Thứ hai 24/08/2026 14:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của người có uy tín trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới

Từ bao đời nay, đồng bào Tây Nguyên có truyền thống yêu nước nồng nàn, một lòng đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, đồng thời, phát huy tinh thần tự lực tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết xây dựng Tây Nguyên ngày càng ổn định và phát triển. Có được điều này, phải kể đến vai trò to lớn của những người uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Hiện nay, toàn vùng Tây Nguyên có gần 5.000 người có uy tín là già làng, trưởng thôn, bí thư chi bộ, chức sắc tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Trong đó, tỉnh Gia Lai có gần 1.000 người, tỉnh Kon Tum có hơn 800 người. Họ được coi là trụ cột của cộng đồng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở vùng Tây Nguyên.

Ở Gia Lai, nói về vai trò của người có uy tín trong phát triển kinh tế, xã hội, ông Dương Mah Tiệp - Bí thư Huyện ủy Ia Grai, Gia Lai chia sẻ: “Vai trò của người uy tín và người đảng viên có uy tín tham gia rất là tốt. Trong phát triển kinh tế xã hội họ là những tấm gương, bản thân họ biết làm ăn, biết truyền tải kinh nghiệm của mình đến đồng bào khu vực đó, sẵn sàng giúp đỡ những gia đình có nguyện vọng vươn lên xóa đói giảm nghèo. Bằng phạm vi uy tín của mình truyền tải đến quần chúng, đó là lợi thế mà cán bộ các cơ quan, ban ngành chưa làm được mà đảng viên uy tín làm được”.

Chuyện về già làng Ðinh Yem ở làng Ðăk Yang 2, xã Ðông, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai là một minh chứng điển hình. Nhiều năm nay, bà con người dân tộc Bana ở làng Ðăk Yang 2, xã Ðông, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai luôn xem già làng Ðinh Yem là người cha đỡ đầu. Không chỉ tận tình trong chỉ bảo cách làm ăn, cách xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, già làng Đinh Yem còn là người rộng lòng chia sẻ, tạo điều kiện cho nhiều gia đình vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. Năm 2003, khi lấy vợ, ông Đinh Hoát (làng Ðăk Yang 2, xã Ðông, Kbang, Gia Lai) phải ở chung với bố mẹ đẻ, cuộc sống bữa đói, bữa no nên việc mua đất làm nhà gần như là không thể. Vì vậy, già làng Đinh Yem quyết định cắt 400 m2 đất của mình tặng cho ông Hoát cất nhà. Nhờ đó, ông Hoát yên tâm làm ăn, ổn định cuộc sống. Ông Đinh Hoát cho biết: “Trong làng ai cũng có đất của ông già hết, nếu không thì cũng chẳng có cái nhà mà ở. Ông Yem thương cháu, thương con, thương trong làng hết. Có đất ông già ổn định rồi, làm được cái nhà có vườn tược, cảm ơn ông già rất nhiều”.

Trong hơn 15 năm được người dân tín nhiệm bầu làm già làng, già Đinh Yem đã tặng hơn 4.000 m2 đất cho 16 cặp vợ chồng trong làng khi ra ở riêng. Không chỉ thế, ông còn là người đi đầu trong phong trào tự nguyện hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn. Được địa phương hỗ trợ xây dựng đường bê tông, ông rất vui mừng và vận động dân làng tích cực dọn dẹp vệ sinh buôn làng, đồng thời trồng hoa tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp.

Già làng Đinh Yem chia sẻ: “Tôi nghĩ có mình thì mình phải có con cháu mới vui, chứ mình sống cũng không bao nhiêu”. Vừa nói, vừa làm những điều hay, lẽ phải nên những công việc liên quan đến vận động nhân dân của già Đinh Yem luôn nhận được sự hưởng ứng cao. Chính sự uy tín và những đóng góp đó, già làng Đinh Yem được xem là “già làng của các già làng” tại địa phương. Thời gian qua, ông đã góp sức cùng với chính quyền địa phương đưa xã Đông hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông dựng nông thôn mới tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Khi nói về vai trò của già làng, ông Nguyễn Đăng Chung - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đông, Kbang, Gia Lai ghi nhận: “Nếu không có vai trò của già làng thì việc gì làm cũng khó, từ việc tiếp cận, truyền tải các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân. Có nhiều chương trình cấp ủy, chính quyền địa phương đã phân công cán bộ xuống làng nhưng mà chưa thành công nếu không có sự tham gia của già làng”.

Còn ở làng Beng, xã Ia Chía, huyện biên giới Ia Grai, tỉnh Gia Lai, già làng Rơ Châm Chích được ví như vị “quan tòa” chính trực, đã giúp bà con hóa giải hàng trăm vụ hiểu lầm, mâu thuẫn, từ đó, giữ gìn mối đoàn kết trong cộng đồng dân tộc ở vùng biên giới Gia Lai.

Khi trên địa bàn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, các đối tượng Fulro lưu vong lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của người dân để truyền đạo trái phép, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Bằng kinh nghiệm của mình, già làng Rơ Châm Chích đã cùng với chính quyền địa phương đã giúp người dân nâng cao nhận thức để không bị kẻ xấu lôi kéo. Khi già làng Rơ Châm Chích tuyên truyền giáo dục về vấn đề bảo vệ buôn làng thì bà con Jrai ở làng Beng không lên rẫy, mà tập trung đến nghe.

Già làng Rơ Châm Chích chia sẻ: “Cách thuyết phục làm sao để họ nghe được, họ tin được họ mới chấp nhận cho mình. Cho nên, cách thức giải quyết tất cả sự việc tôi giải quyết hoàn thành cả. Mình có kinh nghiệm riêng của mình trong xử lý tình huống kể cả mình vận động giáo dục các đối tượng trước Đảng và Nhà nước và bà con dân làng. Đến giờ phút này không ai xâm phạm vào lãnh địa của làng, bà con tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng của chính quyền”.

Trải qua nhiều vị trí công tác, già làng Rơ Châm Chích luôn một lòng tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, nhắc nhở bà con ý thức giữ gìn đoàn kết, cảnh giác với âm mưu của bọn phản động Fulro, không theo “Tin lành Đê ga”, không vượt biên trái phép. Với những người từng lầm lỡ, già luôn gần gũi, động viên để họ vượt qua mặc cảm, chăm lo làm ăn, ổn định cuộc sống.

Vốn là đối tượng cầm đầu trong các vụ tuyên truyền chống bạo loạn phá hoại chính sách đại đoàn kết, năm 2006, ông Puih Heng bị đưa đi cải tạo. Sau khi chấp hành án 07 năm trở về làng, ông luôn được già làng Rơ Châm Chích thăm hỏi, động viên làm ăn. Thấy được những lầm lỡ của mình trước đây, quyết tâm không quay trở lại con đường sai trái, ông Heng đã mạnh dạn vay vốn trồng cà phê, điều, mỳ. Ông Puih Heng đã sửa chữa được những sai lầm của mình: “Mình lầm lỡ trở về từ năm 2012, mình cố gắng làm việc với gia đình chăm lo cho con cái làm ăn, cho hạnh phúc để con cái có phương tiện đi qua đi lại học hành. Không đi theo ai hết, làm nương, làm rẫy thôi. Nhờ già làng góp ý tuyên truyền bây giờ mình cố gắng làm việc trang trải cuộc sống trong gia đình”.

Nói về an ninh chính trị trên địa bàn huyện Ia Grai, Gia Lai, ông Dương Mah Tiệp - Bí thư Huyện ủy Ia Grai, Gia Lai cho biết: “Huyện Ia Grai là huyện khá phức tạp về an ninh chính trị, các đối tượng xấu luôn lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo kẻ xấu để phá hoại đoàn kết dân tộc, chính những già làng, những người uy tín luôn luôn đi sâu, đi sát khuyên bảo số này không nghe theo cả xấu, trở về làm ăn với gia đình nên tình trạng vượt biên trái phép sang Campuchia, sang Thái Lan năm nay là không có. Thậm chí những đối tượng ở trại tị nạn đã xin về địa phương tái hòa nhập cộng đồng rất tốt”.

Làng Mít Jép ở xã biên giới Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai có hơn 200 hộ đồng bào Jrai. Năm 2020, ngôi làng này được chọn thí điểm thực hiện làng nông thôn mới kiểu mẫu trong đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới. Phát huy vai trò của mình, Bí thư chi bộ, trưởng thôn Rơ Chăm Lin đã tích cực tuyên truyền vận động bà con chung tay cùng với chính quyền địa phương xây dựng nông thôn mới. Trong quá trình thực hiện, việc ông Lin trăn trở nhất là tiêu chí môi trường và thu nhập. Do đó, cứ vào dịp cuối tuần ông lại vận động bà con tập trung dọn dẹp vệ sinh, đường làng ngõ xóm và hình thành thói quen này trong cuộc sống, nhằm xây dựng buôn làng xanh - sạch - đẹp. Đồng thời vận động con em trong làng vào làm công nhân cao su của Binh đoàn 15 để tăng thu nhập, cải thiện đời sống.

Ông Rơ Chăm Lin - Bí thư chi bộ làng Mít Jép, xã Ia O, Ia Grai, Gia Lai cho biết: “Trong thời gian qua, nhất là chủ trương Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nguồn vốn Nhà nước đưa vào xây dựng nông thôn mới, bản thân phát huy không mệt mỏi, dám làm, dám nói. Thành công nhất vận động bà con hơn 80% tham gia làm công nhân cho đơn vị Binh đoàn 15”. Sau những buổi cạo mủ cao su, cuối tuần, thanh niên trong làng lại cùng nhau đến nhà ông Rơ Chăm Lin để được ông truyền dạy đánh cồng chiêng.

Với những nỗ lực của những người uy tín như ông Rơ Chăm Lin, đã giúp đời sống kinh tế, văn hóa của bà con Jrai nơi vùng biên giới này ngày một nâng cao, nhà cửa được xây dựng khang trang, hơn 75% hộ đạt gia đình văn hóa. Đặc biệt làng Mít Jép đã đạt được 15/19 tiêu chí làng nông thôn mới. Đây chính là yếu tố quan trọng để những buôn làng này trở thành vành đai vững chắc trên tuyến biên giới Tây Nguyên.

Tại Kon Tum, đồng bào Jrai ở làng Tang, xã biên giới Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum luôn xem già làng Ksor Líu như “cây đại thụ” của buôn làng. Ông chính là cầu nối quan trọng đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với bà con.

Thời gian trước, nhiều thanh niên trong làng ham chơi lêu lỏng, hay tụ tập uống rượu, gây mất an ninh trật tự. Thế nhưng bốn năm trở lại đây khi được bầu giữ vị trí già làng, ông Ksor Líu đã phối hợp với bộ đội Binh đoàn 15 đi đến từng hộ dân, vận động thanh niên tham gia vào làm công nhân cạo mủ cao su. Từ một vài người, đến nay trong làng đã có 40 thanh niên tham gia vào làm công nhân. Có lương hàng tháng, nhiều người đã lập gia đình xây dựng nhà cửa chăm lo làm ăn, ổn định cuộc sống. Có thể kể đến anh A Minh ở làng Tang, xã Mô Rai, Sa Thầy, Kon Tum được già làng vận động vào làm công nhân, từ đó, cuộc sống gia đình cũng tạm ổn. Giờ A Minh lấy vợ và đưa vợ vào làm công nhân, thu nhập hai vợ chồng được 14 -15 triệu/tháng.

Là cán bộ tuyên giáo của huyện về hưu, nên những vấn đề mà già làng Ksor Líu đề cập đến người dân đều thấu tình đạt lý. Với bà con ông là “trọng tài” trong giải quyết các vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn gia đình; vận động người dân không tham gia các tệ nạn xã hội; bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Chính việc gần dân, sát dân, già làng Ksor Líu đã giúp đồng bào nơi vùng biên giới Mô Rai từng bước thay đổi nhận thức.

Già làng Ksor Líu cho biết: “Cùng với các anh bộ đội Công ty 78 phân tích cho họ đi làm công nhân được chế độ này chế độ kia nên từ đó họ mới biết, từ 2 người - 3 người - 4 người lôi kéo nhau cứ thế họ đi hết. Rồi vấn đề con em đi học, việc gia đình như họ chưa hiểu về tình làng xóm, giải thích cho họ để họ biết. Đến phong tục tập quán nữa, cái nào có lợi cho mình, như múa xoang, đám ma, đám cưới mình cũng vận dụng luôn”.

Đại tá Hoàng Văn Sỹ - Tư lệnh Binh đoàn 15 chia sẻ: “Ngay ban đầu chúng tôi có vài ngàn hộ đồng bào với 21 cụm dân cư đến nay đã phát triển lên hơn 16 ngàn người lao động, trong đó có hơn 8 ngàn người dân tộc thiểu số và 266 cụm điểm dân cư trên tuyến biên giới. Nhờ sự vào cuộc của các già làng người uy tín trong cộng đồng chúng tôi đã đưa được người dân lên ổn định ở biên giới và tạo ra phên dậu thực sự để bảo vệ Tổ quốc. Ở đấy, người đồng bào có cuộc sống ổn định được chăm lo được hưởng chính sách an sinh xã hội, yên tâm phục vụ bảo vệ buôn làng, bảo vệ biên giới”.

Cuộc sống trên những buôn làng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Tây Nguyên ngày càng thay da đổi thịt, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, quốc phòng - an ninh được bảo đảm. Trong sự đổi thay vững vàng ấy, có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ già làng, người có uy tín đã chung sức, đồng lòng cùng chính quyền địa phương xây dựng buôn làng no ấm, bình yên.

Minh Trí

Ảnh: intenet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: