Thứ ba 06/10/2026 07:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Theo khái niệm pháp lý trên, Nhà nước chỉ thừa nhận mục đích duy nhất của nhà ở là “để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Vì vậy, tất cả các hoạt động liên quan đến việc tạo lập nhà ở của hộ gia đình, cá nhân đều có thể được xem nhằm mục đích duy nhất là “để ở”.

Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.

Việc xác định mục đích nhà ở như trên đang đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến nhà ở cụ thể như sau:

1. Không có căn cứ để xác định mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam có nhiều hình thức tạo lập nhà ở (góp vốn, mua nhà ở thương mại đầu tư xây dựng nhà...). Sau khi tạo lập, họ được bán nhà nếu không có nhu cầu ở. Pháp luật hiện hành cũng không hạn chế số lượng nhà ở được sở hữu của mỗi hộ gia đình, cá nhân trong nước. Căn cứ theo quy định về mục đích của nhà ở tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005, mọi giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân đều có thể được xem không vì mục đích sinh lợi (chỉ để ở), hoàn toàn là giao dịch dân sự, không phải là hoạt động thương mại.

Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, nhà ở là một loại bất động sản có thể đưa vào kinh doanh. Việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua nhà để bán vì mục đích sinh lợi được xem là kinh doanh bất động sản (1). Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản, thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật. Luật Kinh doanh bất động sản cũng quy định cấm kinh doanh bất động sản không đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 16). Quy định này hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý đối với giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân, vì không có căn cứ để cho rằng, hoạt động của họ là kinh doanh bất động sản (vì mục đích sinh lợi). Cá nhân có quyền cho rằng, giao dịch của họ chỉ nhằm mục đích để ở theo quy định của Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005. Vì vậy, khi tham gia giao dịch mua bán nhà ở (thậm chí vì mục đích sinh lợi - kinh doanh bất động sản), họ cũng không phải đăng ký kinh doanh bất động sản và không bị coi là vi phạm pháp luật.

Lợi dụng bất cập trên, nhiều doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nhưng không sử dụng chức năng này để kinh doanh mà kinh doanh với tư cách cá nhân để hưởng lợi về thuế, về pháp lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về dân sự (không phải là pháp luật về thương mại). Cụ thể: Người đứng đầu doanh nghiệp thực hiện đầu tư, tạo lập nhà ở nhưng không đưa vào tài sản doanh nghiệp mà để tài sản dưới dạng sở hữu của các cá nhân (của người đứng đầu doanh nghiệp, thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên hoặc người thân của họ), sau đó chuyển nhượng lại để thu lợi nhuận với tư cách các chủ sở hữu cá nhân. Điều này mặc nhiên, họ chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng nhà ở, không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Hoạt động “kinh doanh” của họ chỉ thuần túy là hoạt động dân sự (tạo lập nhà để ở và khi không có nhu cầu ở, họ bán đi), không phải kinh doanh bất động sản, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về dân sự. Nhiều doanh nghiệp chỉ có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản cũng tham gia kinh doanh với hình thức trên và vô hình chung, xã hội cũng đang coi họ là những “doanh nghiệp kinh doanh bất động sản”.

Trên thực tế, thị trường bất động sản của nước ta thời gian qua, tồn tại một lượng rất lớn các nhà đầu tư bất động sản chuyên nghiệp. Họ là các cá nhân chuyên mua đi, bán lại nhà ở vì mục đích sinh lợi. Hoạt động kinh doanh của họ diễn ra mạnh mẽ, đã góp phần gây nên những “cơn sóng” trên thị trường bất động sản. Đây thực chất là hoạt động thương mại. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động của họ lại không phải là hoạt động thương mại mà chỉ đơn thuần là giao dịch dân sự.

2. Bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân và các vấn đề liên quan đến nhà ở

Thứ nhất, pháp luật thương mại không điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở vì mục đích sinh lợi của cá nhân

Nhà ở là “hàng hóa”(2) và giao dịch mua bán nhà ở trên thị trường bất động sản có thể được coi là hoạt động “mua bán hàng hóa” (3) theo quy định của Luật Thương mại năm 2005. Về mặt thực chất, giao dịch mua bán nhà ở của nhiều cá nhân trên thực tế là nhằm mục đích sinh lợi (kinh doanh bất động sản), là hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại (4). Tuy nhiên, không có quy định của Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh hoạt động này, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 về việc áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan, thì hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác, thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác, thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.

Mua bán nhà ở là hoạt động thương mại đặc thù (do nhà ở là hàng hóa đặc thù) nên trước hết, giao dịch mua bán nhà ở chịu sự điều chỉnh của luật đặc thù: Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật Nhà ở năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trường hợp luật đặc thù không quy định, thì áp dụng quy định của Luật Thương mại năm 2005 và khi không được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 và luật đặc thù thì “áp dụng”(5) quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, do quy định về mục đích của nhà ở theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 nên Luật Kinh doanh bất động sản không thể điều chỉnh được hành vi của các cá nhân thực chất kinh doanh bất động sản nhưng không đăng ký kinh doanh. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định: Việc mua bán, chuyển nhượng nhà ở giữa tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản với tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản chỉ là “giao dịch có liên quan đến kinh doanh bất động sản” (6). Vì vậy, Luật Kinh doanh bất động sản cũng không có quy định về thương mại để điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân.

Do xác định mục đích của nhà ở là “để ở” - mục đích dân sự, nên pháp luật về nhà ở chỉ có những quy định về dân sự điều chỉnh mua bán nhà ở, cụ thể:

Điều 63 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Việc mua bán nhà ở phải lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở). Hợp đồng về nhà ở phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Nhà ở, quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định này”. Khoản 2 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Hợp đồng về nhà ở, văn bản tặng cho nhà ở phải thể hiện các nội dung: Tên và địa chỉ của các bên; mô tả đặc điểm của nhà ở; giá và phương thức thanh toán nếu trong hợp đồng có thoả thuận về giá; thời gian giao nhận nhà ở; thời gian bảo hành (nếu có); thời hạn cho thuê; cho mượn, cho ở nhờ; uỷ quyền quản lý; quyền và nghĩa vụ của các bên; cam kết của các bên; các thỏa thuận khác; ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản; chữ ký của các bên (nếu là tổ chức thì phải đóng dấu và ghi rõ chức vụ của người ký)”.

Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định: “Các giao dịch về nhà ở phải được lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở) có các nội dung quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở, Bộ luật Dân sự, Điều 63 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, tuân thủ các mẫu và nội dung của hợp đồng quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo” (7). Trong các mẫu hợp đồng mua bán nhà ở (phụ lục 5), văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở (hình thành trong tương lai) – phụ lục 14 và hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (phụ lục 16), pháp luật áp dụng điều chỉnh trong các hợp đồng này là Bộ luật Dân sự và các quy định của pháp luật nhà ở (không áp dụng Luật Thương mại); các quy định trong hợp đồng thể hiện tính dân sự (nhất là phạt vi phạm theo thỏa thuận của các bên) và việc giải quyết tranh chấp (nếu có) tại Tòa án (không có cơ chế giải quyết bằng Trọng tài thương mại).

Cũng do không thể xác định được mục đích sinh lợi trong giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân, nên cũng không thể áp dụng Luật Thương mại năm 2005 để điều chỉnh hoạt động này (trừ trường hợp các cá nhân thừa nhận mục đích sinh lợi trong nội dung hợp đồng hoặc “chọn luật áp dụng là Luật Thương mại” (8).

Trong khi hoạt động mua bán hàng hóa nhỏ lẻ được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại (Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không có đăng ký kinh doanh), thì hoạt động mua bán nhà ở với hàng hóa là nhà ở giá trị cao, được rất nhiều chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực tài chính) tham gia sôi động, lợi nhuận thu được lớn, ảnh hưởng nhiều đối với kinh tế vĩ mô lại chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật về dân sự, bởi không có quy định nào của pháp luật về thương mại điều chỉnh. Đây cũng là một bất cập về mặt khoa học pháp lý bởi hành vi thương mại không được điều chỉnh bằng pháp luật thương mại mà được điều chỉnh bằng pháp luật dân sự.

Thứ hai, quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch mua bán nhà ở cho thấy, Nhà nước đối xử với các giao dịch này như hoạt động thương mại

Mặc dù pháp luật hiện hành không quy định căn cứ để xác định mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở của các cá nhân, nhưng qua quy định thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản, trong đó có mua bán nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai của các cá nhân cho thấy, Nhà nước đối xử với các giao dịch này như hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi.

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đã “đánh thuế” đối với cá nhân như chủ thể kinh doanh với mức thuế suất 25% trên thu nhập chịu thuế và 2% trên “doanh thu” (9). Cá nhân khi chuyển nhượng nhà ở thực chất là bị “lỗ” do biến động thị trường cũng phải chịu thuế vì cơ quan thuế không chấp nhận giá bán được ghi trên hợp đồng và ấn định mức giá trên cơ sở tham khảo giá thị trường tại các “sàn giao dịch bất động sản”(10); việc ủy quyền nhà ở cũng đã bị coi là “chuyển nhượng”(11) và phải chịu thuế thu nhập.

Qua đó cho thấy, sự bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh giao dịch mua bán nhà ở của cá nhân. Mặc dù theo quy định, cá nhân chỉ là người mua nhà ở để ở, không kinh doanh vì mục đích sinh lợi nhưng lại thu thuế không khác gì chủ thể kinh doanh. Bất cập này còn thể hiện ở sự “lúng túng” của Bộ Tài chính trong việc tính thuế thu nhập cá nhân - chỉ trong vòng hơn 2 năm trở lại đây, Bộ Tài chính đã ban hành bốn thông tư và Tổng cục Thuế đã ban hành rất nhiều công văn để hướng dẫn điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản (nhất là mua bán nhà ở thương mại, nhà ở hình thành trong tương lai).

Thứ ba, bất cập trong quy định xử phạt hành chính về việc sử dụng nhà ở sai mục đích

Khoản 4 Điều 52 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở quy định: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nhà ở trái mục đích quy định”. Mục đích của nhà ở căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 là “để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Mới đây, Bộ Xây dựng có văn bản hướng dẫn Sở Xây dựng tỉnh Bình Thuận về xử phạt vi phạm đối với những trường hợp sử dụng nhà ở sai mục đích theo quy định trên(12).

Điều này không phù hợp với thực tế và gây ra sự phản ứng mạnh mẽ trong xã hội bởi hầu như mọi tổ chức, cá nhân có nhà ở thuận tiện kinh doanh (nhà ở vị trí mặt tiền đường, khu dân cư…) đều sử dụng nhà ở để kinh doanh. Việc kinh doanh của họ được thực hiện đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về thuế.

Như vậy, rõ ràng việc xác định mục đích của nhà ở theo quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề, bất cập liên quan đến nhà ở và giao dịch mua bán nhà ở.

3. Kiến nghị, đề xuất

Qua những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần mở rộng mục đích của nhà ở trong khái niệm “nhà ở” quy định tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định mục đích sinh lợi hay mục đích khác phù hợp với thực tiễn giao dịch, kinh doanh nhà ở, khắc phục các bất cập pháp lý do việc xác định mục đích nhà ở như hiện nay.

Khái niệm nhà ở tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 nên được quy định như sau: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục đích để ở và các mục đích khác không trái pháp luật”.

Quy định như trên nhằm mục đích sau: Một là, tạo cơ sở xác định được mục đích sinh lợi trong các giao dịch mua bán nhà ở. Chủ thể tham gia giao dịch về nhà ở không thể tiếp tục cho rằng, họ tham gia vào giao dịch mua bán nhà ở chỉ nhằm mục đích để ở theo đúng quy định của Luật Nhà ở. Bằng quy định như trên, có căn cứ để có thể xác định được mục đích sinh lợi của chủ thể tham gia giao dịch mua bán nhà ở để có cơ chế pháp lý phù hợp điều chỉnh hoạt động thương mại này, khắc phục những bất cập như hiện nay; Hai là, phù hợp với thực tế sử dụng nhà ở tại nước ta (nhà ở không chỉ để ở mà còn để sử dụng vào mục đích khác như kinh doanh, làm văn phòng giao dịch…), tạo ra hành lang pháp lý để xây dựng các quy định chuyên ngành liên quan đến nhà ở (như đăng ký kinh doanh, thuế liên quan đến nhà ở), tránh chồng chéo giữa các quy định pháp luật chuyên ngành với pháp luật về nhà ở; Ba là, nhằm mở rộng và quy định đầy đủ chủ thể sở hữu, sử dụng nhà ở, không chỉ là hộ gia đình, cá nhân mà tất cả các cá nhân, tổ chức (kể cả “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”(13)) có nhu cầu, phù hợp với thực tế và các quy định pháp luật khác.

ThS. Phạm Thanh Khương

(1) Xem khoản 2 Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(2) Xem điểm b khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 và điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(3) Xem khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

(4) Xem khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

(5) Xem Điều 455 Bộ luật Dân sự năm 2005.

(6) Khoản 4 Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

(7) Điều 21 Thông tư số 16/2010/TT-BXD.

(8) Xem khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005.

(9) Trường hợp doanh nghiệp có thu tiền của khách hàng mà chưa xác định được chi phí tương ứng với doanh thu thì doanh nghiệp kê khai tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ 2% trên doanh thu thu được tiền và doanh thu này chưa phải tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm.

(10) Xem điểm c khoản 4 Điều 2 Thông tư số 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011 sửa đổi Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và sửa đổi Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính.

(11) Xem Công văn số 1133/TCT–TNCN ngày 05/4/2011 (về việc vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản) và Công văn số 1842/TCT-TNCN ngày 31/5/2011 (về việc vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp uỷ quyền giao dịch bất động sản) của Tổng cục Thuế.

(13) Xem Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 19/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: