Thứ ba 10/03/2026 18:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[1]

Bài viết đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật xử lý rác thải tại các khu dân cư, nhằm cung cấp các thông tin lý luận có giá trị tham khảo bổ ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ môi trường nói chung và xử lý rác thải tại các khu dân cư nói riêng ở nước ta.

1. Khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là hoạt động phổ biến được các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, xét ở góc độ học thuật, việc giải mã khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư dường như được ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật này đề cập. Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một trường hợp hoặc một dạng cụ thể của áp dụng pháp luật nói chung. Dựa trên khái niệm áp dụng pháp luật có thể hiểu áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư như sau: Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một hoạt động mang tính thực tiễn, cụ thể và sinh động do các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước được giao quyền quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Nó là hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc để các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư, khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư hoặc khi nhà nước cần phải can thiệp, tham gia để bảo đảm việc thực thi trên thực tế các quyền của chủ thể về xử lý rác thải tại các khu dân cư theo quy định của pháp luật.

Áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư có một số đặc điểm đặc thù cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đây là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước và chỉ do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mỗi cá nhân chỉ được giao một số hoạt động nhất định trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong một số trường hợp cá biệt, một số tổ chức xã hội cũng có thể được nhà nước trao một số quyền nhất định để tiến hành áp dụng pháp luật và trong trường hợp cần thiết, áp dụng pháp luật được thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền phải xem xét cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể.

Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư được pháp luật quy định rõ ràng nên các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định để tránh sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, thiếu chính xác ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Hình thức thể hiện của áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện cụ thể bằng các bản án, quyết định…

Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Hay nói cách khác, quy phạm pháp luật thông qua hoạt động áp dụng pháp luật sẽ được cá biệt hoá một cách chính xác thành mệnh lệnh cụ thể đối với những chủ thể cụ thể. Tuy nhiên, mệnh lệnh cụ thể không được trái với mệnh lệnh chung đã nêu trong quy phạm pháp luật.

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo. Do vậy, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật cần phải nghiên cứu kỹ vụ việc là sáng tỏ cấu thành pháp lý của quan hệ xã hội. Trên cơ sở đó lựa chọn những quy phạm pháp luật để áp dụng phù hợp và ra quyết định, tổ chức thi hành đúng pháp luật. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết vụ việc. Trong quá trình áp dụng pháp luật, yêu cầu đối với những ngưòi có thẩm quyền là phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, kinh nghiệm phong phú, đạo đức trong sáng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt…

2. Quy trình áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[2]

Áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau. Vì vậy, để áp dụng pháp luật nói chung một cách chính xác, đạt hiệu quả cao, cần tiến hành các giai đoạn sau: (i) Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng những tình tiết thực tế khách quan của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của nó; (ii) Tìm, lựa chọn những quy phạm pháp luật phù hợp với nội dung vụ việc đang giải quyết; (iii) Ban hành văn bản áp dụng pháp luật; (iv) Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật. Quy trình áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư cũng có thể được thực hiện theo 04 giai đoạn trên, cụ thể như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tình tiết, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc.

Việc nghiên cứu hồ sơ là một khâu không thể thiếu của người có thẩm quyền trước khi tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể về rác thải tại các khu dân. Để nắm bắt được những nội dung cụ thể; người nghiên cứu hồ sơ phải có phương pháp nghiên cứu phù hợp, đúng đắn nhằm phát hiện các thông tin, các tình tiết chủ yếu của vụ việc để có đường lối giải quyết đúng đắn. Khi nghiên cứu hồ sơ một vụ việc, người có thẩm quyền xử lý không chỉ nghiên cứu kỹ các tài liệu do các bên cung cấp và các tài liệu do mình thu thập được mà còn phải nghiên cứu kỹ những tài liệu được lưu giữ, quản lý đối chiếu với các tài liệu khác liên quan đến vụ việc xử lý. Điều này giúp người có thẩm quyền xử lý làm sáng tỏ bản chất vụ việc, nguyên nhân của vi phạm. Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc giúp người có thẩm quyền xử lý tự tin, chủ động hơn khi kiểm tra các chứng cứ, tài liệu trong quá trình thụ lý giải quyết vụ việc.

Thứ hai, tìm, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với vấn đề cần giải quyết của vụ việc.

Trong xử lý rác thải tại các khu dân cư việc tìm, lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng là một thao tác bắt buộc và cũng đòi hỏi người có thẩm quyền phải có trình độ chuyên môn, sự tích lũy kiến thức ở một mức độ nhất định mới bảo đảm xử lý đúng pháp luật. Hiện nay, số lượng các văn bản của nhà nước liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung và rác thải nói riêng không nhỏ. Việc ban hành nhiều văn bản xuất phát từ thực tiễn quản lý môi trường trong nền kinh tế thị trường phức tạp nên người áp dụng pháp luật lựa chọn được những quy phạm phù hợp để áp dụng cũng không phải là việc đơn giản. Việc tìm và lựa chọn những quy phạm pháp luật tương ứng với hành vi, sự kiện mà hồ sơ vụ việc phản ánh phải là kỹ năng nghề nghiệp của người có thẩm quyền xử lý.

Thứ ba, ban hành văn bản áp dụng pháp luật.

Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật hay chính là quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư là rất quan trọng. Nó phản ánh cả quá trình thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ vụ việc và tìm, lựa chọn văn bản của người có thẩm quyền xử lý và việc chọn quy phạm pháp luật đúng, việc viện dẫn điều luật một cách đầy đủ, chính xác. Tính chính xác và khách quan của quyết định xử lý phản ánh hiểu quả áp dụng pháp luật. Chất lượng của quyết định xử lý là một trong những thước đo rất quan trọng để đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư…

Thứ tư, tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật.

Giai đoạn này cần tiến hành các hoạt động bảo đảm cho việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ văn bản áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại khu dân cư. Đồng thời, cần tiến hành kiểm tra, giám sát việc thi hành văn bản áp dụng pháp luật đã được ban hành nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi trong đời sống.

3. Tiêu chí đánh giá và các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư[3]

3.1. Tiêu chí đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý rác thải tại các khu dân cư

Một là, tỷ lệ số vụ việc rác thải tại các khu dân cư được giải quyết.

Đây là tiêu chí đánh giá dựa trên số lượng thể hiện ở tổng số vụ việc rác thải tại các khu dân cư đã thụ lý, giải quyết chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm so với số lượng các vụ việc vi phạm bị phát hiện trong một tháng, một quý hoặc một năm (tiêu chí đánh giá định tính). Như vậy, tỷ lệ số vụ rác thải tại các khu dân cư mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý, giải quyết càng cao thì hiệu quả áp dụng pháp luật càng lớn.

Hai là, tỷ lệ số vụ việc rác thải tại các khu dân cư được giải quyết đúng thời hạn do pháp luật quy định so với tổng số các vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được thụ lý, giải quyết.

Tỷ lệ thực thi thành công trên thực tế các quyết định xử lý vụ việc rác thải tại các khu dân cư trên thực tế là một chỉ số quan trọng để “đo, đếm” mức độ hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư. Tỷ lệ này đạt cao thì mức độ áp dụng pháp luật ngày càng có hiệu quả và ngược lại.

Ba là, kết quả thương lượng, hòa giải thành trong quá trình giải quyết vụ việc rác thải tại các khu dân cư.

Xét về khía cạnh pháp lý, kinh tế, tâm lý, xã hội, dẫu cho việc xử lý rác thải tại các khu dân cư là cần thiết song việc làm này gây tốn kém về nguồn lực của xã hội (nguồn lực con người, nguồn lực thời gian, nguồn lực kinh tế…) và gây tổn thương về mặt tâm lý, tinh thần giữa các bên đương sự. Đồng thời, việc làm này cũng tác động tiêu cực đến cấu trúc ổn định của các mối quan hệ xã hội và sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân ở các khu dân cư. Do đó, khi xử lý rác thải tại các khu dân cư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận động, hòa giải, thuyết phục bên đương sự vi phạm tự giác khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra... chiếm tỷ lệ cao thì càng làm tăng hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư.

Bốn là, tỷ lệ các quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư bị khiếu nại, khởi kiện hành chính.

Đây là tiêu chí rất quan trọng để đánh giá chất lượng giải quyết, xử lý vụ việc rác thải tại các khu dân cư. Nếu một quyết định giải quyết đúng pháp luật, hợp lý, “có lý, có tình” thì sẽ nhận được sự đồng thuận, ủng hộ không chỉ của cộng đồng dân cư mà còn của chính tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị vi phạm. Do đó, việc đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật cần căn cứ vào tỷ lệ các quyết định xử lý bị đương sự khiếu nại, khởi kiện hành chính hoặc bị cơ quan nhà nước cấp trên hủy toàn bộ hay một phần nội dung.

Năm là, tác động về mặt xã hội của xử lý rác thải tại các khu dân cư.

Một quyết định xử lý rác thải tại các khu dân cư đầy tính thuyết phục được nhân dân đồng tình ủng hộ là một yêu cầu hết sức quan trọng trong xử lý rác thải tại các khu dân cư đang có xu hướng ngày càng gia tăng và phức tạp như hiện nay. Nó góp phần tuyên truyền giáo dục pháp luật và cũng có tác dụng răn đe đối với những người không tuân thủ pháp luật khi trong đó chứa đựng những chế tài cụ thể, góp phần quan trọng vào việc xây dựng niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự nghiêm minh, công tâm của pháp luật. Nếu tỷ lệ các quyết định xử lý này được dư luận đồng tình ủng hộ cao thì đó chính là hiệu quả của cả quá trình áp dụng pháp luật.

3.2. Các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư[4]

Xây dựng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là việc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xử lý rác thải tại các khu dân cư thực hiện được thuận tiễn, dễ dàng, khách quan công bằng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc bảo đảm cho lĩnh vực pháp luật này được áp dụng hiệu quả trên thực tế và phát huy tác dụng tích cực. Các điều kiện cơ bản bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư, bao gồm:

Thứ nhất, điều kiện bảo đảm về chính trị. Việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là kết quả tất yếu và phải gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và xử lý rác thải nói riêng.

Thứ hai, điều kiện bảo đảm về pháp lý. Hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về xử lý rác thải tại các khu dân cư từng bước được bổ sung, hoàn chỉnh[5], tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình xử lý vi phạm về rác thải tại các khu dân cư được áp dụng một cách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời, là cơ sở cho việc xử lý đúng người, đúng tội, ngăn ngừa có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật xảy ra.

Thứ ba, điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực. Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, côngchức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm việc áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dâncư đạt hiệu quả cao. Để bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư đạt hiệu quả cao, cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ; bên cạnh đó còn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Thứ tư, điều kiện bảo đảm về ý thức pháp luật của các chủ thể trong áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư. Các chủ thể trực tiếp tham gia và thụ hưởng trong quan hệ pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư bao gồm: Cộng đồng dân cư; hộ gia đình, cá nhân; chính quyền cơ sở; các đoàn thể quần chúng ở cơ sở; cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; các tổ chức dịch vụ về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải... Trong một xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức pháp luật, vì phải có trình độ văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhận thức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòng tin vào pháp luật; qua đó chuyển hóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầu của pháp luật. Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm áp dụng hiệu quả lĩnh vực pháp luật này.

Thứ năm, điều kiện bảo đảm về nguồn vốn, cơ sở vật chất. Muốn áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư có hiệu quả thì phải đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phương tiện, dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại để xử lý rác thải và trả lương cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; chi trả dịch vụ về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải tại các khu dân cư... Hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư cho những hoạt động này chủ yếu do ngân sách nhà nước chi trả. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, chúng ta cần xã hội hóa một số hoạt động dịch vụ về phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải tại các khu dân cư để giảm tải gánh nặng cho ngân sách nhà nước…

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, năm 2023.

[2]. Nội dung phần này có tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Thúy Mai, “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010.

[3]. Nội dung phần này có tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Thúy Mai ,“Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010.

[4]. Nội dung phần này có tham khảo Luận án tiến sĩ “Pháp luật về kinh doanh bất động sản du lịch” của Đoàn Văn Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2021.

[5]. Như: Luật Bảo vệ môi trường năm 1994, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2015, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan...

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.

Theo dõi chúng tôi trên: