Thứ ba 25/08/2026 22:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 37001:2018 vào công tác phòng, tham nhũng trong khu vực tư ở việt nam hiện nay

Bài viết giới thiệu về tiêu chuẩn ISO 37001 - Hệ thống quản lý chống hối lộ và việc áp dụng hệ thống này vào công tác phòng, chống tham nhũng, góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay.

1. Về tham nhũng trong khu vực tư

Tham nhũng hiện nay không chỉ diễn ra ở khu vực công, mà còn “hoành hành” ở cả khu vực tư. Đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về tham nhũng trong khu vực tư nhưng có thể hiểu “tham nhũng trong khu vực tư là hành vi của người giữ một cương vị hay làm một công việc nhất định trong khu vực tư đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc ảnh hưởng của mình trong hoạt động kinh doanh vì vụ lợi”[1] là tương đối bao quát về chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng, quyền hạn được hướng tới hoặc được lợi dụng và phạm vi thực hiện hành vi tham nhũng. Một số đặc điểm phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư có thể kể đến như:

Thứ nhất, chủ thể của hành vi tham nhũng trong khu vực tư là cá nhân hoàn toàn không mang quyền lực nhà nước. Chủ thể này giữ chức vụ, có quyền hạn trong tổ chức tư nhân hoặc có ảnh hưởng nhất định đối với tổ chức tư nhân. Vì vậy, chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong khu vực tư có thể là tổng giám đốc, giám đốc, thành viên hội đồng quản trị, người quản lý, phụ trách của tổ chức tư nhân hoặc bất kỳ người nào làm việc ở bất kỳ cương vị nào cho tổ chức tư nhân hoặc có thể là đối tác, luật sư, tư vấn… của tổ chức tư nhân.

Thứ hai, quyền hạn được hướng tới hoặc được lợi dụng của hành vi tham nhũng trong khu vực tư là quyền hạn không mang tính quyền lực nhà nước. Quyền hạn này mang tính tập thể, do tập thể trao cho cá nhân thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức hợp đồng. Theo đó, khi một người nắm giữ một địa vị, công việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước[2] nhất định, người đó sẽ có một số quyền cụ thể để tiến hành công việc do mình phụ trách. Hành vi tham nhũng được thực hiện dựa trên cơ sở quyền hạn này.

Thứ ba, phạm vi thực hiện hành vi tham nhũng trong khu vực tư thường được giới hạn trong các hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại hoặc hoạt động kinh doanh. Phạm vi này được thừa nhận tương đối rộng rãi trong các văn bản pháp lý quốc tế hiện hành, tuy về mặt thuật ngữ có khác nhau. Nhìn chung, các hoạt động dân sự hoặc phi lợi nhuận không nằm trong phạm vi này.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bước đầu đã xác định cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước (sau đây gọi là cơ quan, tổ chức, đơn vị) bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội2 và doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này[3]. Đây là khuôn khổ pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh pháp luật phòng, chống tham nhũng đối với khu vực tư.

2. Hệ thống quản lý chống hối lộ theo tiêu chuẩn ISO 37001

Vào năm 2013, với sự tham gia của hơn 120 chuyên gia từ 25 nước cùng với đại diện Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) và Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International - TI) đã tiến hành thảo luận và được thông qua sau 06 cuộc họp quốc tế, mỗi cuộc từ 03 đến 05 ngày với khoảng 80 chuyên gia tham dự. Mỗi cuộc họp thảo luận 500 đến 800 đề xuất sửa đổi của mỗi nước thành viên. Với tỷ lệ phiếu bầu thể hiện sự đồng thuận cao (đạt 91%) ở quy mô quốc tế, đến tháng 10/2016, Hệ thống quản lý chống hối lộ được Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (International Organization for Standardization - ISO) chính thức ban hành và áp dụng rộng rãi trên thế giới với tên gọi là ISO 37001.

ISO 37001 được thiết kế để làm xây dựng văn hóa chống hối lộ trong tổ chức và thực thi những biện pháp kiểm soát phù hợp, từ đó làm tăng khả năng phát hiện hối lộ và làm giảm phạm vi ảnh hưởng của nó. Các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng được thiết kế để hỗ trợ và tăng cường các nỗ lực này, tạo ra sự minh bạch và rõ ràng trong hoạt động kiểm soát của tổ chức, đồng thời cung cấp cách thức thực hiện các biện pháp này một cách hiệu quả nhất. Hệ thống này có thể độc lập hoặc được tích hợp vào hệ thống quản lý chung của tổ chức.

Phạm vi của hệ thống này bao gồm việc hối lộ tại các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận, bao gồm các hoạt động hối lộ bởi tổ chức hoặc các nhân viên của tổ chức và hoạt động hối lộ được trả hoặc được nhận bởi một bên thứ ba. Hối lộ có thể diễn ra ở bất cứ đâu, có giá trị từ rất nhỏ đến rất lớn, có thể bao gồm các lợi ích về tài chính cũng như phi tài chính.

Các yêu cầu trong ISO 37001 mang tính tổng quát, có xu hướng áp dụng cho tất cả các tổ chức (hoặc các bộ phận của tổ chức), không phụ thuộc vào loại hình, quy mô và bản chất của các hoạt động, cũng như lĩnh vực hoạt động như: Hành chính công, tư nhân hoặc phi lợi nhuận của tổ chức. Có thể áp dụng cho cả các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tổ chức phi Chính phủ.

Các biện pháp được yêu cầu trong ISO 37001 được thiết kế để tích hợp với các quá trình quản lý và kiểm soát có sẵn của tổ chức. Qua đó, giúp tổ chức phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hoạt động hối lộ, từ các hoạt động hối lộ do tổ chức hoặc dưới danh nghĩa tổ chức thực hiện, đến các hoạt động hối lộ do nhân viên hoặc đối tác của tổ chức thực hiện. Hệ thống này sử dụng một chuỗi các biện pháp đo lường và kiểm soát có liên quan đến nhau, bao gồm cả các hướng dẫn hỗ trợ và đề cập đến các yêu cầu để: (i) Thông qua và phổ biến một chính sách chống hối lộ; (ii) Thu được cam kết và đảm bảo trách nhiệm của bộ phận quản lý đứng đầu; (iii) Thiết kế một quản lý hoặc bộ phận chức năng chịu trách nhiệm quản lý chống hối lộ; (iv) Đào tạo đội ngũ nhân viên; (v) Tiến hành đánh giá định kỳ nguy cơ hối lộ và thẩm định dự án và các bên liên quan trong kinh doanh (khách hàng, nhà thầu, thầu phụ, nhà cung cấp, tư vấn viên, đối tác liên doanh, đại diện…); (iv) Thực hiện rà soát và kiểm soát đội ngũ nhân viên nhằm ngăn chặn hối lộ; (vii) Kiểm soát quà tặng, các khoản dùng cho tiếp khách, từ thiện và những thứ tương tự để đảm bảo rằng các khoản này không bị sử dụng vào mục đích tham nhũng; (viii) Yêu cầu các bên liên quan trong kinh doanh cam kết chống hối lộ; (ix) Áp dụng các biện pháp quản lý tài chính nhằm giảm nguy cơ tham nhũng (ví dụ: Đòi hỏi hai chữ ký để thực hiện thanh toán, hạn chế sử dụng tiền mặt…); (x) Thực hiện các biện pháp quản lý mua sắm, thương mại và phi tài chính khác (như đấu thầu cạnh tranh, yêu cầu hai chữ ký để thông qua công việc thực hiện hay các hoạt động khác…); (xi) Cung cấp quy trình báo cáo mật (thổi còi); (xii) Thiết lập quy trình điều tra, xử lý các trường hợp hối lộ hoặc nghi ngờ hối lộ.

Chống hối lộ được thực hiện theo mô hình bốn bước, đó là:

Bước 1 (lập kế hoạch): Xác định các nghĩa vụ chống hối lộ và đánh giá rủi ro tuân thủ để xây dựng chiến lược, bao gồm các biện pháp giải quyết các vấn đề có thể phát sinh.

Bước 2 (thực hiện): Thực hiện các biện pháp và thiết lập cơ chế để giám sát tính hiệu quả.

Bước 3 (kiểm tra): Tiến hành rà soát chương trình quản lý chống hối lộ trên cơ sở các điều khoản được thực hiện.

Bước 4 (hành động): Xem xét và cải tiến chương trình liên tục, đảm bảo các trường hợp không tuân thủ được theo dõi và kiểm tra.

3. Lợi ích của ISO 37001 và sự tham gia của các nước trên thế giới

ISO 37001 nếu được triển khai và thực hiện nghiêm túc sẽ làm giảm rủi ro của việc hối lộ, có thể chứng minh cho các nhà quản lý trong tổ chức, nhân viên, chủ sở hữu, người góp vốn, khách hàng và các bên có liên quan đến hoạt động kinh doanh, rằng tổ chức đã thiết lập biện pháp kiểm soát chống hối lộ có hiệu quả tốt được công nhận trên phạm vi toàn cầu. Trong trường hợp điều tra, nó cũng cung cấp bằng chứng cho thấy tổ chức đã có những bước hợp lý để ngăn chặn nạn hối lộ.

Theo Neill Stansbury - Chủ tịch ban ISO chịu trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn về chống hối lộ cho biết: ISO 37001 sẽ giúp các tổ chức tuân thủ thực hành tốt trong công tác chống hối lộ và các yêu cầu pháp lý. Nó cũng giúp đảm bảo với người sở hữu tổ chức, ban quản lý, người lao động và các bên liên quan trong kinh doanh rằng tổ chức đang hoạt động theo đúng thực hành đạo đức kinh doanh và giúp giảm nguy cơ tổn thất tài chính và bị truy tố. Từ đó, nó sẽ cung cấp một lợi thế cạnh tranh cho tổ chức.

ISO 37001 nhằm giúp một tổ chức thực hiện một hệ thống quản lý chống hối lộ hiệu quả, nó có thể được sử dụng quốc tế. ISO 37001 được áp dụng cho các tổ chức nhỏ, vừa và lớn trong các lĩnh vực công cộng, tư nhân và tự nguyện. Việc tuân thủ ISO 37001 không thể đảm bảo rằng không có hối lộ nào xảy ra hoặc sẽ xảy ra liên quan đến một tổ chức. Tuy nhiên, tiêu chuẩn có thể giúp thiết lập rằng tổ chức đã thực hiện các biện pháp hợp lý và cân xứng được thiết kế để ngăn chặn hối lộ.

Với lợi ích nêu trên, tiêu chuẩn ISO 37001 đã được một số nước trên thế giới áp dụng như: Úc, Áo, Brazil, Cameroon, Canada, Trung Quốc, Colombia, Croatia, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Ecuador, Ai Cập, Pháp, Đức, Guatemala, Ấn Độ, Iraq, Israel, Kenya, Lebanon, Malaysia, Mauritius , Mexico, Morocco, Nigeria, Na Uy, Pakistan, Ả Rập Saudi, Serbia, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Tunisia, Anh, Mỹ, Zambia và các quốc gia quan sát bao gồm: Argentina, Armenia, Bulgaria, Chile, Síp, Côte d'Ivoire, Phần Lan, Hồng Kông, Hungary, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Litva, Macau, Mông Cổ, Hà Lan, New Zealand, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Nga , Thái Lan, Uruguay.

4. Áp dụng tiêu chuẩn ISO 37001 vào công tác phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vừa được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2018 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2019 đã đưa ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc phòng ngừa và chống lại tệ nạn tham nhũng. Theo đó, các hành vi như đưa và nhận hối lộ, tham ô, lạm dụng quyền, chức vụ để thu lợi bất chính đều bị coi là các hành vi tham nhũng, thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này.

Tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 12/07/2016, Chính phủ Việt Nam đã thẳng thắn thừa nhận công tác phòng chống tham nhũng chưa đạt được mục tiêu đã đề ra, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực. Theo Tổ chức Hướng tới minh bạch (TT), Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) tại Việt Nam cho rằng, việc tăng nhẹ điểm CPI trong hai năm liên tiếp (2016 - 2017) là chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua. Tuy nhiên, xét trên thang điểm từ 0 - 100 của CPI, trong đó 0 là tham nhũng nghiêm trọng và 100 là rất trong sạch, vấn đề tham nhũng ở Việt Nam vẫn được cho là rất nghiêm trọng. Kết quả này cũng tái khẳng định đánh giá của Đảng và Nhà nước về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam: Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân[4].

Vì vậy, áp dụng tiêu chuẩn ISO 37001 vào công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là một trong các giải pháp giúp thay đổi về mặt cấu trúc và văn hóa chống hối lộ trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận, bao gồm các hoạt động hối lộ bởi tổ chức hoặc các nhân viên của tổ chức và hoạt động hối lộ được trả hoặc được nhận bởi một bên thứ ba. Đặc biệt, là việc thực thi có hiệu quả Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vừa được Quốc hội thông qua.

Để thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận có cơ sở để áp dụng ISO 37001, Bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 37001:2018 “Hệ thống quản lý chống hối lộ - Các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng” đã được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tại quyết định số 3762/QĐ-BKHCN và có hiệu lực từ ngày 07/12/2018. Đây chính là nỗ lực lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc cam kết giải quyết nạn hối lộ thông qua các thỏa thuận quốc tế như: Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Công ước về chống hối lộ với những người thực hiện nhiệm vụ công ở nước ngoài trong các giao dịch thương mại quốc tế của OECD và Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC).

Tiêu chuẩn TCVN ISO 37001:2018 có sự phù hợp với các yêu cầu của ISO đối với tiêu chuẩn về hệ thống quản lý. Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng kết hợp với các tiêu chuẩn khác về hệ thống quản lý (ví dụ như: TCVN ISO 9001, TCNV ISO 14001, TCVN ISO/IEC 27001 và ISO 19600) và các tiêu chuẩn về quản lý (ví dụ như: TCVN 26000, TCVN ISO 31000).

Hiện nay, hối lộ là một trong những nguyên nhân làm gia tăng những nguy cơ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, đạo đức, kinh tế và chính trị, làm suy yếu việc điều hành, cản trở sự phát triển và bóp méo cạnh tranh. Hối lộ cũng có thể dẫn đến thiệt hại về tính mạng và tài sản, hủy hoại lòng tin vào các tổ chức và cản trở việc vận hành công bằng và hiệu quả của thị trường. Do đó, chỉ có luật pháp thì chưa đủ để giải quyết toàn diện cho vấn đề này, vì vậy, rất cần các tổ chức có trách nhiệm chủ động tham gia vào đấu tranh chống hối lộ. Điều này có thể đạt được thông qua hệ thống quản lý chống hối lộ được đưa ra trong tiêu chuẩn TCVN ISO 37001:2018 và thông qua cam kết của lãnh đạo đối với việc thiết lập văn hóa liêm chính, minh bạch, công khai và tuân thủ. Các tổ chức, doanh nghiệp cần có trách nhiệm chủ động tham gia vào đấu tranh để chống hối lộ hiệu quả.

ThS. Luật gia Lê Quang Kiệm

Thanh tra tỉnh Đồng Nai


[1] Lê Quang Kiệm (2018), Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Viện Đại học Mở Hà Nội, số 47 - Tháng 9/2018, tr. 43.

[2] Khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[3] Khoản 10, Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]https://vov.vn/chinh-tri/chi-so-cam-nhan-tham-nhung-cpi-2017-viet-nam-co-tin-hieu-tich-cuc-732005.vov.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: