành vi hoặc thông tin bất hợp pháp là hiển nhiên; hoặc (b) Nhà cung cấp, khi có được hiểu biết này, hành động nhanh chóng để gỡ bỏ hoặc dừng truy cập thông tin” (Điều 14.1)[2]. Để tránh áp đặt trách nhiệm quá mức lên các ISP, Chỉ thị ECD không cho phép các nước thành viên áp đặt nghĩa vụ giám sát lên các chủ thể này. Tại Hoa Kỳ, việc xác định trách nhiệm của các ISP phát triển theo lý thuyết về trách nhiệm gián tiếp, trách nhiệm thứ cấp theo nguyên tắc “một người sẽ chịu trách nhiệm nếu anh ta cho phép (một người thứ ba) hành động với các phương tiện của mình, khi biết hoặc có lý do để biết rằng người kia đang hành động hoặc sẽ hành động gây hại…” (Luật Bồi thường ngoài hợp đồng lần hai của Hoa Kỳ năm 1979)[3]. Điều này có nghĩa là ISP có trách nhiệm liên đới với việc bị xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu.

Có thể hiểu rằng, việc đặt trách nhiệm đối với xâm phạm gián tiếp/thứ cấp nhãn hiệu lên các ISP, trong đó có các website cung cấp dịch vụ TMĐT, thực chất là một phương thức mở rộng phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệu nhằm mục đích giảm bớt khó khăn trong thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong môi trường internet và TMĐT. Xét tới những lợi thế của nhà điều hành website cung cấp dịch vụ TMĐT trong việc xác định và ngăn chặn xâm phạm nhãn hiệu trên nền tảng của mình, các cơ chế này chú trọng phương thức yêu cầu sự “hợp tác” của các trung gian này với các chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu[4]. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa có cơ chế chung áp dụng thống nhất trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm pháp lý của các nhà cung cấp dịch vụ, việc xác định có hay không việc xâm phạm nhãn hiệu phụ thuộc phần nhiều vào việc giải quyết của các Tòa án ở từng quốc gia. Kinh nghiệm của EU hay Hoa Kỳ nói trên là một trong những bài học để pháp luật Việt Nam có thể áp dụng trong việc xem xét trách nhiệm của các ISP.

3. Kết luận và kiến nghị

Rõ ràng, sự xuất hiện của các chủ thể là trung gian trực tuyến, tham gia vào thị trường TMĐT tạo môi trường cho hoạt động TMĐT được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi. Do vậy, việc xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng, thì các ISP không thể không có trách nhiệm liên đới. Do vậy, để tạo môi trường lành mạnh, đảm bảo quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong TMĐT, bảo vệ người tiêu dùng khỏi hành vi xâm phạm quyền sở hữu, tạo điều kiện thúc đẩy TMĐT phát triển, pháp luật Việt Nam cần có quy định đồng bộ, thống nhất, có hướng dẫn chi tiết về các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến, trách nhiệm của họ trong việc cung cấp dịch vụ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng. Theo đó, cần xây dựng khái niệm, trách nhiệm về các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trong Luật Công nghệ thông tin bao gồm cả những nhà cung cấp dịch vụ internet và những nhà cung cấp nội dung đặt trên không gian mạng đó (chủ sàn TMĐT…). Bên cạnh đó, cần có quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn về trách nhiệm ngăn chặn, xóa bỏ các hành vi vi phạm pháp luật theo Luật Công nghệ thông tin như hiện nay, quy định trách nhiệm của các ISP về việc ngăn chặn, xóa bỏ các hành vi xâm phạm nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật về sở hữu trí tuệ. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thì các ISP sẽ phải có trách nhiệm tự mình ngăn chặn hoặc xóa bỏ các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm về quyền sở hữu trí tuệ, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng. Theo Luật Công nghệ thông tin thì các ISP này chỉ phải xóa bỏ các nội dung thông tin xâm phạm khi tự mình phát hiện hoặc bị bắt buộc theo lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định về việc buộc các ISP phải tự mình xóa bỏ các thông tin xâm phạm, mục đích để tăng cường trách nhiệm chủ động của các ISP. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật không đưa ra quy định hướng dẫn về trách nhiệm tự mình xóa bỏ các hành vi xâm phạm của các ISP cũng như cơ chế thưởng/phạt cho trách nhiệm này; quy định về các bước thực hiện và giải quyết vấn đề của các bên tham gia, quy định về việc lưu trữ thông tin và thống kê số liệu nhằm phục vụ công tác kiểm tra của cơ quan chuyên môn. Theo tác giả, chúng ta nên vận dụng kinh nghiệm quốc tế quy định trách nhiệm của các ISP về việc có “hiểu biết thực tế và suy đoán” đối với các hành vi xâm phạm, cũng như quy trình giải quyết việc này, nhằm đảm bảo quyền lợi cho chính chủ quyền sở hữu nhãn hiệu. Đồng thời, cũng cần quy định về khả năng miễn trừ của các ISP trong việc xác định trách nhiệm của họ với vai trò là người cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT diễn ra.

Pháp luật Việt Nam cần có các quy định về nghĩa vụ theo hướng đưa ra các biện pháp tích cực phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi của các ISP khi cung cấp môi trường TMĐT cho hoạt động của các bên liên quan được diễn ra; cần có quy định về việc các ISP đã được tập huấn, đào tạo đảm bảo hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và xác định các hành vi xâm phạm, biện pháp xử lý với tư cách là những người tạo môi trường cho hoạt động thương mại trực tuyến; nghĩa vụ về sự cam kết của các ISP khi cung cấp các sản phẩm là hàng chính hãng, hoặc có các thành viên của mình cung cấp các hàng chính hãng; việc bồi thường thiệt hại nếu việc tuyên bố không đúng như chất lượng hàng hóa, dịch vụ đi kèm; nghĩa vụ về việc theo dõi, giám sát thông tin, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình truyền đưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân khác, hay cung cấp thông tin về khách hàng; nghĩa vụ về việc đánh giá và báo cáo thống kê các ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đối với các cơ quan quản lý có thẩm quyền.

Tuy nhiên, để phù hợp với quy định quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng cần quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm pháp lý và chế tài đối với các ISP khi có các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Theo đó, để được hưởng quyền miễn trừ, các ISP phải thực sự thể hiện vai trò của các nhà trung gian, trung chuyển với những điều kiện sau: (i) Các ISP thể hiện tính chất trung gian, trung chuyển trong việc truyền đưa thông tin số qua hệ thống mạng diễn ra một các tự động không có sự lựa chọn thông tin số; (ii) Các ISP phải công bố công khai chính sách và các biện pháp kỹ thuật cần thiết được sử dụng để ngăn chặn việc truy cập thông tin số hoặc loại bỏ thông tin số trái pháp luật, xâm phạm quyền nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Về mặt chủ quan, các ISP này không biết hoặc không có lý do để biết hành vi truyền đưa, lưu trữ các nội dung thông tin số trong hệ thống mạng dịch vụ của mình là trái pháp luật, xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu, không thu lợi từ hành vi xâm phạm đó.

Tóm lại, mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định về trách nhiệm của các ISP, tuy nhiên, trách nhiệm này của các ISP chưa được đề cập đến trong phạm vi của Luật Sở hữu trí tuệ cũng như các văn bản hướng dẫn. Với việc chưa có quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề trách nhiệm liên quan đến xâm phạm nhãn hiệu cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ thì sẽ không đủ căn cứ để giải quyết các tranh chấp mang tính đặc thù như lĩnh vực bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT.

ThS. Trần Thị Thanh Huyền

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam



[1]. Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ.

[2]. Directive 2000/31/EC of the European parliament and of the council, trích từ https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/eu/eu107en.pdf.

[3]. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án tiến sỹ, tr. 91.

[4]. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án tiến sỹ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: