Thứ tư 21/01/2026 00:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng điều luật nào trong kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án

Thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình hoặc tài sản chung với người khác để đảm bảo thi hành án. Mặc dù pháp luật đã quy định về trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản[1], nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thi hành án vẫn còn những vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất được nên áp dụng điều luật nào cho đúng.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản chung bao gồm: Sở hữu chung cộng đồng; sở hữu chung của các thành viên gia đình; sở hữu chung vợ chồng; sở hữu chung trong nhà chung cư; sở hữu chung hỗn hợp. Bộ luật này cũng quy định quản lý, định đoạt, phân chia và chấm dứt sở hữu chung.

Luật Thi hành án dân sự năm 2014 cũng đã quy định trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản chung để thi hành án[2] trước khi xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác, để thi hành án. Trước hết, phải xác định được phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác. Muốn vậy, phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định, mà không phân biệt loại sở hữu chung theo điều luật này quy định.

Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) quy định: (i) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết; (ii) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết; (iii) Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.

Vấn đề đặt ra là khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định tài sản chung thì phải khởi kiện ra Tòa án để phân chia, mà không phân biệt tài sản chung với ai. Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án, chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án. Còn điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP áp dụng đối với tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình. Chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình theo quy định. Mặc dù họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.

Thực tiễn cho thấy, khi chấp hành viên áp dụng điểm c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để cưỡng chế, kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng, nhưng bị khiếu nại cho rằng chấp hành viên không áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Còn khi chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ, chồng, thì Tòa án cho rằng chấp hành viên phải xác định phần sở hữu và xử lý theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, nên chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu.

Trong quá trình giải quyết những “vướng mắc” ở trên, còn có những ý kiến khác nhau, chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng, để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu theo Bộ luật Dân sự, chấp hành viên phải áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia phần sở hữu của các đồng sở hữu. Sau đó, căn cứ vào quyết định của Tòa án xử lý tài sản của người phải thi hành án, để thi hành án là đúng pháp luật.

Ý kiến khác cho rằng điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể, nên chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình và thông báo cho họ biết theo quy định. Nếu họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, thì chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án là đúng quy định, không cần khởi kiện kéo dài thời gian thi hành án. Nếu họ khiếu nại, tố cáo thì giải quyết việc khiếu nại, tố cáo theo pháp luật quy định.

Thực tế có những vụ việc như nêu ở trên đã kéo dài nhiều năm, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn xử lý, dẫn đến án bị tồn đọng, kéo dài gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự. Vậy khi thực thi nhiệm vụ của mình, chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 hay điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để kê biên tài sản của người phải thi hành án là tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản của hộ gia đình?

Theo quan điểm của chúng tôi thì dù ý kiến nào đi chăng nữa, cũng phải có căn cứ, đúng pháp luật mới chấp nhận được. Ai cũng biết, công tác thi hành án dân sự là một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Bên cạnh đó, pháp luật về thi hành án dân sự quy định chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng, còn “vênh” với các ngành luật khác, dễ dẫn đến “xung đột” pháp luật. Những người làm công tác thi hành án dân sự đều hiểu Luật Thi hành án dân sự là luật hình thức, phạm vi điều chỉnh Luật này được quy định tại Điều 1. Khi xử lý tài sản của người phải thi hành án cần áp dụng luật nội dung tương ứng với từng loại tài sản để thi hành án.

Trở lại vấn đề đã nêu, phải căn cứ vào quy định của pháp luật để làm rõ áp dụng điều luật nào xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình, để thi hành án, chấp hành viên nên áp dụng điều luật nào?. Cùng một vấn đề, nhưng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định cách xử lý khác với điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Như vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2014 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Do vậy, chấp hành viên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản của người phải thi hành án để thi hành án là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài điều luật này ra, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, chưa có bất cứ điều luật nào quy định chấp hành viên phải xác định phần sở hữu của các đồng sở hữu trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình với người phải thi hành án. Bởi vậy, việc xác định này không có giá trị pháp lý. Trong khi đó, khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định: “... chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự...”. Một trong những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là: “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” (khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước3, thì chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án và các đồng sở hữu tài sản trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các đồng sở hữu khác, nhưng Tòa án cho rằng chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu? Nhận định này của Tòa án là trái pháp luật, cần phải được cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ.

Như phân tích trên, chúng tôi đồng tình với việc chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án, là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, để việc áp dụng pháp luật được chính thống, hiểu và áp dụng thống nhất, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự. Giảm bớt án tồn đọng kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Rất mong cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thi hành hai điều luật nói trên.

Phạm Công Ý

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[2]. Xem: Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[3]. Xem Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: