Thứ ba 06/10/2026 16:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[1]

Bài viết đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật xử lý rác thải tại các khu dân cư, nhằm cung cấp các thông tin lý luận có giá trị tham khảo bổ ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ môi trường nói chung và xử lý rác thải tại các khu dân cư nói riêng ở nước ta.

1. Khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là hoạt động phổ biến được các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, xét ở góc độ học thuật, việc giải mã khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư dường như được ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật này đề cập. Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một trường hợp hoặc một dạng cụ thể của áp dụng pháp luật nói chung. Dựa trên khái niệm áp dụng pháp luật có thể hiểu áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư như sau: Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một hoạt động mang tính thực tiễn, cụ thể và sinh động do các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước được giao quyền quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Nó là hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc để các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư, khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư hoặc khi nhà nước cần phải can thiệp, tham gia để bảo đảm việc thực thi trên thực tế các quyền của chủ thể về xử lý rác thải tại các khu dân cư theo quy định của pháp luật.

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư có một số đặc điểm đặc thù cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đây là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước và chỉ do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mỗi cá nhân chỉ được giao một số hoạt động nhất định trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong một số trường hợp cá biệt, một số tổ chức xã hội cũng có thể được nhà nước trao một số quyền nhất định để tiến hành áp dụng pháp luật và trong trường hợp cần thiết, áp dụng pháp luật được thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền phải xem xét cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể.

Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư được pháp luật quy định rõ ràng nên các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định để tránh sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, thiếu chính xác ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Hình thức thể hiện của áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện cụ thể bằng các bản án, quyết định…

Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Hay nói cách khác, quy phạm pháp luật thông qua hoạt động áp dụng pháp luật sẽ được cá biệt hoá một cách chính xác thành mệnh lệnh cụ thể đối với những chủ thể cụ thể. Tuy nhiên, mệnh lệnh cụ thể không được trái với mệnh lệnh chung đã nêu trong quy phạm pháp luật.

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo. Do vậy, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật cần phải nghiên cứu kỹ vụ việc là sáng tỏ cấu thành pháp lý của quan hệ xã hội. Trên cơ sở đó lựa chọn những quy phạm pháp luật để áp dụng phù hợp và ra quyết định, tổ chức thi hành đúng pháp luật. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết vụ việc. Trong quá trình áp dụng pháp luật, yêu cầu đối với những ngưòi có thẩm quyền là phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, kinh nghiệm phong phú, đạo đức trong sáng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt…

2. Quy trình áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[2]

Áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau. Vì vậy, để áp dụng pháp luật nói chung một cách chính xác, đạt hiệu quả cao, cần tiến hành các giai đoạn sau: (i) Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng những tình tiết thực tế khách quan của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của nó; (ii) Tìm, lựa chọn những quy phạm pháp luật phù hợp với nội dung vụ việc đang giải quyết; (iii) Ban hành văn bản áp dụng pháp luật; (iv) Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật. Quy trình áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư cũng có thể được thực hiện theo 04 giai đoạn trên, cụ thể như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tình tiết, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc.

Việc nghiên cứu hồ sơ là một khâu không thể thiếu của người có thẩm quyền trước khi tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể về rác thải tại các khu dân. Để nắm bắt được những nội dung cụ thể; người nghiên cứu hồ sơ phải có phương pháp nghiên cứu phù hợp, đúng đắn nhằm phát hiện các thông tin, các tình tiết chủ yếu của vụ việc để có đường lối giải quyết đúng đắn. Khi nghiên cứu hồ sơ một vụ việc, người có thẩm quyền xử lý không chỉ nghiên cứu kỹ các tài liệu do các bên cung cấp và các tài liệu do mình thu thập được mà còn phải nghiên cứu kỹ những tài liệu được lưu giữ, quản lý đối chiếu với các tài liệu khác liên quan đến vụ việc xử lý. Điều này giúp người có thẩm quyền xử lý làm sáng tỏ bản chất vụ việc, nguyên nhân của vi phạm. Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc giúp người có thẩm quyền xử lý tự tin, chủ động hơn khi kiểm tra các chứng cứ, tài liệu trong quá trình thụ lý giải quyết vụ việc.

Thứ hai, tìm, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với vấn đề cần giải quyết của vụ việc.

Trong xử lý rác thải tại các khu dân cư việc tìm, lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng là một thao tác bắt buộc và cũng đòi hỏi người có thẩm quyền phải có trình độ chuyên môn, sự tích lũy kiến thức ở một mức độ nhất định mới bảo đảm xử lý đúng pháp luật. Hiện nay, số lượng các văn bản của nhà nước liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung và rác thải nói riêng không nhỏ. Việc ban hành nhiều văn bản xuất phát từ thực tiễn quản lý môi trường trong nền kinh tế thị trường phức tạp nên người áp dụng pháp luật lựa chọn được những quy phạm phù hợp để áp dụng cũng không phải là việc đơn giản. Việc tìm và lựa chọn những quy phạm pháp luật tương ứng với hành vi, sự kiện mà hồ sơ vụ việc phản ánh phải là kỹ năng nghề nghiệp của người có thẩm quyền xử lý.

Thứ ba, ban hành văn bản áp dụng pháp luật.

Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật hay chính là quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư là rất quan trọng. Nó phản ánh cả quá trình thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ vụ việc và tìm, lựa chọn văn bản của người có thẩm quyền xử lý và việc chọn quy phạm pháp luật đúng, việc viện dẫn điều luật một cách đầy đủ, chính xác. Tính chính xác và khách quan của quyết định xử lý phản ánh hiểu quả áp dụng pháp luật. Chất lượng của quyết định xử lý là một trong những thước đo rất quan trọng để đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư…

Thứ tư, tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật.

Giai đoạn này cần tiến hành các hoạt động bảo đảm cho việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ văn bản áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại khu dân cư. Đồng thời, cần tiến hành kiểm tra, giám sát việc thi hành văn bản áp dụng pháp luật đã được ban hành nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi trong đời sống.

3. Tiêu chí đánh giá và các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư[3]

3.1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư

Một là, tỷ lệ số vụ việc rác thải tại các khu dân cư được giải quyết.

Đây là tiêu chí đánh giá dựa trên số lượng thể hiện ở tổng số vụ việc rác thải tại các khu dân cư đã thụ lý, giải quyết chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm so với số lượng các vụ việc vi phạm bị phát hiện trong một tháng, một quý hoặc một năm (tiêu chí đánh giá định tính). Như vậy, tỷ lệ số vụ rác thải tại các khu dân cư mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý, giải quyết càng cao thì hiệu quả áp dụng pháp luật càng lớn.

Hai là, tỷ lệ số vụ việc rác thải tại các khu dân cư được giải quyết đúng thời hạn do pháp luật quy định so với tổng số các vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được thụ lý, giải quyết.

Tỷ lệ thực thi thành công trên thực tế các quyết định xử lý vụ việc rác thải tại các khu dân cư trên thực tế là một chỉ số quan trọng để “đo, đếm” mức độ hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư. Tỷ lệ này đạt cao thì mức độ áp dụng pháp luật ngày càng có hiệu quả và ngược lại.

Ba là, kết quả thương lượng, hòa giải thành trong quá trình giải quyết vụ việc rác thải tại các khu dân cư.

Xét về khía cạnh pháp lý, kinh tế, tâm lý, xã hội, dẫu cho việc xử lý rác thải tại các khu dân cư là cần thiết song việc làm này gây tốn kém về nguồn lực của xã hội (nguồn lực con người, nguồn lực thời gian, nguồn lực kinh tế…) và gây tổn thương về mặt tâm lý, tinh thần giữa các bên đương sự. Đồng thời, việc làm này cũng tác động tiêu cực đến cấu trúc ổn định của các mối quan hệ xã hội và sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân ở các khu dân cư. Do đó, khi xử lý rác thải tại các khu dân cư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận động, hòa giải, thuyết phục bên đương sự vi phạm tự giác khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra... chiếm tỷ lệ cao thì càng làm tăng hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư.

Bốn là, tỷ lệ các quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư bị khiếu nại, khởi kiện hành chính.

Đây là tiêu chí rất quan trọng để đánh giá chất lượng giải quyết, xử lý vụ việc rác thải tại các khu dân cư. Nếu một quyết định giải quyết đúng pháp luật, hợp lý, “có lý, có tình” thì sẽ nhận được sự đồng thuận, ủng hộ không chỉ của cộng đồng dân cư mà còn của chính tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị vi phạm. Do đó, việc đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật cần căn cứ vào tỷ lệ các quyết định xử lý bị đương sự khiếu nại, khởi kiện hành chính hoặc bị cơ quan nhà nước cấp trên hủy toàn bộ hay một phần nội dung.

Năm là, tác động về mặt xã hội của xử lý rác thải tại các khu dân cư.

Một quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư đầy tính thuyết phục được nhân dân đồng tình ủng hộ là một yêu cầu hết sức quan trọng trong xử lý rác thải tại các khu dân cư đang có xu hướng ngày càng gia tăng và phức tạp như hiện nay. Nó góp phần tuyên truyền giáo dục pháp luật và cũng có tác dụng răn đe đối với những người không tuân thủ pháp luật khi trong đó chứa đựng những chế tài cụ thể, góp phần quan trọng vào việc xây dựng niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự nghiêm minh, công tâm của pháp luật. Nếu tỷ lệ các quyết định xử lý này được dư luận đồng tình ủng hộ cao thì đó chính là hiệu quả của cả quá trình áp dụng pháp luật.

3.2. Các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[4]

Xây dựng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là việc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xử lý rác thải tại các khu dân cư thực hiện được thuận tiễn, dễ dàng, khách quan công bằng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc bảo đảm cho lĩnh vực pháp luật này được áp dụng hiệu quả trên thực tế và phát huy tác dụng tích cực. Các điều kiện cơ bản bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư, bao gồm:

Thứ nhất, điều kiện bảo đảm về chính trị. Việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là kết quả tất yếu và phải gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và xử lý rác thải nói riêng.

Thứ hai, điều kiện bảo đảm về pháp lý. Hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về xử lý rác thải tại các khu dân cư từng bước được bổ sung, hoàn chỉnh[5], tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình xử lý vi phạm về rác thải tại các khu dân cư được áp dụng một cách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời, là cơ sở cho việc xử lý đúng người, đúng tội, ngăn ngừa có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật xảy ra.

Thứ ba, điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực. Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, côngchức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm việc áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dâncư đạt hiệu quả cao. Để bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư đạt hiệu quả cao, cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ; bên cạnh đó còn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Thứ tư, điều kiện bảo đảm về ý thức pháp luật của các chủ thể trong áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư. Các chủ thể trực tiếp tham gia và thụ hưởng trong quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư bao gồm: Cộng đồng dân cư; hộ gia đình, cá nhân; chính quyền cơ sở; các đoàn thể quần chúng ở cơ sở; cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; các tổ chức dịch vụ về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải... Trong một xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức pháp luật, vì phải có trình độ văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhận thức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòng tin vào pháp luật; qua đó chuyển hóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầu của pháp luật. Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm áp dụng hiệu quả lĩnh vực pháp luật này.

Thứ năm, điều kiện bảo đảm về nguồn vốn, cơ sở vật chất. Muốn áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư có hiệu quả thì phải đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phương tiện, dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại để xử lý rác thải và trả lương cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; chi trả dịch vụ về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải tại các khu dân cư... Hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư cho những hoạt động này chủ yếu do ngân sách nhà nước chi trả. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, chúng ta cần xã hội hóa một số hoạt động dịch vụ về phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải tại các khu dân cư để giảm tải gánh nặng cho ngân sách nhà nước…

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, năm 2023.

[2]. Nội dung phần này có tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Thúy Mai, “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010.

[3]. Nội dung phần này có tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Thúy Mai ,“Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010.

[4]. Nội dung phần này có tham khảo Luận án tiến sĩ “Pháp luật về kinh doanh bất động sản du lịch” của Đoàn Văn Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2021.

[5]. Như: Luật Bảo vệ môi trường năm 1994, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2015, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan...

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: