Thứ hai 24/08/2026 14:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Về điều kiện hành nghề khám, chữa bệnh theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Khám, chữa bệnh là dịch vụ chuyên môn phải do người hành nghề đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Bài viết trình bày về hệ thống các điều kiện hành nghề đối với người hành nghề khám, chữa bệnh và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cho nội dung này.

Abstract: Medical examination and treatment is professional service which must be provided by qualified practitioners who meet the conditions regulated by law. This article presents systems of conditions for practicing medicine and proposes solutions to improving the law related to this subject matter.

Theo Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 thì “người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám, chữa bệnh”. Chỉ có sáu đối tượng được quyền xin cấp chứng chỉ hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 bao gồm: Bác sỹ; điều dưỡng viên; hộ sinh viên; kỹ thuật viên; lương y; người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền. Nhưng để được khám, chữa bệnh, người hành nghề cần phải đáp ứng những điều kiện luật định bao gồm: Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề, điều kiện về hiệu lực của chứng chỉ hành nghề và đáp ứng các nguyên tắc đăng ký hành nghề (Mục 1 Chương III Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009).

1. Điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề

Người hành nghề khám, chữa bệnh phải là cá nhân, có thể là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài[1]. Đối với người Việt Nam, điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề được quy định tại Điều 18 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009. Đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, ngoài những điều kiện như đối với người Việt Nam thì còn phải đáp ứng yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ trong khám, chữa bệnh, có lý lịch tư pháp và có giấy phép lao động tại Việt Nam[2].

Chứng chỉ hành nghề được cấp một lần bởi Bộ Y tế hoặc Sở Y tế theo thẩm quyền, trừ người hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội do Bộ Quốc phòng cấp. Chứng chỉ có giá trị lưu hành trong phạm vi cả nước và có thể bị thu hồi trong những trường hợp luật định[3]. Những nội dung này hiện được cụ thể hóa tại Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám, chữa bệnh (Nghị định 109/2016/NĐ-CP).



Về điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề, pháp luật hiện hành chỉ yêu cầu đối tượng xin cấp chứng chỉ hành nghề có văn bằng chuyên môn phù hợp, có xác nhận thời gian thực hành mà không cần phải qua sát hạch chuyên môn. Trong khi tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, để được cấp chứng chỉ hành nghề y, người hành nghề thường phải trải qua một kỳ thi hoặc sát hạch chuyên môn. Mục tiêu của quy định kiểm tra, sát hạch bắt buộc và cấp chứng chỉ hành nghề nhằm đảm bảo người hành nghề đạt các chuẩn mực chuyên môn bắt buộc và thực hành y khoa tốt, bảo đảm an toàn điều trị và bảo vệ người bệnh, cộng đồng. Ngoài ra, người hành nghề còn phải đáp ứng các yêu cầu khác như đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm thực hành… tương tự như hành nghề luật, Thừa phát lại, quản lý tài sản…

Quy định như Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã đáp ứng được yêu cầu đơn giản hóa thủ tục, thuận lợi cho việc xét cấp chứng chỉ hành nghề cho tất cả nhân viên y tế công lập và tư nhân trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, lại không phù hợp với những đòi hỏi khắt khe về chuyên môn của ngành y, ngành đặc biệt liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người và xu thế chung của các nước trên thế giới. Trên thực tế, mặc dù cùng một chứng chỉ chuyên môn như bác sĩ đa khoa hoặc trung cấp điều dưỡng, những người tốt nghiệp chính quy tại các trường đào tạo công lập thường có kỹ năng chuyên môn được nhiều cơ sở khám, chữa bệnh đánh giá cao hơn. Nếu không có sự sát hạch thì sự chênh lệch, thậm chí không đạt về chuẩn thực hành chuyên môn là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Bên cạnh đó, ngoài kỹ năng chuyên môn còn đòi hỏi người hành nghề phải có đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp và cả kiến thức pháp lý. Tuy nhiên, theo Nghị định số 109/2016/NĐ-CP, việc đánh giá các yếu tố này hoàn toàn chỉ dựa trên nhận xét chủ quan của người hướng dẫn thực hành và người phụ trách đơn vị thực hành mà không có một tiêu chí cụ thể nào để xác định. Do đó, người được cấp chứng chỉ hành nghề có thể vẫn chưa thực sự đảm bảo đầy đủ mọi khả năng để hành nghề tốt nhất, chưa được trang bị kĩ năng tự bảo vệ mình trước các rắc rối, rủi ro nghề nghiệp. Trong khi đó, với nhiều ngành dịch vụ khác như: Môi giới bất động sản, luật sư, Thừa phát lại… người được cấp thẻ hành nghề phải trải qua khóa học về nghề và một kỳ thi, kết hợp với quá trình tập sự hoặc thực hành chuyên môn mới được cấp thẻ hoặc chứng chỉ hành nghề.

2. Về hiệu lực của chứng chỉ hành nghề

Ngành y là ngành nghề đặc biệt, đòi hỏi người hành nghề phải liên tục thực hành và học hỏi. Mặt khác, khối lượng kiến thức của nhân loại để phục vụ khám, chữa bệnh rất lớn và luôn thay đổi. Nếu đã đạt được bằng cấp mà không chịu học hỏi, không chịu tiếp thu kiến thức, kỹ thuật mới thì sẽ bị tụt hậu. Những điều này cần phải được học, được bồi dưỡng và đào tạo y khoa liên tục. Hầu hết các nước phát triển đều xác định thời hạn có hiệu lực của chứng chỉ hành nghề phổ biến là 05 năm, sau đó, người hành nghề phải chứng minh việc cập nhật kiến thức y khoa liên tục và thỏa mãn các điều kiện khác mới được tiếp tục hành nghề. Chứng chỉ hành nghề có thời hạn là cơ hội để người hành nghề liên tục cập nhật kiến thức y khoa, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đồng thời giúp giám sát tốt hơn hoạt động của người hành nghề.

Tuy nhiên, hiện nay, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về y tế cấp một lần duy nhất và có giá trị toàn quốc. Quy định này được xem là tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp và thu hồi chứng chỉ với tư cách là thủ tục hành chính nhưng lại không phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Khi hội nhập vào khu vực kinh tế chung các nước phải thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ hành nghề. Hầu hết các nước đều cấp chứng chỉ y dược theo niên hạn[4]. Hội nhập quốc tế đòi hỏi phải tuân thủ điều kiện chung thì khi sang nước khác hành nghề mới được công nhận. Vì sự khác biệt trên, các bác sỹ ở Việt Nam vẫn chưa được công nhận hành nghề khi ra nước ngoài.

Một thực tế nữa, khi hội nhập, sẽ có bác sỹ nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, trong đó, có cả bác sỹ lành nghề và những bác sĩ không đủ điều kiện hành nghề ngay trên đất nước họ nên muốn đi tìm môi trường làm việc khác. Chứng chỉ hành nghề được cấp có thời hạn và có kiểm soát trình độ cũng là cách kiểm soát chất lượng lực lượng lao động nước ngoài đến nước ta hành nghề.

Bên cạnh đó, hệ thống cấp chứng chỉ hành nghề khi được phân cấp cho địa phương, mặc dù thuận lợi về thủ tục để cấp được nhiều giấy chứng nhận trong một thời gian ngắn nhưng sẽ khó có hiệu lực và uy tín như của hệ thống cấp chứng chỉ hành nghề quốc gia và không uy tín bằng hệ thống chứng chỉ được cấp bởi một tổ chức chuyên môn được công nhận chung của quốc gia như nhiều nước trên thế giới đang áp dụng, bởi lẽ: (i) Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ có thể bị diễn giải khác nhau ở các địa phương; (ii) Dễ xảy ra tiêu cực trong quá trình cấp chứng chỉ và giám sát; (iii) Khó khăn trong việc tra cứu trình độ, văn bằng chuyên môn của các cá nhân hành nghề ở các tỉnh khác nhau. Điều này đã trực tiếp ảnh hưởng tới khả năng của Việt Nam trong việc xác nhận yêu cầu công nhận văn bằng tối thiểu theo thỏa thuận của ASEAN. Kết quả là, các quốc gia có tiêu chuẩn hành nghề chuyên môn cao hơn như: Singapore, Philippines, Malaysia và Thailand nhiều khả năng sẽ không sẵn sàng chấp nhận chứng chỉ hành nghề do các cơ quan cấp phép khác nhau của Việt Nam cấp. Quy định này có thể làm cho Việt Nam không đáp ứng được những yêu cầu trong các thỏa thuận với các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN).

Để khắc phục hạn chế của việc cấp chứng chỉ một lần, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 có quy định trường hợp phải thu hồi chứng chỉ hành nghề khi người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời hạn 02 năm liên tiếp hoặc không hành nghề trong 02 năm liên tục. Tuy nhiên, điều này trên thực tế gần như không có tính khả thi vì cơ quan quản lý nhà nước không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng kiểm soát được hoạt động của số lượng rất lớn người hành nghề khám, chữa bệnh với đủ chức danh chuyên môn: Bác sỹ, kỹ thuật viên, điều dưỡng…, nhất là khu vực y tế tư nhân để xem xét thu hồi chứng chỉ. Hơn nữa, những cơ sở đủ điều kiện tiến hành đào tạo liên tục cho cán bộ y tế theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế không phải là phổ biến và hiện chỉ giới hạn trong khu vực y tế công, cơ hội tiếp cận những khóa đào tạo này không phải lúc nào cũng thuận lợi, đặc biệt là đối với người hành nghề ở vùng sâu, vùng xa, y tế tư nhân hay các chuyên gia y tế đã hưu trí. Thực tế cho thấy, đến năm 2016, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh - nơi tập trung người hành nghề đông nhất cả nước chưa thu hồi chứng chỉ hành nghề nào vì không cập nhật kiến thức y khoa trong 02 năm liên tục. Chứng chỉ có hiệu lực suốt đời đã không tạo ra động lực để người thực hiện dịch vụ khám, chữa bệnh nỗ lực phấn đấu học tập, nâng cao trình độ.

3. Về nguyên tắc đăng ký hành nghề

Điều 33 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định người hành nghề “được ký hợp đồng hành nghề khám, chữa bệnh với các cơ sở khám, chữa bệnh nhưng chỉ được chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cho một cơ sở khám, chữa bệnh”. Như vậy, các trưởng khoa và nhân viên y tế của một cơ sở khám, chữa bệnh công lập có thể đứng tên mở một phòng khám ngoài giờ, nhưng người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh nếu đồng thời là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật thì không được. Các giám đốc trung tâm y tế huyện, người đứng đầu trung tâm y tế dự phòng, trung tâm y tế các quận, huyện, thị xã, trung tâm phòng chống bệnh xã hội, trung tâm y tế các bộ, ngành, y tế cơ quan đơn vị và các trưởng trạm y tế, đồng thời là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cũng bị ràng buộc bởi quy định này, mặc dù nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao, nguồn nhân lực cung ứng cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng đặc biệt là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất hạn chế và họ lại người có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp với nhu cầu nâng cao thu nhập chính đáng.

Do đó, theo Thông tư số 41/2015/TT-BYT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề đã đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám, chữa bệnh được đăng ký làm việc ngoài giờ tại cơ sở khám, chữa bệnh khác trên cùng địa bàn tỉnh nhưng tổng thời gian làm ngoài giờ không quá 200 giờ theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012. Khoản 7 Điều 12 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP mở rộng phạm vi giới hạn thời gian làm ngoài giờ không quá 200 giờ cho tất cả người hành nghề. Quy định này mặc dù khá cụ thể nhưng chưa có tính khả thi. Chẳng hạn, nếu người hành nghề đồng thời là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một phòng khám chuyên khoa tư ngoài giờ với thời gian hoạt động là 02 giờ/ngày và 01 tuần làm việc 05 ngày thì chỉ cần hoạt động 10 tuần là đã đạt đến mức 200 giờ theo quy định Bộ luật Lao động năm 2012. Như vậy, quy định này gần như không thể được tuân thủ nghiêm chỉnh trên thực tế. Không nên đặt vấn đề giới hạn thời gian làm thêm với người hành nghề, do sự cần thiết của dịch vụ này đối với xã hội và suy cho cùng nên để các bên tự quyết định đối với các việc dân sự của mình.

Một vấn đề cũng đáng lưu ý là, hiện nay, ở hầu hết các bệnh viện công lập, những bác sỹ có trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp thường được bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý, trong đó, có quản lý phòng hoặc ban giám đốc bệnh viện. Khi giữ các chức danh này, họ phải tốn nhiều thời gian cho hoạt động hành chính, điều hành, trong khi họ vốn chỉ giỏi về y học lâm sàng. Thực trạng này có thể gây ra tình trạng “vừa mất một bác sỹ giỏi, vừa thêm một nhà quản lý tồi”, gây ra sự lãng phí lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao vốn đã rất thiếu thốn trong Ngành Y. Cần nhận thức rằng, người làm chuyên môn giỏi không có nghĩa là các nhà quản trị giỏi, quản lý bệnh viện là một công việc khác hẳn với làm chuyên môn y khoa. Không thể phủ nhận việc những người giỏi chuyên môn y khoa đều có một tố chất nào đó và chính tố chất ấy giúp họ có thể hiểu nhiều về tính đặc trưng nghề nghiệp trong công tác quản lý. Tuy nhiên, công tác quản lý bệnh viện, quản lý y tế cần có nhiều kiến thức về quản trị hơn là kiến thức y khoa uyên bác. Trưởng phòng hành chính quản trị và phòng tổ chức cán bộ trong bệnh viện cần kiến thức về quản trị nhân sự và pháp luật hơn là trình độ chuyên khoa. Trưởng phòng vật tư thiết bị y tế không nhất thiết phải do một bác sĩ lâm sàng đảm nhận để rồi loay hoay với số liệu, giấy tờ, không còn thời gian đầu tư cho chuyên môn. Khi xu hướng tự chủ đối với các bệnh viện công trở thành bắt buộc thì yêu cầu thay đổi tư duy trong sử dụng nhân lực càng cần phải được xem xét thấu đáo.

Ngoài ra, người hành nghề khám, chữa bệnh hiện nay phải tốn nhiều thời gian để nhập liệu và tự làm những công việc mang tính giấy tờ hành chính như tự tay ghi hoặc nhập liệu đơn thuốc theo đúng yêu cầu bảo hiểm y tế để tránh xuất toán, vào sổ theo dõi bệnh nhân, ghi hồ sơ bệnh án[5]. Những công việc này ở nhiều nước do các thư ký y khoa đảm nhận để bác sỹ có thể tập trung thời gian khám, chữa bệnh cho bệnh nhân. Tuy nhiên, chức danh thư ký y khoa hiện vẫn chưa được công nhận chính thức tại Việt Nam. Đối với khối khám, chữa bệnh công lập thì các cơ sở khám, chữa bệnh sử dụng một số điều dưỡng trợ giúp bác sỹ trong công việc sổ sách, giấy tờ. Dù sao đây cũng không phải là phương cách phù hợp về lâu dài vì điều dưỡng là người có trình độ cao đẳng trở lên và có kỹ năng lâm sàng chăm sóc người bệnh nên nếu để điều dưỡng làm công việc của thư ký y khoa (chỉ cần nghiệp vụ thư ký trung cấp và có một số kiến thức cơ bản về y khoa) thì vừa thiếu chuyên nghiệp vừa lãng phí nguồn nhân lực chuyên môn.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần bổ sung điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề theo hướng không chỉ cần điều kiện bằng cấp và thời gian thực hành mà còn cần phải qua sát hạch hoặc thi để cấp chứng chỉ lần đầu do tính chuyên môn cao và tầm quan trọng của ngành đối với sức khoẻ con người. Bên cạnh đó, cũng cần tạo dựng hệ thống chỉ do một cơ quan có thẩm quyền tổ chức sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề thống nhất ở cấp quốc gia. Trước mắt, có thể do Bộ Y tế đảm nhận, về lâu dài có thể chuyển giao cho tổ chức xã hội dân sự là hội nghề nghiệp thực hiện (như các nước phát triển).

Thứ hai, cần thiết quy định về thời hạn có hiệu lực của chứng chỉ hành nghề là 05 năm, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Theo đó, để được cấp chứng chỉ hành nghề cho các lần sau chỉ cần có chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục và không bị gián đoạn thời gian hành nghề quá 02 năm liên tục mà không cần phải sát hạch lại.

Thứ ba, loại bỏ quy định giới hạn 200 giờ làm thêm của người hành nghề. Người hành nghề được hành nghề tại một hoặc nhiều cơ sở khám, chữa bệnh nhưng không được hành nghề cùng một thời gian tại các cơ sở khám, chữa bệnh khác nhau. Người hành nghề phải đảm bảo hợp lý về thời gian đi lại giữa các địa điểm hành nghề đăng ký.

Thứ tư, cần thay đổi quan niệm về nhân sự trong quản lý y tế nói chung và cơ sở khám, chữa bệnh nói riêng. Không nhất thiết người giữ chức vụ quản lý phòng, ban trong cơ sở khám, chữa bệnh hoặc giám đốc các bệnh viện phải là bác sỹ giỏi chuyên môn mà chỉ cần có một số kiến thức nhất định về y tế và có quyền tham khảo các ý kiến từ những người có chuyên môn.

Thứ năm, cần ghi nhận chức danh thư ký y khoa tham gia vào hoạt động khám, chữa bệnh để trợ giúp cho bác sỹ trong việc sổ sách, giấy tờ, chức danh này vừa cần có nghiệp vụ thư ký vừa cần có một số kiến thức nhất định về y tế nhưng không cần có các kỹ năng như điều dưỡng.

Tóm lại, những quy định của pháp luật Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực của các nhà lập pháp trong việc xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật chặt chẽ về điều kiện hành nghề khám, chữa bệnh - một lĩnh vực đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định cần được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.

ThS. Đinh Thị Thanh Nga

Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 18, 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

[2]. Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

[3]. Điều 26, 27, 29 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

[4].TháiBình, http://suckhoedoisong.vn/tai-sao-can-cap-chung-chi-hanh-nghe-y-duoc-theo-thoi-han-n113008.html, ngày 04/3/2016.

[5]. Tăng Hà Nam Anh, Bác sĩ chúng tôi mất đến 40% cho vở sạch, chữ đẹp, Báo Tuổi trẻ, ngày 12/3/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: