Chủ nhật 08/02/2026 05:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc về giải quyết tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Loại tranh chấp này trong thực tiễn không nhiều, nhưng việc giải quyết tranh chấp lại tương đối phức tạp và khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập trong quy định của pháp luật có liên quan.

1. Quyền yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định những người sau đây có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản: Đương sự (bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án), chấp hành viên (khoản 1 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “Đương sự, chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”). Tuy nhiên, khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản là: Người mua được tài sản bán đấu giá và chấp hành viên (khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014: “Người mua được tài sản bán đấu giá, chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản”).

Như vậy, theo quy định hiện hành, ngoài chấp hành viên thì chỉ người mua được tài sản bán đấu giá mới có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá; còn người được thi hành án và người phải thi hành án không có quyền này. Từ những quy định này mà trong thực tiễn đã gặp phải vướng mắc đó là người phải thi hành án (là người bị chấp hành viên kê biên tài sản để bán đấu giá) có căn cứ cho rằng việc bán đấu giá không thực hiện đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ nhưng họ lại không có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá; trong khi người mua được tài sản và chấp hành viên là những người tham gia bán đấu giá thì không yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản. Cho nên đã dẫn đến việc người phải thi hành án khiếu nại nhiều nơi gây kéo dài thời gian thi hành án, cơ quan thi hành án thì không giao được tài sản cho người mua tài sản bán đấu giá dẫn đến người mua tài sản bán đấu giá khiếu nại cơ quan thi hành án dân sự và rất nhiều hệ lụy khác.

Ngoài ra, quy định chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản còn tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Cụ thể là chấp hành viên nào mới có quyền yêu cầu: Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có liên quan đến tài sản bán đấu giá hay bất kỳ chấp hành viên nào. Thực tế chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể vấn đề này. Tuy nhiên, quan điểm được đồng thuận nhiều nhất là chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có liên quan tài sản bán đấu giá vì họ là người được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện việc bán đấu giá tài sản và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên quan đến việc bán đấu giá tài sản.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Thẩm quyền giải quyết vụ án thực hiện theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong thực tiễn có một vấn đề vẫn còn quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, việc nguyên đơn khởi kiện Trung tâm bán đấu giá tài sản (có trụ sở tại huyện A, tỉnh N) tại Tòa án nhân dân huyện B nơi tổ chức việc bán đấu giá tài sản và là nơi có tài sản bán đấu giá để yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản có đúng quy định không. Vấn đề là, thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện A nơi bị đơn là Trung tâm bán đấu giá tài sản có trụ sở (theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này) hay Tòa án nhân dân huyện B nơi hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá được thực hiện (theo điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết).

Quan điểm xác định Tòa án nhân dân huyện B có thẩm quyền giải quyết cho rằng, việc tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản xuất phát từ hợp đồng bán đấu giá giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện B với Trung tâm bán đấu giá tài sản và hợp đồng mua bán giữa Trung tâm bán đấu giá tài sản với người mua được tài sản bán đấu giá. Cho nên nguyên đơn có thể viện dẫn quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện B. Quan điểm xác định Tòa án nhân dân huyện A có thẩm quyền giải quyết thì cho rằng, nguyên đơn không tranh chấp hợp đồng với bị đơn mà đơn thuần là tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Xác định bị đơn

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm (khoản 1 Điều 68). Tuy nhiên, trong thực tiễn có trường hợp khi tham gia tố tụng, bị đơn cho rằng mình không phải là bị đơn vì không có quyền, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án đối với nguyên đơn. Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh N thuộc Sở Tư pháp tỉnh N tổ chức vào năm 2016 và xác định trong đơn khởi kiện bị đơn là Sở Tư pháp tỉnh N vì là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của Trung tâm bán đấu giá tài sản do tại thời điểm khởi kiện, Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh N đã giải thể. Khi tham gia tố tụng, bị đơn cho rằng mình không phải là bị đơn vì việc bán đấu giá tài sản là do Trung tâm bán đấu giá thực hiện, nay Trung tâm bán đấu giá đã giải thể nên không còn liên quan gì đến Sở Tư pháp tỉnh N, nếu cho rằng Sở Tư pháp tỉnh N là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của Trung tâm bán đấu giá tài sản thì phải chỉ ra căn cứ pháp lý.

Nghiên cứu quy định pháp luật thấy rằng, Trung tâm bán đấu giá tài sản (Tổ chức bán đấu giá tài sản) được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân, có thu, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Cho nên sau khi giải thể, các khoản phí mà cá nhân, cơ quan, tổ chức còn nợ Trung tâm bán đấu giá thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường sẽ giao cho một cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thu và nộp vào ngân sách nhà nước; còn tài sản khác của Trung tâm bán đấu giá sẽ bàn giao cho cơ quan khác theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 và năm 2015 có quy định về việc giải thể pháp nhân. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định về việc kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân là đơn vị hành chính sự nghiệp bị giải thể và không có quy định cụ thể cơ quan, tổ chức nào phải kề thừa trách nhiệm dân sự của pháp nhân là Trung tâm bán đấu già tài sản bị giải thể. Trong khi đó, khi giải quyết vụ án, Tòa án phải xác định ai là bị đơn trong vụ án và căn cứ pháp lý là gì, để từ đó xác định nghĩa vụ dân sự (nếu có) của họ đối với nguyên đơn và đương sự khác trong vụ án.

4. Thời hiệu khởi kiện

Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 140 Bộ luật Dân sự năm 2015 đều có chung quy định: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Thực tiễn là trong quá trình giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, đã có bị đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản của nguyên đơn và đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án vì thời hiệu khởi kiện đã hết. Vấn đề đặt ra là, tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản có áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không? Nếu có thì thời hiệu khởi kiện là bao lâu.

Nghiên cứu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không có quy định cụ thể thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Luật Bán đấu giá tài sản có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 cũng không có quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Vì vậy, trong thực tiễn đã có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện vì pháp luật không có quy định. Quan điểm thứ hai cho rằng tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, vì vậy, phải áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về hợp đồng để xem xét thời hiệu khởi kiện còn hay không. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Hơn nữa, Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã quy định rất rõ là thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; (iv) Trường hợp khác do luật quy định.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: