Thứ tư 04/03/2026 13:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của sổ hộ khẩu và định hướng áp dụng căn cước công dân trong hoạt động công chứng

Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 quy định bộ hồ sơ pháp lý mà người yêu cầu công chứng phải xuất trình khi làm thủ tục công chứng. Tuy pháp luật không chính thức ghi nhận phải có sổ hộ khẩu nhưng thực tiễn khi công chứng một số loại hợp đồng, giao dịch, công chứng viên sẽ yêu cầu bắt buộc phải có sổ hộ khẩu để hoàn chỉnh hồ sơ. Đối với các hợp đồng, giao dịch về quyền của người sử dụng đất, hiện nay các công chứng viên xác định sổ hộ khẩu là một trong những căn cứ quan trọng không thể thiếu để chứng nhận tính pháp lý của hợp đồng, giao dịch.


1. Vai trò của sổ hộ khẩu khi công chứng các hợp đồng, giao dịch về quyền của người sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất có các quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất[1]. Khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất, công chứng viên yêu cầu các bên giao dịch xuất trình sổ hộ khẩu bởi các lý do sau:
(i) Đối với bên thực hiện quyền của người sử dụng đất
Thứ nhất, sổ hộ khẩu là căn cứ pháp lý để xác định địa chỉ thường trú của người sử dụng đất
Một trong các điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền của người sử dụng đất là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Tuy nhiên, vì những nguyên nhân khác nhau mà những thông tin trên GCNQSDĐ bị sai sót. Cụ thể là khi nhận chuyển nhượng, người sử dụng đất không xuất trình sổ hộ khẩu và ghi trên hợp đồng chuyển nhượng địa chỉ thường trú theo thông tin trên giấy chứng minh nhân dân nhưng thực tế thì địa chỉ thường trú đã được đăng ký tại một địa chỉ khác. Đây được xác định là có sự sai sót về địa chỉ thường trú ngay tại thời điểm cấp GCNQSDĐ. Khi công chứng viên kiểm tra địa chỉ cư trú tại thời điểm cấp GCNQSDĐ với sổ hộ khẩu thì phát hiện sự sai sót về nơi cư trú này.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 thì cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ có trách nhiệm đính chính giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp: “Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp giấy chứng nhận của người đó”. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì: “Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính”.
Việc công chứng viên yêu cầu bên thực hiện quyền của người sử dụng đất (ví dụ như bên chuyển nhượng) cung cấp sổ hộ khẩu để xác định địa chỉ cư trú đã được ghi trong sổ hộ khẩu có đúng với thông tin trên GCNQSDĐ là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Nếu có sự sai sót về địa chỉ thường trú ngay tại thời điểm cấp GCNQSDĐ thì yêu cầu người sử dụng đất phải làm thủ tục đính chính địa chỉ thường trú trước khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
Thứ hai, sổ hộ khẩu là cơ sở pháp lý để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 xác định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”[2]. Theo quy định này, có 03 dấu hiệu để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất là:
- Những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình;
- Đang sống chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất;
- Có chung quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, hiện nay không có cơ sở nào để chứng minh những người nào có chung quyền sử dụng đất nên thực tiễn vận dụng theo nguyên tắc suy đoán bắc cầu dấu hiệu thứ ba từ sự kết hợp của dấu hiệu thứ nhất và thứ hai. Nghĩa là, khi đã xác định được những ai có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và đang sống chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất thì suy đoán rằng họ có chung quyền sử dụng đất, từ đó, xác định họ là thành viên hộ gia đình sử dụng đất[3].
Do đó, chỉ khi có sổ hộ khẩu thì công chứng viên mới có đủ căn cứ, cơ sở để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất. Việc công chứng viên yêu cầu bên chuyển nhượng là hộ gia đình sử dụng đất phải xuất trình sổ hộ khẩu là hoàn toàn có cơ sở pháp lý.
(ii) Đối với bên nhận quyền sử dụng đất
Thực tiễn hiện nay có nhiều loại giấy tờ thể hiện nơi cư trú (địa chỉ thường trú) của cá nhân như: Chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu… Tuy nhiên, vẫn chưa thể xác định chính xác nơi cư trú của cá nhân bởi mỗi cá nhân có quyền tự do cư trú và thay đổi nơi cư trú. Hơn thế, hiện nay thực hiện theo quy định về sáp nhập địa giới hành chính (ấp, khóm, thôn, tổ dân phố….) nên địa chỉ thường trú của công dân sẽ thay đổi theo. Trong trường hợp này, các giấy tờ nêu trên chưa được cập nhật địa chỉ cư trú mới. Nếu bên nhận quyền sử dụng đất không xuất trình sổ hộ khẩu để xác định chính xác nơi cư trú hiện tại thì hoàn toàn có thể dẫn đến việc cấp sai địa chỉ trên GCNQSDĐ.
Khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất thì phải thực hiện thủ tục đính chính lại địa chỉ trên GCNQSDĐ trước khi thực hiện các quyền của mình. Việc công chứng viên yêu cầu bên nhận quyền sử dụng đất (ví dụ như bên nhận chuyển nhượng) xuất trình sổ hộ khẩu khi làm thủ tục công chứng là nhằm bảo vệ cho quyền lợi của chính bên nhận chuyển nhượng, tránh những sai sót, làm hạn chế quyền của bên nhận chuyển nhượng về sau.
2. Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng căn cước công dân trong hoạt động công chứng
Thực hiện quy định của Luật Cư trú năm 2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2021, cả nước đang tiến hành cấp đổi chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân cũ sang căn cước công dân mới có gắn chip điện tử. Căn cước công dân mới có gắn chip điện tử sẽ tích hợp tất cả các thông tin của công dân và được gắn mã định danh cho mỗi cá nhân bằng mã QR. Cũng theo quy định của Luật Cư trú năm 2020, khi công dân đăng ký thường trú, thay đổi nơi thường trú sẽ được cơ quan đăng ký cư trú cập nhật thông tin về nơi thường trú mới vào cơ sở dữ liệu về cư trú[4]. Khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu thì cơ quan đăng ký cư trú sẽ thu hồi sổ hộ khẩu đã cấp và chỉ thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong cơ sở dữ liệu về cư trú, không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu[5]. Như vậy, kể từ ngày 01/07/2021 những thông tin cần thiết của mỗi cá nhân, trong đó có thông tin về địa chỉ thường trú sẽ được thể hiện và khai thác trên cơ sở dữ liệu về cư trú. Các tổ chức, cá nhân có thể tra cứu thông tin cư trú qua mã QR được in trên căn cước công dân của mỗi cá nhân.
Trong hoạt động công chứng, khi thực hiện các quy định mới của Luật Cư trú năm 2020 sẽ dẫn đến những khó khăn, vướng mắc sau đây:
Thứ nhất, công chứng viên không xác định được thành viên hộ gia đình sử dụng đất
Đối với những giao dịch mà chủ thể là hộ gia đình sử dụng đất thì công chứng viên không có cơ sở để xác định được thành viên của hộ. Nếu căn cứ vào căn cước công dân thì chỉ có thể khai thác những thông tin nhân thân của cá nhân đó, mà không có được thông tin của những thành viên khác trong hộ gia đình.
Luật Đất đai năm 2013 quy định thành viên hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Khi không có sổ hộ khẩu thì không thể xác định được ai đang sống chung với ai tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Ví dụ như quyền sử dụng đất được cấp chung cho hộ năm 2007, nếu áp dụng biện pháp quét mã QR trên căn cước công dân thì chỉ xác định được nơi cư trú hiện nay của cá nhân đó mà không xác định được thời điểm năm 2007 trong hộ gia đình có mấy thành viên. Nếu bỏ sổ hộ khẩu giấy thì công chứng viên không thể xác định được thành viên hộ gia đình sử dụng đất.
Thứ hai, công chứng viên không thể xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có sai sót hay không
Khi có sổ hộ khẩu giấy, công chứng viên có thể kiểm tra, đối chiếu thời điểm cấp GCNQSDĐ có trùng khớp địa chỉ thường trú tại sổ hộ khẩu hay không. Nếu không trùng khớp sẽ yêu cầu người sử dụng đất đính chính địa chỉ cư trú trước khi thực hiện các quyền theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên nếu bỏ sổ hộ khẩu giấy, công chứng viên sẽ thực hiện quét mã QR trên căn cước công dân, nếu địa chỉ cư trú có sự thay đổi hoặc khác với địa chỉ trên GCNQSDĐ thì công chứng viên vẫn phải thực hiện công chứng và hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện song song cùng lúc hai thủ tục: Thay đổi thông tin nơi cư trú và đăng ký biến động đất đai (chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho…)[6]. Bởi công chứng viên không có cơ sở để xác định thời điểm cấp GCNQSDĐ địa chỉ cư trú có bị sai sót hay không.
Thứ ba, trống vắng quy định thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên trong việc khai thác cơ sở dữ liệu về cư trú
Như đã phân tích, mã QR được in trên mỗi căn cước công dân là mã số định danh của mỗi cá nhân. Bất kỳ ai cũng có thể quét mã QR để lấy những thông tin cơ bản của người được cấp căn cước công dân như: Số chứng minh nhân dân cũ, năm sinh, địa chỉ thường trú… Công chứng viên cũng chỉ có thể có được những thông tin cơ bản khi quét mã QR trên căn cước công dân nếu không được cơ quan có thẩm quyền cấp quyền khai thác thông tin khác. Vấn đề đặt ra hiện nay là chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào cho phép tổ chức hành nghề công chứng hay công chứng viên được tiếp cận, khai thác dữ liệu cư trú để có thể xác định được thành viên hộ gia đình hay địa chỉ cư trú tại một thời điểm nào đó trong quá trình cư trú của cá nhân. Chính sự thiếu vắng những quy định này sẽ là rào cản, khó khăn lớn nhất cho hoạt động công chứng khi thực hiện theo chính sách loại bỏ sổ hộ khẩu giấy.
3. Một số giải pháp
Để thực hiện theo chủ trương đơn giản hoá các thủ tục hành chính và cũng để bảo đảm tính pháp lý, sự an toàn nghề nghiệp cho các công chứng viên trong hoạt động hành nghề, thiết nghĩ cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, khôi phục các quy định về việc ghi tên thành viên hộ gia đình sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trước đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có quy định về việc ghi tên trực tiếp, cụ thể những người trong hộ gia đình sử dụng đất trên GCNQSDĐ tại Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT). Tuy nhiên, có thể do lỗi diễn đạt nên đã gây nhầm lẫn là ghi tên tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu dẫn đến việc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạm ngưng thực hiện nội dung này tại Thông tư số 53/2017/TT-BTNMT ngày 04/12/2017 của Chính phủ quy định ngưng hiệu lực thi hành khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT.
Quy định của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT là rất tiến bộ, giải quyết được nguồn gốc vấn đề khi xác định rõ thành viên hộ gia đình sử dụng đất ngay từ khi được cấp GCNQSDĐ. Những ai là thành viên hộ gia đình sử dụng đất sẽ được ghi tên cụ thể trên GCNQSDĐ. Và thành viên hộ gia đình sử dụng đất sẽ được phân biệt rõ ràng với thành viên trong sổ hộ khẩu. Do đó, thiết nghĩ Bộ Tài nguyên và Môi trường nên có những quy định khôi phục lại sự tiến bộ này của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT nhưng với cách diễn đạt dễ hiểu hơn, tránh bị nhầm lẫn như trước đây.
Hai là, phân quyền cho tổ chức hành nghề công chứng được khai thác thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cư trú
Thực trạng xã hội Việt Nam có rất nhiều GCNQSDĐ được cấp cho hộ gia đình sử dụng đất kể từ năm 1996 cho đến hiện nay. Việc xác định thành viên hộ gia đình căn cứ dữ liệu trên sổ hộ khẩu giấy hay dữ liệu quốc gia về cư trú là cần thiết, cấp bách nhằm thực hiện đúng quy định pháp luật khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
Trong bối cảnh các cơ quan chức năng từng bước thu hồi sổ hộ khẩu giấy đã cấp, chậm nhất là đến ngày 31/12/2022, các sổ hộ khẩu giấy không còn giá trị sử dụng. Nếu không được phân quyền để khai thác các thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về cư trú thì công chứng viên chỉ có thể nắm được những thông tin cơ bản của công dân thông qua việc quét mã QR, còn những thông tin khác hoàn toàn không thể thực hiện được.
Do đó thiết nghĩ, các cơ quan chức năng có thẩm quyền nên có những quy định chính thức phân quyền cho các tổ chức hành nghề công chứng được khai thác thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về cư trú để làm căn cứ pháp lý khi chứng nhận các hợp đồng, giao dịch. Chỉ khi được tiếp cận, khai thác các thông tin này, công chứng viên mới thực hiện đúng quy định pháp luật trong quá trình hành nghề của mình.

ThS. Nguyễn Huy Cường
Văn phòng công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh

[1] Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

[2] Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

[3] Nguyễn Huy Cường (2019), Bất cập trong quy định hộ gia đình sử dụng đất của Luật Đất đai năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 02/2019, tr.43,44.

[4] Điều 22 Luật Cư trú năm 2020.

[5] Điều 38 Luật Cư trú năm 2020.

[6] Khoản 14 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: