Thứ hai 08/06/2026 18:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc về giải quyết tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Loại tranh chấp này trong thực tiễn không nhiều, nhưng việc giải quyết tranh chấp lại tương đối phức tạp và khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập trong quy định của pháp luật có liên quan.

1. Quyền yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định những người sau đây có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản: Đương sự (bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án), chấp hành viên (khoản 1 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “Đương sự, chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”). Tuy nhiên, khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản là: Người mua được tài sản bán đấu giá và chấp hành viên (khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014: “Người mua được tài sản bán đấu giá, chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản”).

Như vậy, theo quy định hiện hành, ngoài chấp hành viên thì chỉ người mua được tài sản bán đấu giá mới có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá; còn người được thi hành án và người phải thi hành án không có quyền này. Từ những quy định này mà trong thực tiễn đã gặp phải vướng mắc đó là người phải thi hành án (là người bị chấp hành viên kê biên tài sản để bán đấu giá) có căn cứ cho rằng việc bán đấu giá không thực hiện đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ nhưng họ lại không có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá; trong khi người mua được tài sản và chấp hành viên là những người tham gia bán đấu giá thì không yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản. Cho nên đã dẫn đến việc người phải thi hành án khiếu nại nhiều nơi gây kéo dài thời gian thi hành án, cơ quan thi hành án thì không giao được tài sản cho người mua tài sản bán đấu giá dẫn đến người mua tài sản bán đấu giá khiếu nại cơ quan thi hành án dân sự và rất nhiều hệ lụy khác.

Ngoài ra, quy định chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản còn tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Cụ thể là chấp hành viên nào mới có quyền yêu cầu: Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có liên quan đến tài sản bán đấu giá hay bất kỳ chấp hành viên nào. Thực tế chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể vấn đề này. Tuy nhiên, quan điểm được đồng thuận nhiều nhất là chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có liên quan tài sản bán đấu giá vì họ là người được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện việc bán đấu giá tài sản và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên quan đến việc bán đấu giá tài sản.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Thẩm quyền giải quyết vụ án thực hiện theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong thực tiễn có một vấn đề vẫn còn quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, việc nguyên đơn khởi kiện Trung tâm bán đấu giá tài sản (có trụ sở tại huyện A, tỉnh N) tại Tòa án nhân dân huyện B nơi tổ chức việc bán đấu giá tài sản và là nơi có tài sản bán đấu giá để yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản có đúng quy định không. Vấn đề là, thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện A nơi bị đơn là Trung tâm bán đấu giá tài sản có trụ sở (theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này) hay Tòa án nhân dân huyện B nơi hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá được thực hiện (theo điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết).

Quan điểm xác định Tòa án nhân dân huyện B có thẩm quyền giải quyết cho rằng, việc tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản xuất phát từ hợp đồng bán đấu giá giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện B với Trung tâm bán đấu giá tài sản và hợp đồng mua bán giữa Trung tâm bán đấu giá tài sản với người mua được tài sản bán đấu giá. Cho nên nguyên đơn có thể viện dẫn quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện B. Quan điểm xác định Tòa án nhân dân huyện A có thẩm quyền giải quyết thì cho rằng, nguyên đơn không tranh chấp hợp đồng với bị đơn mà đơn thuần là tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Xác định bị đơn

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm (khoản 1 Điều 68). Tuy nhiên, trong thực tiễn có trường hợp khi tham gia tố tụng, bị đơn cho rằng mình không phải là bị đơn vì không có quyền, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án đối với nguyên đơn. Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh N thuộc Sở Tư pháp tỉnh N tổ chức vào năm 2016 và xác định trong đơn khởi kiện bị đơn là Sở Tư pháp tỉnh N vì là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của Trung tâm bán đấu giá tài sản do tại thời điểm khởi kiện, Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh N đã giải thể. Khi tham gia tố tụng, bị đơn cho rằng mình không phải là bị đơn vì việc bán đấu giá tài sản là do Trung tâm bán đấu giá thực hiện, nay Trung tâm bán đấu giá đã giải thể nên không còn liên quan gì đến Sở Tư pháp tỉnh N, nếu cho rằng Sở Tư pháp tỉnh N là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của Trung tâm bán đấu giá tài sản thì phải chỉ ra căn cứ pháp lý.

Nghiên cứu quy định pháp luật thấy rằng, Trung tâm bán đấu giá tài sản (Tổ chức bán đấu giá tài sản) được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân, có thu, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Cho nên sau khi giải thể, các khoản phí mà cá nhân, cơ quan, tổ chức còn nợ Trung tâm bán đấu giá thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường sẽ giao cho một cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thu và nộp vào ngân sách nhà nước; còn tài sản khác của Trung tâm bán đấu giá sẽ bàn giao cho cơ quan khác theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 và năm 2015 có quy định về việc giải thể pháp nhân. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định về việc kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân là đơn vị hành chính sự nghiệp bị giải thể và không có quy định cụ thể cơ quan, tổ chức nào phải kề thừa trách nhiệm dân sự của pháp nhân là Trung tâm bán đấu già tài sản bị giải thể. Trong khi đó, khi giải quyết vụ án, Tòa án phải xác định ai là bị đơn trong vụ án và căn cứ pháp lý là gì, để từ đó xác định nghĩa vụ dân sự (nếu có) của họ đối với nguyên đơn và đương sự khác trong vụ án.

4. Thời hiệu khởi kiện

Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 140 Bộ luật Dân sự năm 2015 đều có chung quy định: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Thực tiễn là trong quá trình giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, đã có bị đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản của nguyên đơn và đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án vì thời hiệu khởi kiện đã hết. Vấn đề đặt ra là, tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản có áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không? Nếu có thì thời hiệu khởi kiện là bao lâu.

Nghiên cứu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không có quy định cụ thể thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Luật Bán đấu giá tài sản có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 cũng không có quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Vì vậy, trong thực tiễn đã có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện vì pháp luật không có quy định. Quan điểm thứ hai cho rằng tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, vì vậy, phải áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về hợp đồng để xem xét thời hiệu khởi kiện còn hay không. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Hơn nữa, Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã quy định rất rõ là thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; (iv) Trường hợp khác do luật quy định.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: