Chủ nhật 15/03/2026 09:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Theo khái niệm pháp lý trên, Nhà nước chỉ thừa nhận mục đích duy nhất của nhà ở là “để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Vì vậy, tất cả các hoạt động liên quan đến việc tạo lập nhà ở của hộ gia đình, cá nhân đều có thể được xem nhằm mục đích duy nhất là “để ở”.

Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.

Việc xác định mục đích nhà ở như trên đang đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến nhà ở cụ thể như sau:

1. Không có căn cứ để xác định mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam có nhiều hình thức tạo lập nhà ở (góp vốn, mua nhà ở thương mại đầu tư xây dựng nhà...). Sau khi tạo lập, họ được bán nhà nếu không có nhu cầu ở. Pháp luật hiện hành cũng không hạn chế số lượng nhà ở được sở hữu của mỗi hộ gia đình, cá nhân trong nước. Căn cứ theo quy định về mục đích của nhà ở tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005, mọi giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân đều có thể được xem không vì mục đích sinh lợi (chỉ để ở), hoàn toàn là giao dịch dân sự, không phải là hoạt động thương mại.

Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, nhà ở là một loại bất động sản có thể đưa vào kinh doanh. Việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua nhà để bán vì mục đích sinh lợi được xem là kinh doanh bất động sản (1). Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản, thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật. Luật Kinh doanh bất động sản cũng quy định cấm kinh doanh bất động sản không đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 16). Quy định này hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý đối với giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân, vì không có căn cứ để cho rằng, hoạt động của họ là kinh doanh bất động sản (vì mục đích sinh lợi). Cá nhân có quyền cho rằng, giao dịch của họ chỉ nhằm mục đích để ở theo quy định của Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005. Vì vậy, khi tham gia giao dịch mua bán nhà ở (thậm chí vì mục đích sinh lợi - kinh doanh bất động sản), họ cũng không phải đăng ký kinh doanh bất động sản và không bị coi là vi phạm pháp luật.

Lợi dụng bất cập trên, nhiều doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nhưng không sử dụng chức năng này để kinh doanh mà kinh doanh với tư cách cá nhân để hưởng lợi về thuế, về pháp lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về dân sự (không phải là pháp luật về thương mại). Cụ thể: Người đứng đầu doanh nghiệp thực hiện đầu tư, tạo lập nhà ở nhưng không đưa vào tài sản doanh nghiệp mà để tài sản dưới dạng sở hữu của các cá nhân (của người đứng đầu doanh nghiệp, thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên hoặc người thân của họ), sau đó chuyển nhượng lại để thu lợi nhuận với tư cách các chủ sở hữu cá nhân. Điều này mặc nhiên, họ chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng nhà ở, không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Hoạt động “kinh doanh” của họ chỉ thuần túy là hoạt động dân sự (tạo lập nhà để ở và khi không có nhu cầu ở, họ bán đi), không phải kinh doanh bất động sản, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về dân sự. Nhiều doanh nghiệp chỉ có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản cũng tham gia kinh doanh với hình thức trên và vô hình chung, xã hội cũng đang coi họ là những “doanh nghiệp kinh doanh bất động sản”.

Trên thực tế, thị trường bất động sản của nước ta thời gian qua, tồn tại một lượng rất lớn các nhà đầu tư bất động sản chuyên nghiệp. Họ là các cá nhân chuyên mua đi, bán lại nhà ở vì mục đích sinh lợi. Hoạt động kinh doanh của họ diễn ra mạnh mẽ, đã góp phần gây nên những “cơn sóng” trên thị trường bất động sản. Đây thực chất là hoạt động thương mại. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động của họ lại không phải là hoạt động thương mại mà chỉ đơn thuần là giao dịch dân sự.

2. Bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân và các vấn đề liên quan đến nhà ở

Thứ nhất, pháp luật thương mại không điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở vì mục đích sinh lợi của cá nhân

Nhà ở là “hàng hóa”(2) và giao dịch mua bán nhà ở trên thị trường bất động sản có thể được coi là hoạt động “mua bán hàng hóa” (3) theo quy định của Luật Thương mại năm 2005. Về mặt thực chất, giao dịch mua bán nhà ở của nhiều cá nhân trên thực tế là nhằm mục đích sinh lợi (kinh doanh bất động sản), là hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại (4). Tuy nhiên, không có quy định của Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh hoạt động này, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 về việc áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan, thì hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác, thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác, thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.

Mua bán nhà ở là hoạt động thương mại đặc thù (do nhà ở là hàng hóa đặc thù) nên trước hết, giao dịch mua bán nhà ở chịu sự điều chỉnh của luật đặc thù: Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật Nhà ở năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trường hợp luật đặc thù không quy định, thì áp dụng quy định của Luật Thương mại năm 2005 và khi không được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 và luật đặc thù thì “áp dụng”(5) quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, do quy định về mục đích của nhà ở theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 nên Luật Kinh doanh bất động sản không thể điều chỉnh được hành vi của các cá nhân thực chất kinh doanh bất động sản nhưng không đăng ký kinh doanh. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định: Việc mua bán, chuyển nhượng nhà ở giữa tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản với tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản chỉ là “giao dịch có liên quan đến kinh doanh bất động sản” (6). Vì vậy, Luật Kinh doanh bất động sản cũng không có quy định về thương mại để điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân.

Do xác định mục đích của nhà ở là “để ở” - mục đích dân sự, nên pháp luật về nhà ở chỉ có những quy định về dân sự điều chỉnh mua bán nhà ở, cụ thể:

Điều 63 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Việc mua bán nhà ở phải lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở). Hợp đồng về nhà ở phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Nhà ở, quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định này”. Khoản 2 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Hợp đồng về nhà ở, văn bản tặng cho nhà ở phải thể hiện các nội dung: Tên và địa chỉ của các bên; mô tả đặc điểm của nhà ở; giá và phương thức thanh toán nếu trong hợp đồng có thoả thuận về giá; thời gian giao nhận nhà ở; thời gian bảo hành (nếu có); thời hạn cho thuê; cho mượn, cho ở nhờ; uỷ quyền quản lý; quyền và nghĩa vụ của các bên; cam kết của các bên; các thỏa thuận khác; ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản; chữ ký của các bên (nếu là tổ chức thì phải đóng dấu và ghi rõ chức vụ của người ký)”.

Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định: “Các giao dịch về nhà ở phải được lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở) có các nội dung quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở, Bộ luật Dân sự, Điều 63 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, tuân thủ các mẫu và nội dung của hợp đồng quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo” (7). Trong các mẫu hợp đồng mua bán nhà ở (phụ lục 5), văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở (hình thành trong tương lai) – phụ lục 14 và hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (phụ lục 16), pháp luật áp dụng điều chỉnh trong các hợp đồng này là Bộ luật Dân sự và các quy định của pháp luật nhà ở (không áp dụng Luật Thương mại); các quy định trong hợp đồng thể hiện tính dân sự (nhất là phạt vi phạm theo thỏa thuận của các bên) và việc giải quyết tranh chấp (nếu có) tại Tòa án (không có cơ chế giải quyết bằng Trọng tài thương mại).

Cũng do không thể xác định được mục đích sinh lợi trong giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân, nên cũng không thể áp dụng Luật Thương mại năm 2005 để điều chỉnh hoạt động này (trừ trường hợp các cá nhân thừa nhận mục đích sinh lợi trong nội dung hợp đồng hoặc “chọn luật áp dụng là Luật Thương mại” (8).

Trong khi hoạt động mua bán hàng hóa nhỏ lẻ được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại (Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không có đăng ký kinh doanh), thì hoạt động mua bán nhà ở với hàng hóa là nhà ở giá trị cao, được rất nhiều chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực tài chính) tham gia sôi động, lợi nhuận thu được lớn, ảnh hưởng nhiều đối với kinh tế vĩ mô lại chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật về dân sự, bởi không có quy định nào của pháp luật về thương mại điều chỉnh. Đây cũng là một bất cập về mặt khoa học pháp lý bởi hành vi thương mại không được điều chỉnh bằng pháp luật thương mại mà được điều chỉnh bằng pháp luật dân sự.

Thứ hai, quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch mua bán nhà ở cho thấy, Nhà nước đối xử với các giao dịch này như hoạt động thương mại

Mặc dù pháp luật hiện hành không quy định căn cứ để xác định mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở của các cá nhân, nhưng qua quy định thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản, trong đó có mua bán nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai của các cá nhân cho thấy, Nhà nước đối xử với các giao dịch này như hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi.

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đã “đánh thuế” đối với cá nhân như chủ thể kinh doanh với mức thuế suất 25% trên thu nhập chịu thuế và 2% trên “doanh thu” (9). Cá nhân khi chuyển nhượng nhà ở thực chất là bị “lỗ” do biến động thị trường cũng phải chịu thuế vì cơ quan thuế không chấp nhận giá bán được ghi trên hợp đồng và ấn định mức giá trên cơ sở tham khảo giá thị trường tại các “sàn giao dịch bất động sản”(10); việc ủy quyền nhà ở cũng đã bị coi là “chuyển nhượng”(11) và phải chịu thuế thu nhập.

Qua đó cho thấy, sự bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân. Mặc dù theo quy định, cá nhân chỉ là người mua nhà ở để ở, không kinh doanh vì mục đích sinh lợi nhưng lại thu thuế không khác gì chủ thể kinh doanh. Bất cập này còn thể hiện ở sự “lúng túng” của Bộ Tài chính trong việc tính thuế thu nhập cá nhân - chỉ trong vòng hơn 2 năm trở lại đây, Bộ Tài chính đã ban hành bốn thông tư và Tổng cục Thuế đã ban hành rất nhiều công văn để hướng dẫn điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản (nhất là mua bán nhà ở thương mại, nhà ở hình thành trong tương lai).

Thứ ba, bất cập trong quy định xử phạt hành chính về việc sử dụng nhà ở sai mục đích

Khoản 4 Điều 52 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở quy định: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nhà ở trái mục đích quy định”. Mục đích của nhà ở căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 là “để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Mới đây, Bộ Xây dựng có văn bản hướng dẫn Sở Xây dựng tỉnh Bình Thuận về xử phạt vi phạm đối với những trường hợp sử dụng nhà ở sai mục đích theo quy định trên(12).

Điều này không phù hợp với thực tế và gây ra sự phản ứng mạnh mẽ trong xã hội bởi hầu như mọi tổ chức, cá nhân có nhà ở thuận tiện kinh doanh (nhà ở vị trí mặt tiền đường, khu dân cư…) đều sử dụng nhà ở để kinh doanh. Việc kinh doanh của họ được thực hiện đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về thuế.

Như vậy, rõ ràng việc xác định mục đích của nhà ở theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề, bất cập liên quan đến nhà ở và giao dịch mua bán nhà ở.

3. Kiến nghị, đề xuất

Qua những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần mở rộng mục đích của nhà ở trong khái niệm “nhà ở” quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định mục đích sinh lợi hay mục đích khác phù hợp với thực tiễn giao dịch, kinh doanh nhà ở, khắc phục các bất cập pháp lý do việc xác định mục đích nhà ở như hiện nay.

Khái niệm nhà ở tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 nên được quy định như sau: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục đích để ở và các mục đích khác không trái pháp luật”.

Quy định như trên nhằm mục đích sau: Một là, tạo cơ sở xác định được mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở. Chủ thể tham gia giao dịch về nhà ở không thể tiếp tục cho rằng, họ tham gia vào giao dịch mua bán nhà ở chỉ nhằm mục đích để ở theo đúng quy định của Luật Nhà ở. Bằng quy định như trên, có căn cứ để có thể xác định được mục đích sinh lợi của chủ thể tham gia giao dịch mua bán nhà ở để có cơ chế pháp lý phù hợp điều chỉnh hoạt động thương mại này, khắc phục những bất cập như hiện nay; Hai là, phù hợp với thực tế sử dụng nhà ở tại nước ta (nhà ở không chỉ để ở mà còn để sử dụng vào mục đích khác như kinh doanh, làm văn phòng giao dịch…), tạo ra hành lang pháp lý để xây dựng các quy định chuyên ngành liên quan đến nhà ở (như đăng ký kinh doanh, thuế liên quan đến nhà ở), tránh chồng chéo giữa các quy định pháp luật chuyên ngành với pháp luật về nhà ở; Ba là, nhằm mở rộng và quy định đầy đủ chủ thể sở hữu, sử dụng nhà ở, không chỉ là hộ gia đình, cá nhân mà tất cả các cá nhân, tổ chức (kể cả “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”(13)) có nhu cầu, phù hợp với thực tế và các quy định pháp luật khác.

ThS. Phạm Thanh Khương

(1) Xem khoản 2 Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(2) Xem điểm b khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 và điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(3) Xem khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

(4) Xem khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

(5) Xem Điều 455 Bộ luật Dân sự năm 2005.

(6) Khoản 4 Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(7) Điều 21 Thông tư số 16/2010/TT-BXD.

(8) Xem khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005.

(9) Trường hợp doanh nghiệp có thu tiền của khách hàng mà chưa xác định được chi phí tương ứng với doanh thu thì doanh nghiệp kê khai tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ 2% trên doanh thu thu được tiền và doanh thu này chưa phải tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm.

(10) Xem điểm c khoản 4 Điều 2 Thông tư số 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011 sửa đổi Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và sửa đổi Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính.

(11) Xem Công văn số 1133/TCT–TNCN ngày 05/4/2011 (về việc vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản) và Công văn số 1842/TCT-TNCN ngày 31/5/2011 (về việc vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp uỷ quyền giao dịch bất động sản) của Tổng cục Thuế.

(13) Xem Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 19/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: