Chủ nhật 15/03/2026 01:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Án lệ trong hệ thống pháp luật thông luật Anh - Kinh nghiệm cho việc hoàn thiện quy định về án lệ ở Việt Nam

Theo quan điểm của các nhà luật học theo hệ luật Anh - Mỹ (Ăng-lô-Xắc-xông), thì án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court),

Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án[1].

Án lệ ra đời từ thế kỷ thứ X ở các nước Common law (Thông luật), quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời đó là Anh quốc, ra đời sớm nhưng hình thức án lệ của nước Anh đã thể hiện được nhiều giá trị bên cạnh các loại nguồn khác: Án lệ mang tính thực tiễn cao; án lệ có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời; án lệ thể hiện tính khách quan và công bằng. Với những giá trị đó, án lệ nhanh chóng phổ biến tới các hệ thống pháp luật khác trên thế giới như: Án lệ ở Cilvil law (châu Âu lục địa), án lệ ở các nước Bắc Âu, án lệ ở các quốc gia Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản…
Ở Việt Nam, định hướng thừa nhận án lệ là một loại nguồn bổ sung cho hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”, sau đó đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn và công bố áp dụng án lệ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành (Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP).

1. Lịch sử hình thành án lệ Thông luật Anh

Hệ thống pháp luật Thông luật (Common law) hay còn gọi là hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, là hệ thống pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mỹ và những nước là thuộc địa của Anh, Mỹ trước đây. Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ những tập quán (Customs), còn được gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thống pháp luật coi trọng tiền lệ (Precedents/Judge made law)[2].

Thuật ngữ Common law không chỉ mang ý nghĩa là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, dựa trên truyền thống hệ thống pháp luật Anh, thuật ngữ này còn được hiểu để nói đến các bản án, quyết định của Tòa án trong hệ thống mà các bản án, quyết định đó có giá trị như là án lệ và mang tính áp dụng bắt buộc song song với các đạo luật thành văn (Statutes).

Như vậy, án lệ là một trong những loại nguồn quan trọng và đặc trưng của hệ thống pháp luật Thông luật nói chung và của pháp luật nước Anh nói riêng để phân biệt đặc trưng về nguồn trong mỗi hệ thống pháp luật như luật thành văn của hệ thống pháp luật Cilvil law, tập quán ở các nước châu Phi hay là Kinh Koran ở hệ thống pháp luật pháp luật Hồi giáo...

Trước thế kỷ thứ X (giai đoạn năm 600 - 1066), mặc dù Anh quốc đã có luật thành văn, ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ Ăng-lô-Xắc-xông, tuy nhiên, thời kỳ này nước Anh không chỉ bước vào giai đoạn phân quyền cát cứ, các lãnh chúa thâu tóm quyền lực về tay mình, mà giai đoạn này nước Anh còn bị người Giéc Manh và người Xcandinave xâm lược nên pháp luật nước Anh thời kỳ này còn manh mún, tản mạn, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tập quán địa phương, giai đoạn này vẫn chưa tồn tại một nền pháp luật chung cho toàn nước Anh3.

Bước sang giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XV, án lệ mới chính thức ra đời, cụ thể, năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống Tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ Tòa án Hoàng gia đi khắp nơi trong nước để sưu tầm và chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp. Những thẩm phán sau đó trở về thành Luân Đôn và thảo luận về các vụ tranh chấp này với các thẩm phán khác. Những phán quyết sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ (Precedent). Thuật ngữ “Common Law” chính thức xuất hiện. Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó, nguyên tắc này được gọi là stare decisis. Nguyên tắc stare decisis yêu cầu thẩm phán phải dựa theo các phán quyết trước đây khi xét xử các vụ án có những nét tương đồng. Mặt khác, nguyên tắc này cũng giúp các thẩm phán đưa ra những phán quyết đối với các vụ án phức tạp khi không có cơ sở pháp lý rõ ràng, dựa vào đó để ra phán quyết. Trong những trường hợp này, thẩm phán thường trích dẫn những phán quyết trước đây đối với các vụ án tương tự4.

Như vậy, thuật ngữ Common law hay Thông luật có nghĩa là thống nhất pháp luật, thống nhất tình trạng pháp luật manh mún, tản mạn, chịu ảnh hưởng bởi tập quán địa phương của các lãnh chúa phong kiến từ thời kỳ phong kiến thành một hệ thống pháp luật chung thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Anh, công cụ giúp thống nhất pháp luật nước Anh là hệ thống tuyển tập án lệ gần như hoàn thiện của Tòa án Hoàng gia được áp dụng chung cho toàn lãnh thổ nước Anh vào giai đoạn này.

2. Các nguyên tắc áp dụng án lệ Thông luật Anh

Một là, nguyên tắc chung của án lệ thông luật Anh

Khi xem xét vụ việc, Tòa án phải làm sáng tỏ có vụ việc tương tự như vậy đã trở thành đối tượng của việc xét xử trước đây hay chưa và trong trường hợp đã có vụ việc như vậy thì cần phải tuân thủ quyết định đã có. Nói cách khác, quyết định đã được đưa ra một lần trước đó trở thành quy phạm bắt buộc chung đối với các vụ việc tương tự tiếp theo đó. Quy tắc chung đó cần phải được cụ thể hóa, bởi mức độ của tính bắt buộc các án lệ tùy thuộc vào vị trí trong cấp xét xử của Tòa án xem xét vụ việc đó và của Tòa án mà quyết định của nó có thể trở thành án lệ trong trường hợp đó[5].

Hai là, nguyên tắc án lệ được hình thành từ Tòa án và có tính bắt buộc

Có thể khẳng định hầu hết án lệ các quốc gia đều được hành thành từ cơ quan tư pháp, tức đều do Tòa án sáng tạo ra. Ở Anh cũng không ngoại lệ, Hạ nghị viện là cơ quan lập pháp có chức năng trong việc làm luật, thì Thượng nghị viện là cơ quan tư pháp, có chức năng xét xử và mọi án lệ của Thông luật Anh đều được hình thành từ cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, nguyên tắc bắt buộc áp dụng án lệ của hầu hết các quốc gia thừa nhận án lệ là một loại nguồn trong hệ thống pháp luật thì không phải quốc gia nào cũng tương đồng nhau. Một minh chứng là án lệ của các quốc gia Cilvil law hay án lệ của một số quốc gia Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản… thì án lệ chỉ đóng vai trò là nguồn bổ sung cho những thiếu sót của luật thành văn và nó không có quy định bắt buộc đối với mọi Tòa án. Ví dụ, án lệ trong Luật Hành chính của Pháp được sử dụng rất linh hoạt để nó thích hợp với sự phát triển của các quan hệ pháp luật hành chính, tuy nhiên, cần lưu ý rằng, mặc dù án lệ được thừa nhận là một nguồn của luật hành chính, nhưng nó không có giá trị bắt buộc[6]. Điều này khác hẳn với Thông luật Anh, để đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử, đảm bảo tính đúng đắn về chuyên môn nghiệp vụ cũng như thể hiện sự tôn trọng phán quyết của Tòa án cấp trên, Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ áp dụng những bản án đã được tuyên của Tòa án cấp trên, căn cứ vào đó để đưa ra quyết định cho vụ án cụ thể của mình. Vì vậy, tất cả mọi phán quyết của Tòa thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và Tòa cấp cao khi được xuất bản và trở thành án lệ thì nó có giá trị ràng buộc đối với mọi Tòa án cấp dưới trong quá trình xét xử các vụ việc tương tự.

Ba là, nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử có yêu cầu rất nghiêm ngặt

Ở Anh, việc bám sát vào tiền lệ pháp trong hoạt động xét xử là yêu cầu nghiêm ngặt: Trong nhiều năm, Thượng nghị viện, Tòa án cao nhất ở Anh đã cho rằng mình phải tuyệt đối tuân thủ các phán quyết trong quá khứ của chính mình. Mức độ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “stare decisis” (tuân thủ phán quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm đã được thiết lập) của các Tòa án ở Anh không chỉ thể hiện ở sự miễn cưỡng trong việc phân biệt tình tiết vụ việc hiện tại với những vụ việc trong quá khứ[7], cụ thể, trước cải cách tư pháp án lệ được hình thành và áp dụng theo nguyên tắc nghiêm ngặt sau:

- Quyết định trở thành án lệ của cấp xét xử cao nhất - Tòa án cấp cao (Thượng nghị viện) có giá trị bắt buộc đối với các Tòa án cấp dưới và bắt buộc với chính Tòa thượng nghị viện.

- Quyết định được xuất bản thành án lệ của Tòa án cao cấp có thẩm quyền chung (Tòa án phúc thẩm; Tòa hình sự cao cấp; Tòa cao cấp có thẩm quyền chung) có giá trị bắt buộc đối với hệ thống Tòa án sơ cấp, đồng thời có giá trị bắt buộc với chính nó.

- Phán quyết của hệ thống Tòa án sơ cấp (Tòa án cấp quận; Tòa án cấp cơ sở) chỉ có thể là kinh nghiệm, ví dụ, tham khảo nhưng không tạo ra án lệ bắt buộc.

3. Giá trị pháp lý của án lệ so với luật thành văn

Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến, đều bắt đầu thừa nhận án lệ là một loại nguồn của hệ thống pháp luật quốc gia, có sự vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thống Tòa án, bởi xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc Tòa án không được quyền từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của các nước. Do vậy, không chỉ hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Common law và Cilvil law, hệ thống pháp luật đang hoàn thiện như pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa… đã chính thức thừa nhận án lệ là một nguồn luật. Tuy nhiên, dù là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Thông luật với truyền thống án lệ hay những quốc gia không theo truyền thống án lệ thì án lệ vẫn có vị trị pháp lý thấp hơn trong góc nhìn với luật thành văn: Pháp luật Tây Ban Nha chịu ảnh hưởng của Luật La Mã vẫn coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được Tòa án tối cao áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp[8]. Ở Việt Nam, án lệ đã được thừa nhận là một loại nguồn bên cạnh văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất[9]. Án lệ vẫn đóng vai trò là nguồn bổ sung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ví dụ Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: (i) Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự; (ii) Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng[10]. ở nước Anh, quốc gia phát triển nên nguồn luật án lệ, đặt nền tảng cho sự ra đời của hệ thống Thông luật, án lệ không chỉ đóng vai trò là loại nguồn đặc trưng của hệ thống pháp luật này mà còn là một loại nguồn quan trọng bên cạnh pháp luật thành văn của Nghị viện. Tuy nhiên, so với án lệ thì giá trị pháp lý của luật do Nghị viện ban hành vẫn có hiệu lực cao hơn án lệ do thẩm phán làm ra. Luật được ban hành để bổ sung hoặc thay thế cho án lệ. Luật có thể phủ nhận hiệu lực trong tương lai của một án lệ nào đó và thậm chí luật còn có hiệu lực hồi tố, có thể làm cho án lệ nào đó đã tuyên trong quá khứ trở nên vô hiệu[11].

Tuy vậy, điểm tạo nên sự khác biệt về giá trị pháp lý của án lệ so với luật thành văn giữa nước Anh và các quốc gia khác được thể hiện như sau: Mặc dù luật thành văn có giá trị pháp lý cao hơn án lệ do thẩm phán sáng tạo ra, tuy nhiên, trên thực tế, án lệ ở nước Anh luôn được các cơ quan, tổ chức và công dân rất tôn trọng và nhiều khi nó còn có giá trị pháp lý như đạo luật thành văn, đặc biệt đối với những vụ án liên quan đến giải thích Hiến pháp.

4. Tích cực và hạn chế của án lệ nước Anh

4.1. Tính tích cực

Thứ nhất, pháp luật được cụ thể hóa thông qua thực tiễn xét xử

Điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật thực định Anh là do cơ quan tư pháp, tức Tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng và phát triển án lệ hay tiền lệ pháp. Những lĩnh vực như luật hợp đồng, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng cũng như hành vi phạm tội nghiêm trọng như giết người và hành hung tập thể (Conmon assault) đều là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải của cơ quan lập pháp[12]. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa hệ thống pháp luật Anh với các hệ thống pháp luật pháp điển hóa ở châu Âu lục địa và những hệ thống pháp luật khác chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật ở châu Âu lục địa. Với ưu điểm điểm này, phần lớn quy phạm trong luật thực định Anh mang tính thực tiễn cao hơn, dễ áp dụng, dễ đi vào cuộc sống, ít tính trừu tượng, khó hiểu như quy phạm trong luật thực định của pháp luật các nước châu Âu, nơi mà tư duy pháp luật được hình thành từ các giảng đường đại học chứ không phải bằng con đường quyền lực nhà nước.

Thứ hai, nguyên tắc áp dụng án lệ chặt chẽ, rõ ràng

Nước Anh là quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời của án lệ nên quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ ở đây rất cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng. Điều này mang tới những lợi thế trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật như sau: (i) Giúp cho hệ thống tuyển tập án lệ đã xuất bản dễ dàng phát huy tính hiệu quả trên thực tế; (ii) Tạo thuận lợi cho hệ thống Tòa án cấp dưới dễ dàng áp dụng các bản án là án lệ; (iii) Giá trị về mặt thời gian của án lệ.

4.2. Điểm hạn chế của án lệ Thông luật Anh

Một là, tính nghiêm ngặt

Có thể thấy rõ tính nghiêm ngặt của án lệ Anh là rập khuôn, máy móc, trong các bản án hầu như không có chỗ cho quan điểm của thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc mà Tòa án coi là quan trọng. So với thẩm phán ở Mỹ, vai trò của thẩm phán ở Anh trong sáng tạo ra các án lệ bị gò bó hơn ở Mỹ, mặc dù án lệ bắt buộc áp dụng ở Anh tuy cũng có những ưu điểm nhưng trong một góc nhìn khác cũng chính nguyên tắc này đã trở thành lực cản đối với sự sáng tạo của các thẩm phán khi xét xử bởi họ phải tuân thủ án lệ một cách nghiêm ngặt.

Thứ hai, áp dụng phức tạp

Án lệ xét xử là nguồn cơ bản của pháp luật nước Anh. Hiện nay, nước Anh có khoảng 800 ngàn án lệ xét xử và mỗi năm bổ sung thêm khoảng 20 ngàn án lệ xét xử mới. Tất cả các án lệ xét xử đó tạo thành 300 tuyển tập theo pháp luật bên trong quốc gia và theo pháp luật châu Âu[13]. Với khối lượng lớn án lệ và sự phức tạp trong việc tra cứu án lệ là vấn đề khó khăn đối với thẩm phán và luật sư trong việc tìm ra các án lệ phù hợp bản chất của các vụ việc đang thụ lý.

5. Kinh nghiệm cho việc hoàn thiện án lệ ở Việt Nam

Sau một thời gian triển khai Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra mục đích xây dựng và hoàn thiện từng bước hoạt động của Tòa án nhân dân là “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm”, ngày 06/4/2016, 06 án lệ đầu tiên của Việt Nam đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 220/QĐ-CA; các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự trên toàn quốc có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử kể từ ngày 01/6/2016.

Mặc dù Việt Nam đã chính thức thừa nhận án lệ là một loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, án lệ ở Việt Nam hiện hành hay xu hướng cải cách tư pháp đến năm 2020 sẽ hướng đến việc phát triển án lệ ở Việt Nam theo mô hình nào? Mô hình các nước Thông luật như Anh, Mỹ hay mô hình án lệ ở các nước châu Âu như Pháp, Đức? Đây thực sự là một thách thức cho việc phát triển án lệ ở Việt Nam. Xét về hình thức pháp lý như tiêu chí về nguồn luật, phương pháp pháp luật, hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với hệ thống pháp luật các nước dân luật thành văn như Pháp và Đức của châu Âu lục địa hơn là hệ thống Thông luật Anh - Mỹ. Tuy nhiên, trong vấn đề về án lệ, cũng giống như nhiều chủ đề nghiên cứu dưới góc độ luật so sánh, sẽ không có một giải pháp duy nhất nhằm tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam. Những nhân tố hợp lý của án lệ trong thông luật cũng sẽ rất có giá trị khi nó được tiếp nhận phù hợp vào môi trường văn hóa pháp lý Việt Nam[14], đặc biệt tiếp thu có chọn lọc án lệ nước Anh - quốc gia có bề dày lịch sử về nghiên cứu và phát triển án lệ sẽ là một lựa chọn hữu ích cho việc hoàn thiện mô hình án lệ ở Việt Nam trong giai đoạn án lệ vừa mới được thừa nhận và chưa định hình rõ mô hình án lệ mà Việt sẽ phải theo như hiện nay, tác giả xin đưa ra quan điểm cá nhân hoàn thiện một số quy định về án lệ Việt Nam theo hình thức án lệ nước Anh như sau:

Một là, làm rõ quy định về khái niệm án lệ

Điều 1 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP định nghĩa: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Với định nghĩa này thì khái niệm án lệ chưa đủ rõ về mặt nội dung. Bởi lẽ, trong đa số các bản án, quyết định thì Tòa án thường có nhiều lập luận về những vấn đề cần giải quyết của vụ việc đó. Đó có thể là lập luận về các tình tiết khách quan của vụ việc; tính hợp pháp; tính liên quan của chứng cứ do đương sự xuất trình, cung cấp hoặc lập luận về việc áp dụng quy định cụ thể của pháp luật. Vì vậy, với định nghĩa trên, có thể dẫn tới cách hiểu không đúng về án lệ[15].

Vì vậy, để thừa nhận án lệ là một loại nguồn của hệ thống pháp luật Việt Nam, muốn Tòa án các cấp hiểu đúng với bản chất, hình thức của án lệ và áp dụng thống nhất trong hệ thống cơ quan tư pháp thì tất yếu phải hoàn thiện khái niệm về án lệ. Chúng ta có thể tham khảo định nghĩa về án lệ theo Thông luật Anh - quốc gia đặt nền tảng cho sự ra đời hình thức án lệ, với một định nghĩa rõ ràng, chặt chẽ và đúng với bản chất của hình thức án lệ[16], một loại nguồn quan trọng trong việc củng cố hoàn thiện luật thực định của quốc gia là một giải pháp tốt cho định nghĩa án lệ ở Việt Nam lúc này. Với định nghĩa này, chúng ta có thể bỏ cụm từ “án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án của Tòa án tối cao để nghiên cứu, áp dụng” thay bằng cụm từ “án lệ là nguyên tắc bắt buộc” để hoàn thiện thêm định nghĩa về án lệ ở Việt Nam. Bởi lẽ, án lệ là loại nguồn ra đời là để bổ sung cho những thiếu sót của luật thành văn, làm rõ quy định của pháp luật còn có nhiều cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể[17]. Như vậy lúc này án lệ đóng vai trò quan trọng không kém luật thực định, nếu chỉ quy định án lệ là những lập luận, phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thì rất có thể án lệ ban hành chỉ mang tính hình thức, các Tòa án sẽ không đồng nhất áp dụng, hậu quả dẫn đến một quan hệ xã hội nào đó sẽ không được điều chỉnh đúng với một quy phạm tương ứng. Nếu bổ sung thêm cụm từ này sẽ giúp hình thức án lệ có tính thực tiễn cao hơn, Tòa án các cấp thống nhất trong xét xử.

Thứ hai, bổ sung quy định về giá trị pháp lý của án lệ

Giá trị pháp lý của án lệ trong hệ thống nguồn luật đóng vai trò rất quan trọng, quyết định vị trí tồn tại của nó bên cạnh các loại nguồn khác cho dù án lệ đó là của quốc gia Thông luật với truyền thống án lệ hay những quốc gia chú trọng vai trò của luật thực định trong hệ thống pháp luật quốc gia như Civil law thì tất cả những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này khi đã thừa nhận án lệ đều giành những điều khoản để làm sáng rõ vị trí pháp lý của án lệ. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, quy định về vị trí pháp lý của án lệ chỉ được tìm thấy ở một nội dung nhỏ về áp dụng pháp luật tương tự khi giải quyết các vụ án, vụ việc về dân sự[18], còn với hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một quy định cụ thể, rõ ràng về giá trị pháp lý của án lệ trong bất kỳ một văn bản nào, ngay cả Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP mới chỉ có một quy định nhỏ về giá trị pháp lý của án lệ tại khoản 3 Điều 2, khi quy định về tiêu chí lựa chọn án lệ. Thiết nghĩ đây là một thiếu sót cần bổ sung quy định về giá trí pháp lý của án lệ bên cạnh các loại nguồn khác tại một văn bản thống nhất, để hướng dẫn Tòa án các cấp thống nhất thực hiện, cụ thể là cần bổ sung quy định của pháp luật tố tụng về giá trị pháp lý và nguyên tắc áp dụng, viện dẫn án lệ trong xét xử án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính.

Thứ ba, hoàn thiện thêm nguyên tắc áp dụng án lệ ở Việt Nam

Cần tham khảo 02 nguyên tắc áp dụng án lệ của Anh để bổ sung và hoàn thiện cho quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ của Việt Nam được quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP như sau:

(i) Nguyên tắc án lệ sử dụng phải có tính bắt buộc: Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP quy định: “Khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau”. Với quy định này, dù không sử dụng thuật ngữ “án lệ bắt buộc áp dụng” nhưng có thể hiểu nó có cùng bản chất. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa quy định chi tiết nguyên tắc này, bởi đây là nguyên tắc cần thiết với bất kỳ án lệ trong pháp luật của quốc gia nào để đảm bảo án lệ chặt chẽ và hiệu quả không kém gì luật thành văn. Để thực hiện được nguyên tắc này, Việt Nam phải quy định một trình tự, thủ tục hay một quy trình cụ thể của việc công nhận một án lệ là bắt buộc.

(ii) Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ của Tòa án cấp trên: Vì hệ thống Tòa án Việt Nam được tổ chức thành các cấp nên cũng có thể áp dụng nguyên tắc này. Ban đầu có thể quy định chỉ có Tòa án nhân dân tối cao mới được quyền tạo ra án lệ và các Tòa án cấp dưới phải tuân thủ, sau này, khi số lượng án lệ đã tăng lên và việc áp dụng dần đi vào ổn định thì có thể mở rộng khả năng tạo ra án lệ cho các Tòa án cấp dưới trực tiếp của Tòa án nhân dân tối cao.

ThS. Trần Thị Diệu Hương

Đại học Luật, Đại học Huế

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lê Văn Sua (2015), Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/ Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, ngày 03/11/2015.

[2]. Xem: Lưu Tiến Dũng (2014), Các trường phái án lệ trên thế giới - mô hình nào cho Việt Nam?, http://lsvn.vn/news/Nghien-cuu/Cac-truong-phai-an-le-tren-the-gioi-Mo-hinh-nao-cho-Viet-Nam-Ky-I-An-le-mang-tinh-rang-buoc-ap-dung-170/, ngày 18/09/2014.

[3]. Xem: Lê Thị Nga (2015), Tập bài giảng Luật học so sánh, tr.58, Nxb. Đại học Huế.

[4]. Xem: Lưu Tiến Dũng (2014), Các trường phái án lệ trên thế giới - mô hình nào cho Việt Nam?, http://lsvn.vn/news/Nghien-cuu/Cac-truong-phai-an-le-tren-the-gioi-Mo-hinh-nao-cho-Viet-Nam-Ky-I-An-le-mang-tinh-rang-buoc-ap-dung-170/, ngày 18/09/2014.

[5]. Xem: Võ Khánh Vinh (2013), Luật học so sánh, tr.284, Nxb. Khoa học xã hội.

[6]. Xem: Nguyễn Văn Nam, án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự của Pháp, Đức và việc sử dụng án lệ ở Việt Nam, www.toaan.gov.vn.

[7]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật học so sánh, tr.261, Nxb. Công an nhân dân.

[8]. Xem: Lê Văn Sua, án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/ Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, ngày 03/11/2015.

[9]. Xem: Điều 119 Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

[10]. Xem: Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật so sánh, tr.263, Nxb. Công an nhân dân.

[12]. Xem: Nguyễn Quốc Hoàn (2010), Chương 3 - Giáo trình Luật so sánh, tr.259, Nxb. Công an nhân dân.

[13]. Xem: Võ Khánh Vinh (2013), Luật học so sánh, tr.284, Nxb. Khoa học xã hội

[14]. Xem: Nguyễn Văn Nam, án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự Pháp, Đức, và việc sử dụng án lệ ở Việt Nam, https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/an-le-trong-he-thong-phap-luat-dan-su-cac-nuoc-phap-duc-va-viec-su-dung-an-le-o-viet-nam.aspx.

[15]. Xem: Lê Mạnh Hùng (2016), Án lệ và việc áp dụng án lệ trong xét xử, giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ I, tháng 4/2016 (số 7).

[16]. Theo đó, án lệ Anh được định nghĩa như sau: “Án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court), Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án”.

[17]. Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HDTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố áp dụng án lệ.

[18]. Xem: Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: