Chủ nhật 08/11/2026 15:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Án lệ trong hệ thống pháp luật thông luật Anh - Kinh nghiệm cho việc hoàn thiện quy định về án lệ ở Việt Nam

Theo quan điểm của các nhà luật học theo hệ luật Anh - Mỹ (Ăng-lô-Xắc-xông), thì án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court),

Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án[1].

Án lệ ra đời từ thế kỷ thứ X ở các nước Common law (Thông luật), quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời đó là Anh quốc, ra đời sớm nhưng hình thức án lệ của nước Anh đã thể hiện được nhiều giá trị bên cạnh các loại nguồn khác: Án lệ mang tính thực tiễn cao; án lệ có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời; án lệ thể hiện tính khách quan và công bằng. Với những giá trị đó, án lệ nhanh chóng phổ biến tới các hệ thống pháp luật khác trên thế giới như: Án lệ ở Cilvil law (châu Âu lục địa), án lệ ở các nước Bắc Âu, án lệ ở các quốc gia Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản…
Ở Việt Nam, định hướng thừa nhận án lệ là một loại nguồn bổ sung cho hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”, sau đó đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn và công bố áp dụng án lệ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành (Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP).

1. Lịch sử hình thành án lệ Thông luật Anh

Hệ thống pháp luật Thông luật (Common law) hay còn gọi là hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, là hệ thống pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mỹ và những nước là thuộc địa của Anh, Mỹ trước đây. Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ những tập quán (Customs), còn được gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thống pháp luật coi trọng tiền lệ (Precedents/Judge made law)[2].

Thuật ngữ Common law không chỉ mang ý nghĩa là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, dựa trên truyền thống hệ thống pháp luật Anh, thuật ngữ này còn được hiểu để nói đến các bản án, quyết định của Tòa án trong hệ thống mà các bản án, quyết định đó có giá trị như là án lệ và mang tính áp dụng bắt buộc song song với các đạo luật thành văn (Statutes).

Như vậy, án lệ là một trong những loại nguồn quan trọng và đặc trưng của hệ thống pháp luật Thông luật nói chung và của pháp luật nước Anh nói riêng để phân biệt đặc trưng về nguồn trong mỗi hệ thống pháp luật như luật thành văn của hệ thống pháp luật Cilvil law, tập quán ở các nước châu Phi hay là Kinh Koran ở hệ thống pháp luật pháp luật Hồi giáo...

Trước thế kỷ thứ X (giai đoạn năm 600 - 1066), mặc dù Anh quốc đã có luật thành văn, ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ Ăng-lô-Xắc-xông, tuy nhiên, thời kỳ này nước Anh không chỉ bước vào giai đoạn phân quyền cát cứ, các lãnh chúa thâu tóm quyền lực về tay mình, mà giai đoạn này nước Anh còn bị người Giéc Manh và người Xcandinave xâm lược nên pháp luật nước Anh thời kỳ này còn manh mún, tản mạn, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tập quán địa phương, giai đoạn này vẫn chưa tồn tại một nền pháp luật chung cho toàn nước Anh3.

Bước sang giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XV, án lệ mới chính thức ra đời, cụ thể, năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống Tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ Tòa án Hoàng gia đi khắp nơi trong nước để sưu tầm và chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp. Những thẩm phán sau đó trở về thành Luân Đôn và thảo luận về các vụ tranh chấp này với các thẩm phán khác. Những phán quyết sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ (Precedent). Thuật ngữ “Common Law” chính thức xuất hiện. Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó, nguyên tắc này được gọi là stare decisis. Nguyên tắc stare decisis yêu cầu thẩm phán phải dựa theo các phán quyết trước đây khi xét xử các vụ án có những nét tương đồng. Mặt khác, nguyên tắc này cũng giúp các thẩm phán đưa ra những phán quyết đối với các vụ án phức tạp khi không có cơ sở pháp lý rõ ràng, dựa vào đó để ra phán quyết. Trong những trường hợp này, thẩm phán thường trích dẫn những phán quyết trước đây đối với các vụ án tương tự4.

Như vậy, thuật ngữ Common law hay Thông luật có nghĩa là thống nhất pháp luật, thống nhất tình trạng pháp luật manh mún, tản mạn, chịu ảnh hưởng bởi tập quán địa phương của các lãnh chúa phong kiến từ thời kỳ phong kiến thành một hệ thống pháp luật chung thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Anh, công cụ giúp thống nhất pháp luật nước Anh là hệ thống tuyển tập án lệ gần như hoàn thiện của Tòa án Hoàng gia được áp dụng chung cho toàn lãnh thổ nước Anh vào giai đoạn này.

2. Các nguyên tắc áp dụng án lệ Thông luật Anh

Một là, nguyên tắc chung của án lệ thông luật Anh

Khi xem xét vụ việc, Tòa án phải làm sáng tỏ có vụ việc tương tự như vậy đã trở thành đối tượng của việc xét xử trước đây hay chưa và trong trường hợp đã có vụ việc như vậy thì cần phải tuân thủ quyết định đã có. Nói cách khác, quyết định đã được đưa ra một lần trước đó trở thành quy phạm bắt buộc chung đối với các vụ việc tương tự tiếp theo đó. Quy tắc chung đó cần phải được cụ thể hóa, bởi mức độ của tính bắt buộc các án lệ tùy thuộc vào vị trí trong cấp xét xử của Tòa án xem xét vụ việc đó và của Tòa án mà quyết định của nó có thể trở thành án lệ trong trường hợp đó[5].

Hai là, nguyên tắc án lệ được hình thành từ Tòa án và có tính bắt buộc

Có thể khẳng định hầu hết án lệ các quốc gia đều được hành thành từ cơ quan tư pháp, tức đều do Tòa án sáng tạo ra. Ở Anh cũng không ngoại lệ, Hạ nghị viện là cơ quan lập pháp có chức năng trong việc làm luật, thì Thượng nghị viện là cơ quan tư pháp, có chức năng xét xử và mọi án lệ của Thông luật Anh đều được hình thành từ cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, nguyên tắc bắt buộc áp dụng án lệ của hầu hết các quốc gia thừa nhận án lệ là một loại nguồn trong hệ thống pháp luật thì không phải quốc gia nào cũng tương đồng nhau. Một minh chứng là án lệ của các quốc gia Cilvil law hay án lệ của một số quốc gia Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản… thì án lệ chỉ đóng vai trò là nguồn bổ sung cho những thiếu sót của luật thành văn và nó không có quy định bắt buộc đối với mọi Tòa án. Ví dụ, án lệ trong Luật Hành chính của Pháp được sử dụng rất linh hoạt để nó thích hợp với sự phát triển của các quan hệ pháp luật hành chính, tuy nhiên, cần lưu ý rằng, mặc dù án lệ được thừa nhận là một nguồn của luật hành chính, nhưng nó không có giá trị bắt buộc[6]. Điều này khác hẳn với Thông luật Anh, để đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử, đảm bảo tính đúng đắn về chuyên môn nghiệp vụ cũng như thể hiện sự tôn trọng phán quyết của Tòa án cấp trên, Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ áp dụng những bản án đã được tuyên của Tòa án cấp trên, căn cứ vào đó để đưa ra quyết định cho vụ án cụ thể của mình. Vì vậy, tất cả mọi phán quyết của Tòa thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và Tòa cấp cao khi được xuất bản và trở thành án lệ thì nó có giá trị ràng buộc đối với mọi Tòa án cấp dưới trong quá trình xét xử các vụ việc tương tự.

Ba là, nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử có yêu cầu rất nghiêm ngặt

Ở Anh, việc bám sát vào tiền lệ pháp trong hoạt động xét xử là yêu cầu nghiêm ngặt: Trong nhiều năm, Thượng nghị viện, Tòa án cao nhất ở Anh đã cho rằng mình phải tuyệt đối tuân thủ các phán quyết trong quá khứ của chính mình. Mức độ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “stare decisis” (tuân thủ phán quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm đã được thiết lập) của các Tòa án ở Anh không chỉ thể hiện ở sự miễn cưỡng trong việc phân biệt tình tiết vụ việc hiện tại với những vụ việc trong quá khứ[7], cụ thể, trước cải cách tư pháp án lệ được hình thành và áp dụng theo nguyên tắc nghiêm ngặt sau:

- Quyết định trở thành án lệ của cấp xét xử cao nhất - Tòa án cấp cao (Thượng nghị viện) có giá trị bắt buộc đối với các Tòa án cấp dưới và bắt buộc với chính Tòa thượng nghị viện.

- Quyết định được xuất bản thành án lệ của Tòa án cao cấp có thẩm quyền chung (Tòa án phúc thẩm; Tòa hình sự cao cấp; Tòa cao cấp có thẩm quyền chung) có giá trị bắt buộc đối với hệ thống Tòa án sơ cấp, đồng thời có giá trị bắt buộc với chính nó.

- Phán quyết của hệ thống Tòa án sơ cấp (Tòa án cấp quận; Tòa án cấp cơ sở) chỉ có thể là kinh nghiệm, ví dụ, tham khảo nhưng không tạo ra án lệ bắt buộc.

3. Giá trị pháp lý của án lệ so với luật thành văn

Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến, đều bắt đầu thừa nhận án lệ là một loại nguồn của hệ thống pháp luật quốc gia, có sự vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thống Tòa án, bởi xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc Tòa án không được quyền từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của các nước. Do vậy, không chỉ hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Common law và Cilvil law, hệ thống pháp luật đang hoàn thiện như pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa… đã chính thức thừa nhận án lệ là một nguồn luật. Tuy nhiên, dù là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Thông luật với truyền thống án lệ hay những quốc gia không theo truyền thống án lệ thì án lệ vẫn có vị trị pháp lý thấp hơn trong góc nhìn với luật thành văn: Pháp luật Tây Ban Nha chịu ảnh hưởng của Luật La Mã vẫn coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được Tòa án tối cao áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp[8]. Ở Việt Nam, án lệ đã được thừa nhận là một loại nguồn bên cạnh văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất[9]. Án lệ vẫn đóng vai trò là nguồn bổ sung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ví dụ Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: (i) Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự; (ii) Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng[10]. ở nước Anh, quốc gia phát triển nên nguồn luật án lệ, đặt nền tảng cho sự ra đời của hệ thống Thông luật, án lệ không chỉ đóng vai trò là loại nguồn đặc trưng của hệ thống pháp luật này mà còn là một loại nguồn quan trọng bên cạnh pháp luật thành văn của Nghị viện. Tuy nhiên, so với án lệ thì giá trị pháp lý của luật do Nghị viện ban hành vẫn có hiệu lực cao hơn án lệ do thẩm phán làm ra. Luật được ban hành để bổ sung hoặc thay thế cho án lệ. Luật có thể phủ nhận hiệu lực trong tương lai của một án lệ nào đó và thậm chí luật còn có hiệu lực hồi tố, có thể làm cho án lệ nào đó đã tuyên trong quá khứ trở nên vô hiệu[11].

Tuy vậy, điểm tạo nên sự khác biệt về giá trị pháp lý của án lệ so với luật thành văn giữa nước Anh và các quốc gia khác được thể hiện như sau: Mặc dù luật thành văn có giá trị pháp lý cao hơn án lệ do thẩm phán sáng tạo ra, tuy nhiên, trên thực tế, án lệ ở nước Anh luôn được các cơ quan, tổ chức và công dân rất tôn trọng và nhiều khi nó còn có giá trị pháp lý như đạo luật thành văn, đặc biệt đối với những vụ án liên quan đến giải thích Hiến pháp.

4. Tích cực và hạn chế của án lệ nước Anh

4.1. Tính tích cực

Thứ nhất, pháp luật được cụ thể hóa thông qua thực tiễn xét xử

Điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật thực định Anh là do cơ quan tư pháp, tức Tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng và phát triển án lệ hay tiền lệ pháp. Những lĩnh vực như luật hợp đồng, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng cũng như hành vi phạm tội nghiêm trọng như giết người và hành hung tập thể (Conmon assault) đều là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải của cơ quan lập pháp[12]. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa hệ thống pháp luật Anh với các hệ thống pháp luật pháp điển hóa ở châu Âu lục địa và những hệ thống pháp luật khác chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật ở châu Âu lục địa. Với ưu điểm điểm này, phần lớn quy phạm trong luật thực định Anh mang tính thực tiễn cao hơn, dễ áp dụng, dễ đi vào cuộc sống, ít tính trừu tượng, khó hiểu như quy phạm trong luật thực định của pháp luật các nước châu Âu, nơi mà tư duy pháp luật được hình thành từ các giảng đường đại học chứ không phải bằng con đường quyền lực nhà nước.

Thứ hai, nguyên tắc áp dụng án lệ chặt chẽ, rõ ràng

Nước Anh là quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời của án lệ nên quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ ở đây rất cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng. Điều này mang tới những lợi thế trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật như sau: (i) Giúp cho hệ thống tuyển tập án lệ đã xuất bản dễ dàng phát huy tính hiệu quả trên thực tế; (ii) Tạo thuận lợi cho hệ thống Tòa án cấp dưới dễ dàng áp dụng các bản án là án lệ; (iii) Giá trị về mặt thời gian của án lệ.

4.2. Điểm hạn chế của án lệ Thông luật Anh

Một là, tính nghiêm ngặt

Có thể thấy rõ tính nghiêm ngặt của án lệ Anh là rập khuôn, máy móc, trong các bản án hầu như không có chỗ cho quan điểm của thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc mà Tòa án coi là quan trọng. So với thẩm phán ở Mỹ, vai trò của thẩm phán ở Anh trong sáng tạo ra các án lệ bị gò bó hơn ở Mỹ, mặc dù án lệ bắt buộc áp dụng ở Anh tuy cũng có những ưu điểm nhưng trong một góc nhìn khác cũng chính nguyên tắc này đã trở thành lực cản đối với sự sáng tạo của các thẩm phán khi xét xử bởi họ phải tuân thủ án lệ một cách nghiêm ngặt.

Thứ hai, áp dụng phức tạp

Án lệ xét xử là nguồn cơ bản của pháp luật nước Anh. Hiện nay, nước Anh có khoảng 800 ngàn án lệ xét xử và mỗi năm bổ sung thêm khoảng 20 ngàn án lệ xét xử mới. Tất cả các án lệ xét xử đó tạo thành 300 tuyển tập theo pháp luật bên trong quốc gia và theo pháp luật châu Âu[13]. Với khối lượng lớn án lệ và sự phức tạp trong việc tra cứu án lệ là vấn đề khó khăn đối với thẩm phán và luật sư trong việc tìm ra các án lệ phù hợp bản chất của các vụ việc đang thụ lý.

5. Kinh nghiệm cho việc hoàn thiện án lệ ở Việt Nam

Sau một thời gian triển khai Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra mục đích xây dựng và hoàn thiện từng bước hoạt động của Tòa án nhân dân là “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm”, ngày 06/4/2016, 06 án lệ đầu tiên của Việt Nam đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 220/QĐ-CA; các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự trên toàn quốc có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử kể từ ngày 01/6/2016.

Mặc dù Việt Nam đã chính thức thừa nhận án lệ là một loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, án lệ ở Việt Nam hiện hành hay xu hướng cải cách tư pháp đến năm 2020 sẽ hướng đến việc phát triển án lệ ở Việt Nam theo mô hình nào? Mô hình các nước Thông luật như Anh, Mỹ hay mô hình án lệ ở các nước châu Âu như Pháp, Đức? Đây thực sự là một thách thức cho việc phát triển án lệ ở Việt Nam. Xét về hình thức pháp lý như tiêu chí về nguồn luật, phương pháp pháp luật, hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với hệ thống pháp luật các nước dân luật thành văn như Pháp và Đức của châu Âu lục địa hơn là hệ thống Thông luật Anh - Mỹ. Tuy nhiên, trong vấn đề về án lệ, cũng giống như nhiều chủ đề nghiên cứu dưới góc độ luật so sánh, sẽ không có một giải pháp duy nhất nhằm tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam. Những nhân tố hợp lý của án lệ trong thông luật cũng sẽ rất có giá trị khi nó được tiếp nhận phù hợp vào môi trường văn hóa pháp lý Việt Nam[14], đặc biệt tiếp thu có chọn lọc án lệ nước Anh - quốc gia có bề dày lịch sử về nghiên cứu và phát triển án lệ sẽ là một lựa chọn hữu ích cho việc hoàn thiện mô hình án lệ ở Việt Nam trong giai đoạn án lệ vừa mới được thừa nhận và chưa định hình rõ mô hình án lệ mà Việt sẽ phải theo như hiện nay, tác giả xin đưa ra quan điểm cá nhân hoàn thiện một số quy định về án lệ Việt Nam theo hình thức án lệ nước Anh như sau:

Một là, làm rõ quy định về khái niệm án lệ

Điều 1 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP định nghĩa: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Với định nghĩa này thì khái niệm án lệ chưa đủ rõ về mặt nội dung. Bởi lẽ, trong đa số các bản án, quyết định thì Tòa án thường có nhiều lập luận về những vấn đề cần giải quyết của vụ việc đó. Đó có thể là lập luận về các tình tiết khách quan của vụ việc; tính hợp pháp; tính liên quan của chứng cứ do đương sự xuất trình, cung cấp hoặc lập luận về việc áp dụng quy định cụ thể của pháp luật. Vì vậy, với định nghĩa trên, có thể dẫn tới cách hiểu không đúng về án lệ[15].

Vì vậy, để thừa nhận án lệ là một loại nguồn của hệ thống pháp luật Việt Nam, muốn Tòa án các cấp hiểu đúng với bản chất, hình thức của án lệ và áp dụng thống nhất trong hệ thống cơ quan tư pháp thì tất yếu phải hoàn thiện khái niệm về án lệ. Chúng ta có thể tham khảo định nghĩa về án lệ theo Thông luật Anh - quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời hình thức án lệ, với một định nghĩa rõ ràng, chặt chẽ và đúng với bản chất của hình thức án lệ[16], một loại nguồn quan trọng trong việc củng cố hoàn thiện luật thực định của quốc gia là một giải pháp tốt cho định nghĩa án lệ ở Việt Nam lúc này. Với định nghĩa này, chúng ta có thể bỏ cụm từ “án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án của Tòa án tối cao để nghiên cứu, áp dụng” thay bằng cụm từ “án lệ là nguyên tắc bắt buộc” để hoàn thiện thêm định nghĩa về án lệ ở Việt Nam. Bởi lẽ, án lệ là loại nguồn ra đời là để bổ sung cho những thiếu sót của luật thành văn, làm rõ quy định của pháp luật còn có nhiều cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể[17]. Như vậy lúc này án lệ đóng vai trò quan trọng không kém luật thực định, nếu chỉ quy định án lệ là những lập luận, phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thì rất có thể án lệ ban hành chỉ mang tính hình thức, các Tòa án sẽ không đồng nhất áp dụng, hậu quả dẫn đến một quan hệ xã hội nào đó sẽ không được điều chỉnh đúng với một quy phạm tương ứng. Nếu bổ sung thêm cụm từ này sẽ giúp hình thức án lệ có tính thực tiễn cao hơn, Tòa án các cấp thống nhất trong xét xử.

Thứ hai, bổ sung quy định về giá trị pháp lý của án lệ

Giá trị pháp lý của án lệ trong hệ thống nguồn luật đóng vai trò rất quan trọng, quyết định vị trí tồn tại của nó bên cạnh các loại nguồn khác cho dù án lệ đó là của quốc gia Thông luật với truyền thống án lệ hay những quốc gia chú trọng vai trò của luật thực định trong hệ thống pháp luật quốc gia như Civil law thì tất cả những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này khi đã thừa nhận án lệ đều giành những điều khoản để làm sáng rõ vị trí pháp lý của án lệ. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, quy định về vị trí pháp lý của án lệ chỉ được tìm thấy ở một nội dung nhỏ về áp dụng pháp luật tương tự khi giải quyết các vụ án, vụ việc về dân sự[18], còn với hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một quy định cụ thể, rõ ràng về giá trị pháp lý của án lệ trong bất kỳ một văn bản nào, ngay cả Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP mới chỉ có một quy định nhỏ về giá trị pháp lý của án lệ tại khoản 3 Điều 2, khi quy định về tiêu chí lựa chọn án lệ. Thiết nghĩ đây là một thiếu sót cần bổ sung quy định về giá trí pháp lý của án lệ bên cạnh các loại nguồn khác tại một văn bản thống nhất, để hướng dẫn Tòa án các cấp thống nhất thực hiện, cụ thể là cần bổ sung quy định của pháp luật tố tụng về giá trị pháp lý và nguyên tắc áp dụng, viện dẫn án lệ trong xét xử án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính.

Thứ ba, hoàn thiện thêm nguyên tắc áp dụng án lệ ở Việt Nam

Cần tham khảo 02 nguyên tắc áp dụng án lệ của Anh để bổ sung và hoàn thiện cho quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ của Việt Nam được quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP như sau:

(i) Nguyên tắc án lệ sử dụng phải có tính bắt buộc: Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP quy định: “Khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau”. Với quy định này, dù không sử dụng thuật ngữ “án lệ bắt buộc áp dụng” nhưng có thể hiểu nó có cùng bản chất. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa quy định chi tiết nguyên tắc này, bởi đây là nguyên tắc cần thiết với bất kỳ án lệ trong pháp luật của quốc gia nào để đảm bảo án lệ chặt chẽ và hiệu quả không kém gì luật thành văn. Để thực hiện được nguyên tắc này, Việt Nam phải quy định một trình tự, thủ tục hay một quy trình cụ thể của việc công nhận một án lệ là bắt buộc.

(ii) Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ của Tòa án cấp trên: Vì hệ thống Tòa án Việt Nam được tổ chức thành các cấp nên cũng có thể áp dụng nguyên tắc này. Ban đầu có thể quy định chỉ có Tòa án nhân dân tối cao mới được quyền tạo ra án lệ và các Tòa án cấp dưới phải tuân thủ, sau này, khi số lượng án lệ đã tăng lên và việc áp dụng dần đi vào ổn định thì có thể mở rộng khả năng tạo ra án lệ cho các Tòa án cấp dưới trực tiếp của Tòa án nhân dân tối cao.

ThS. Trần Thị Diệu Hương

Đại học Luật, Đại học Huế

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lê Văn Sua (2015), Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/ Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, ngày 03/11/2015.

[2]. Xem: Lưu Tiến Dũng (2014), Các trường phái án lệ trên thế giới - mô hình nào cho Việt Nam?, http://lsvn.vn/news/Nghien-cuu/Cac-truong-phai-an-le-tren-the-gioi-Mo-hinh-nao-cho-Viet-Nam-Ky-I-An-le-mang-tinh-rang-buoc-ap-dung-170/, ngày 18/09/2014.

[3]. Xem: Lê Thị Nga (2015), Tập bài giảng Luật học so sánh, tr.58, Nxb. Đại học Huế.

[4]. Xem: Lưu Tiến Dũng (2014), Các trường phái án lệ trên thế giới - mô hình nào cho Việt Nam?, http://lsvn.vn/news/Nghien-cuu/Cac-truong-phai-an-le-tren-the-gioi-Mo-hinh-nao-cho-Viet-Nam-Ky-I-An-le-mang-tinh-rang-buoc-ap-dung-170/, ngày 18/09/2014.

[5]. Xem: Võ Khánh Vinh (2013), Luật học so sánh, tr.284, Nxb. Khoa học xã hội.

[6]. Xem: Nguyễn Văn Nam, án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự của Pháp, Đức và việc sử dụng án lệ ở Việt Nam, www.toaan.gov.vn.

[7]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật học so sánh, tr.261, Nxb. Công an nhân dân.

[8]. Xem: Lê Văn Sua, án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/ Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, ngày 03/11/2015.

[9]. Xem: Điều 119 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[10]. Xem: Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật so sánh, tr.263, Nxb. Công an nhân dân.

[12]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật so sánh, tr.259, Nxb. Công an nhân dân.

[13]. Xem: Võ Khánh Vinh (2013), Luật học so sánh, tr.284, Nxb. Khoa học xã hội

[14]. Xem: Nguyễn Văn Nam, án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự Pháp, Đức, và việc sử dụng án lệ ở Việt Nam, https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/an-le-trong-he-thong-phap-luat-dan-su-cac-nuoc-phap-duc-va-viec-su-dung-an-le-o-viet-nam.aspx.

[15]. Xem: Lê Mạnh Hùng (2016), Án lệ và việc áp dụng án lệ trong xét xử, giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ I, tháng 4/2016 (số 7).

[16]. Theo đó, án lệ Anh được định nghĩa như sau: “Án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court), Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án”.

[17]. Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HDTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố áp dụng án lệ.

[18]. Xem: Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chỉ số hạnh phúc – Thước đo chất lượng sống và hiệu quả quản trị đô thị Hà Nội

Chỉ số hạnh phúc – Thước đo chất lượng sống và hiệu quả quản trị đô thị Hà Nội

Trong giai đoạn 2026 - 2030, thành phố Hà Nội sẽ thực hiện khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân Thủ đô Hà Nội (HHI). Thông qua 05 trụ cột với 50 tiêu chí, HHI hướng đến đo lường kết quả phát triển của Thủ đô từ góc nhìn của người dân, phản ánh mức độ người dân thực tế tiếp cận, thụ hưởng, cảm nhận về sự an toàn, tin tưởng, tham gia và đánh giá chất lượng cuộc sống.
Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, gắn với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh quan hệ lao động có nhiều thay đổi, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Đề án "Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới" của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trong toàn hệ thống Công đoàn.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.

Theo dõi chúng tôi trên: