Chủ nhật 15/03/2026 07:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng điều luật nào trong kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án

Thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình hoặc tài sản chung với người khác để đảm bảo thi hành án. Mặc dù pháp luật đã quy định về trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản[1], nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thi hành án vẫn còn những vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất được nên áp dụng điều luật nào cho đúng.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản chung bao gồm: Sở hữu chung cộng đồng; sở hữu chung của các thành viên gia đình; sở hữu chung vợ chồng; sở hữu chung trong nhà chung cư; sở hữu chung hỗn hợp. Bộ luật này cũng quy định quản lý, định đoạt, phân chia và chấm dứt sở hữu chung.

Luật Thi hành án dân sự năm 2014 cũng đã quy định trình tự, thủ tục kê biên xử lý tài sản chung để thi hành án[2] trước khi xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác, để thi hành án. Trước hết, phải xác định được phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác. Muốn vậy, phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định, mà không phân biệt loại sở hữu chung theo điều luật này quy định.

Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) quy định: (i) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết; (ii) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết; (iii) Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.

Vấn đề đặt ra là khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định tài sản chung thì phải khởi kiện ra Tòa án để phân chia, mà không phân biệt tài sản chung với ai. Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án, chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án. Còn điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP áp dụng đối với tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản chung của hộ gia đình. Chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình theo quy định. Mặc dù họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.

Thực tiễn cho thấy, khi chấp hành viên áp dụng điểm c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để cưỡng chế, kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng, nhưng bị khiếu nại cho rằng chấp hành viên không áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Còn khi chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ, chồng, thì Tòa án cho rằng chấp hành viên phải xác định phần sở hữu và xử lý theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, nên chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu.

Trong quá trình giải quyết những “vướng mắc” ở trên, còn có những ý kiến khác nhau, chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng, để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu theo Bộ luật Dân sự, chấp hành viên phải áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia phần sở hữu của các đồng sở hữu. Sau đó, căn cứ vào quyết định của Tòa án xử lý tài sản của người phải thi hành án, để thi hành án là đúng pháp luật.

Ý kiến khác cho rằng điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể, nên chấp hành viên có quyền phân chia phần cho vợ, chồng hoặc các thành viên trong hộ gia đình và thông báo cho họ biết theo quy định. Nếu họ không đồng ý với việc phân chia của chấp hành viên, nhưng quá thời hạn quy định họ không khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia, thì chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản để thi hành án là đúng quy định, không cần khởi kiện kéo dài thời gian thi hành án. Nếu họ khiếu nại, tố cáo thì giải quyết việc khiếu nại, tố cáo theo pháp luật quy định.

Thực tế có những vụ việc như nêu ở trên đã kéo dài nhiều năm, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn xử lý, dẫn đến án bị tồn đọng, kéo dài gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự. Vậy khi thực thi nhiệm vụ của mình, chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 hay điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để kê biên tài sản của người phải thi hành án là tài sản chung vợ, chồng hoặc tài sản của hộ gia đình?

Theo quan điểm của chúng tôi thì dù ý kiến nào đi chăng nữa, cũng phải có căn cứ, đúng pháp luật mới chấp nhận được. Ai cũng biết, công tác thi hành án dân sự là một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Bên cạnh đó, pháp luật về thi hành án dân sự quy định chưa cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng, còn “vênh” với các ngành luật khác, dễ dẫn đến “xung đột” pháp luật. Những người làm công tác thi hành án dân sự đều hiểu Luật Thi hành án dân sự là luật hình thức, phạm vi điều chỉnh Luật này được quy định tại Điều 1. Khi xử lý tài sản của người phải thi hành án cần áp dụng luật nội dung tương ứng với từng loại tài sản để thi hành án.

Trở lại vấn đề đã nêu, phải căn cứ vào quy định của pháp luật để làm rõ áp dụng điều luật nào xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình, để thi hành án, chấp hành viên nên áp dụng điều luật nào?. Cùng một vấn đề, nhưng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định cách xử lý khác với điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Như vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2014 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Do vậy, chấp hành viên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để xử lý tài sản của người phải thi hành án để thi hành án là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài điều luật này ra, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, chưa có bất cứ điều luật nào quy định chấp hành viên phải xác định phần sở hữu của các đồng sở hữu trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình với người phải thi hành án. Bởi vậy, việc xác định này không có giá trị pháp lý. Trong khi đó, khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định: “... chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự...”. Một trong những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là: “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” (khoản 12 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước3, thì chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu tài sản của người phải thi hành án và các đồng sở hữu tài sản trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các đồng sở hữu khác, nhưng Tòa án cho rằng chấp hành viên không có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu? Nhận định này của Tòa án là trái pháp luật, cần phải được cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ.

Như phân tích trên, chúng tôi đồng tình với việc chấp hành viên áp dụng khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 để kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ, chồng hoặc hộ gia đình để thi hành án, là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, để việc áp dụng pháp luật được chính thống, hiểu và áp dụng thống nhất, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự. Giảm bớt án tồn đọng kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Rất mong cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thi hành hai điều luật nói trên.

Phạm Công Ý

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[2]. Xem: Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

[3]. Xem Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: