Thứ tư 13/05/2026 21:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng điều luật nào trong kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án

Thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình hoặc tài sản chung với người khác để đảm bảo thi hành án. Mặc dù pháp luật đã quy định về trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản[1], nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thi hành án vẫn còn những vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất được nên áp dụng điều luật nào cho đúng.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản chung bao gồm: Sở hữu chung cộng đồng; sở hữu chung của các thành viên gia đình; sở hữu chung vợ chồng; sở hữu chung trong nhà chung cư; sở hữu chung hỗn hợp. Bộ luật này cũng quy định quản lý, định đoạt, phân chia và chấm dứt sở hữu chung.

Luật Thi hành án dân sự năm 2014 cũng đã quy định trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản chung để thi hành án[2] trước khi xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác, để thi hành án. Trước hết, phải xác định được phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác. Muốn vậy, phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định, mà không phân biệt loại sở hữu chung theo điều luật này quy định.

Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) quy định: (i) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết; (ii) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết; (iii) Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.

Vấn đề đặt ra là khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định tài sản chung thì phải khởi kiện ra Tòa án để phân chia, mà không phân biệt tài sản chung với ai. Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án, chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án. Còn điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP áp dụng đối với tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình. Chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình theo quy định. Mặc dù họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.

Thực tiễn cho thấy, khi chấp hành viên áp dụng điểm c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để cưỡng chế, kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng, nhưng bị khiếu nại cho rằng chấp hành viên không áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Còn khi chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ, chồng, thì Tòa án cho rằng chấp hành viên phải xác định phần sở hữu và xử lý theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, nên chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu.

Trong quá trình giải quyết những “vướng mắc” ở trên, còn có những ý kiến khác nhau, chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng, để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu theo Bộ luật Dân sự, chấp hành viên phải áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia phần sở hữu của các đồng sở hữu. Sau đó, căn cứ vào quyết định của Tòa án xử lý tài sản của người phải thi hành án, để thi hành án là đúng pháp luật.

Ý kiến khác cho rằng điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể, nên chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình và thông báo cho họ biết theo quy định. Nếu họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, thì chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án là đúng quy định, không cần khởi kiện kéo dài thời gian thi hành án. Nếu họ khiếu nại, tố cáo thì giải quyết việc khiếu nại, tố cáo theo pháp luật quy định.

Thực tế có những vụ việc như nêu ở trên đã kéo dài nhiều năm, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn xử lý, dẫn đến án bị tồn đọng, kéo dài gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự. Vậy khi thực thi nhiệm vụ của mình, chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 hay điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để kê biên tài sản của người phải thi hành án là tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản của hộ gia đình?

Theo quan điểm của chúng tôi thì dù ý kiến nào đi chăng nữa, cũng phải có căn cứ, đúng pháp luật mới chấp nhận được. Ai cũng biết, công tác thi hành án dân sự là một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Bên cạnh đó, pháp luật về thi hành án dân sự quy định chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng, còn “vênh” với các ngành luật khác, dễ dẫn đến “xung đột” pháp luật. Những người làm công tác thi hành án dân sự đều hiểu Luật Thi hành án dân sự là luật hình thức, phạm vi điều chỉnh Luật này được quy định tại Điều 1. Khi xử lý tài sản của người phải thi hành án cần áp dụng luật nội dung tương ứng với từng loại tài sản để thi hành án.

Trở lại vấn đề đã nêu, phải căn cứ vào quy định của pháp luật để làm rõ áp dụng điều luật nào xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình, để thi hành án, chấp hành viên nên áp dụng điều luật nào?. Cùng một vấn đề, nhưng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định cách xử lý khác với điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Như vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2014 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Do vậy, chấp hành viên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản của người phải thi hành án để thi hành án là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài điều luật này ra, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, chưa có bất cứ điều luật nào quy định chấp hành viên phải xác định phần sở hữu của các đồng sở hữu trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình với người phải thi hành án. Bởi vậy, việc xác định này không có giá trị pháp lý. Trong khi đó, khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định: “... chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự...”. Một trong những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là: “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” (khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước3, thì chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án và các đồng sở hữu tài sản trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các đồng sở hữu khác, nhưng Tòa án cho rằng chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu? Nhận định này của Tòa án là trái pháp luật, cần phải được cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ.

Như phân tích trên, chúng tôi đồng tình với việc chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án, là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, để việc áp dụng pháp luật được chính thống, hiểu và áp dụng thống nhất, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự. Giảm bớt án tồn đọng kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Rất mong cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thi hành hai điều luật nói trên.

Phạm Công Ý

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[2]. Xem: Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[3]. Xem Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: