Thứ năm 22/01/2026 11:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 37001:2018 vào công tác phòng, tham nhũng trong khu vực tư ở việt nam hiện nay

Bài viết giới thiệu về tiêu chuẩn ISO 37001 - Hệ thống quản lý chống hối lộ và việc áp dụng hệ thống này vào công tác phòng, chống tham nhũng, góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay.

1. Về tham nhũng trong khu vực tư

Tham nhũng hiện nay không chỉ diễn ra ở khu vực công, mà còn “hoành hành” ở cả khu vực tư. Đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về tham nhũng trong khu vực tư nhưng có thể hiểu “tham nhũng trong khu vực tư là hành vi của người giữ một cương vị hay làm một công việc nhất định trong khu vực tư đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc ảnh hưởng của mình trong hoạt động kinh doanh vì vụ lợi”[1] là tương đối bao quát về chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng, quyền hạn được hướng tới hoặc được lợi dụng và phạm vi thực hiện hành vi tham nhũng. Một số đặc điểm phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư có thể kể đến như:

Thứ nhất, chủ thể của hành vi tham nhũng trong khu vực tư là cá nhân hoàn toàn không mang quyền lực nhà nước. Chủ thể này giữ chức vụ, có quyền hạn trong tổ chức tư nhân hoặc có ảnh hưởng nhất định đối với tổ chức tư nhân. Vì vậy, chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong khu vực tư có thể là tổng giám đốc, giám đốc, thành viên hội đồng quản trị, người quản lý, phụ trách của tổ chức tư nhân hoặc bất kỳ người nào làm việc ở bất kỳ cương vị nào cho tổ chức tư nhân hoặc có thể là đối tác, luật sư, tư vấn… của tổ chức tư nhân.

Thứ hai, quyền hạn được hướng tới hoặc được lợi dụng của hành vi tham nhũng trong khu vực tư là quyền hạn không mang tính quyền lực nhà nước. Quyền hạn này mang tính tập thể, do tập thể trao cho cá nhân thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức hợp đồng. Theo đó, khi một người nắm giữ một địa vị, công việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước[2] nhất định, người đó sẽ có một số quyền cụ thể để tiến hành công việc do mình phụ trách. Hành vi tham nhũng được thực hiện dựa trên cơ sở quyền hạn này.

Thứ ba, phạm vi thực hiện hành vi tham nhũng trong khu vực tư thường được giới hạn trong các hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại hoặc hoạt động kinh doanh. Phạm vi này được thừa nhận tương đối rộng rãi trong các văn bản pháp lý quốc tế hiện hành, tuy về mặt thuật ngữ có khác nhau. Nhìn chung, các hoạt động dân sự hoặc phi lợi nhuận không nằm trong phạm vi này.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bước đầu đã xác định cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước (sau đây gọi là cơ quan, tổ chức, đơn vị) bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội2 và doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này[3]. Đây là khuôn khổ pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh pháp luật phòng, chống tham nhũng đối với khu vực tư.

2. Hệ thống quản lý chống hối lộ theo tiêu chuẩn ISO 37001

Vào năm 2013, với sự tham gia của hơn 120 chuyên gia từ 25 nước cùng với đại diện Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) và Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International - TI) đã tiến hành thảo luận và được thông qua sau 06 cuộc họp quốc tế, mỗi cuộc từ 03 đến 05 ngày với khoảng 80 chuyên gia tham dự. Mỗi cuộc họp thảo luận 500 đến 800 đề xuất sửa đổi của mỗi nước thành viên. Với tỷ lệ phiếu bầu thể hiện sự đồng thuận cao (đạt 91%) ở quy mô quốc tế, đến tháng 10/2016, Hệ thống quản lý chống hối lộ được Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (International Organization for Standardization - ISO) chính thức ban hành và áp dụng rộng rãi trên thế giới với tên gọi là ISO 37001.

ISO 37001 được thiết kế để làm xây dựng văn hóa chống hối lộ trong tổ chức và thực thi những biện pháp kiểm soát phù hợp, từ đó làm tăng khả năng phát hiện hối lộ và làm giảm phạm vi ảnh hưởng của nó. Các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng được thiết kế để hỗ trợ và tăng cường các nỗ lực này, tạo ra sự minh bạch và rõ ràng trong hoạt động kiểm soát của tổ chức, đồng thời cung cấp cách thức thực hiện các biện pháp này một cách hiệu quả nhất. Hệ thống này có thể độc lập hoặc được tích hợp vào hệ thống quản lý chung của tổ chức.

Phạm vi của hệ thống này bao gồm việc hối lộ tại các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận, bao gồm các hoạt động hối lộ bởi tổ chức hoặc các nhân viên của tổ chức và hoạt động hối lộ được trả hoặc được nhận bởi một bên thứ ba. Hối lộ có thể diễn ra ở bất cứ đâu, có giá trị từ rất nhỏ đến rất lớn, có thể bao gồm các lợi ích về tài chính cũng như phi tài chính.

Các yêu cầu trong ISO 37001 mang tính tổng quát, có xu hướng áp dụng cho tất cả các tổ chức (hoặc các bộ phận của tổ chức), không phụ thuộc vào loại hình, quy mô và bản chất của các hoạt động, cũng như lĩnh vực hoạt động như: Hành chính công, tư nhân hoặc phi lợi nhuận của tổ chức. Có thể áp dụng cho cả các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tổ chức phi Chính phủ.

Các biện pháp được yêu cầu trong ISO 37001 được thiết kế để tích hợp với các quá trình quản lý và kiểm soát có sẵn của tổ chức. Qua đó, giúp tổ chức phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hoạt động hối lộ, từ các hoạt động hối lộ do tổ chức hoặc dưới danh nghĩa tổ chức thực hiện, đến các hoạt động hối lộ do nhân viên hoặc đối tác của tổ chức thực hiện. Hệ thống này sử dụng một chuỗi các biện pháp đo lường và kiểm soát có liên quan đến nhau, bao gồm cả các hướng dẫn hỗ trợ và đề cập đến các yêu cầu để: (i) Thông qua và phổ biến một chính sách chống hối lộ; (ii) Thu được cam kết và đảm bảo trách nhiệm của bộ phận quản lý đứng đầu; (iii) Thiết kế một quản lý hoặc bộ phận chức năng chịu trách nhiệm quản lý chống hối lộ; (iv) Đào tạo đội ngũ nhân viên; (v) Tiến hành đánh giá định kỳ nguy cơ hối lộ và thẩm định dự án và các bên liên quan trong kinh doanh (khách hàng, nhà thầu, thầu phụ, nhà cung cấp, tư vấn viên, đối tác liên doanh, đại diện…); (iv) Thực hiện rà soát và kiểm soát đội ngũ nhân viên nhằm ngăn chặn hối lộ; (vii) Kiểm soát quà tặng, các khoản dùng cho tiếp khách, từ thiện và những thứ tương tự để đảm bảo rằng các khoản này không bị sử dụng vào mục đích tham nhũng; (viii) Yêu cầu các bên liên quan trong kinh doanh cam kết chống hối lộ; (ix) Áp dụng các biện pháp quản lý tài chính nhằm giảm nguy cơ tham nhũng (ví dụ: Đòi hỏi hai chữ ký để thực hiện thanh toán, hạn chế sử dụng tiền mặt…); (x) Thực hiện các biện pháp quản lý mua sắm, thương mại và phi tài chính khác (như đấu thầu cạnh tranh, yêu cầu hai chữ ký để thông qua công việc thực hiện hay các hoạt động khác…); (xi) Cung cấp quy trình báo cáo mật (thổi còi); (xii) Thiết lập quy trình điều tra, xử lý các trường hợp hối lộ hoặc nghi ngờ hối lộ.

Chống hối lộ được thực hiện theo mô hình bốn bước, đó là:

Bước 1 (lập kế hoạch): Xác định các nghĩa vụ chống hối lộ và đánh giá rủi ro tuân thủ để xây dựng chiến lược, bao gồm các biện pháp giải quyết các vấn đề có thể phát sinh.

Bước 2 (thực hiện): Thực hiện các biện pháp và thiết lập cơ chế để giám sát tính hiệu quả.

Bước 3 (kiểm tra): Tiến hành rà soát chương trình quản lý chống hối lộ trên cơ sở các điều khoản được thực hiện.

Bước 4 (hành động): Xem xét và cải tiến chương trình liên tục, đảm bảo các trường hợp không tuân thủ được theo dõi và kiểm tra.

3. Lợi ích của ISO 37001 và sự tham gia của các nước trên thế giới

ISO 37001 nếu được triển khai và thực hiện nghiêm túc sẽ làm giảm rủi ro của việc hối lộ, có thể chứng minh cho các nhà quản lý trong tổ chức, nhân viên, chủ sở hữu, người góp vốn, khách hàng và các bên có liên quan đến hoạt động kinh doanh, rằng tổ chức đã thiết lập biện pháp kiểm soát chống hối lộ có hiệu quả tốt được công nhận trên phạm vi toàn cầu. Trong trường hợp điều tra, nó cũng cung cấp bằng chứng cho thấy tổ chức đã có những bước hợp lý để ngăn chặn nạn hối lộ.

Theo Neill Stansbury - Chủ tịch ban ISO chịu trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn về chống hối lộ cho biết: ISO 37001 sẽ giúp các tổ chức tuân thủ thực hành tốt trong công tác chống hối lộ và các yêu cầu pháp lý. Nó cũng giúp đảm bảo với người sở hữu tổ chức, ban quản lý, người lao động và các bên liên quan trong kinh doanh rằng tổ chức đang hoạt động theo đúng thực hành đạo đức kinh doanh và giúp giảm nguy cơ tổn thất tài chính và bị truy tố. Từ đó, nó sẽ cung cấp một lợi thế cạnh tranh cho tổ chức.

ISO 37001 nhằm giúp một tổ chức thực hiện một hệ thống quản lý chống hối lộ hiệu quả, nó có thể được sử dụng quốc tế. ISO 37001 được áp dụng cho các tổ chức nhỏ, vừa và lớn trong các lĩnh vực công cộng, tư nhân và tự nguyện. Việc tuân thủ ISO 37001 không thể đảm bảo rằng không có hối lộ nào xảy ra hoặc sẽ xảy ra liên quan đến một tổ chức. Tuy nhiên, tiêu chuẩn có thể giúp thiết lập rằng tổ chức đã thực hiện các biện pháp hợp lý và cân xứng được thiết kế để ngăn chặn hối lộ.

Với lợi ích nêu trên, tiêu chuẩn ISO 37001 đã được một số nước trên thế giới áp dụng như: Úc, Áo, Brazil, Cameroon, Canada, Trung Quốc, Colombia, Croatia, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Ecuador, Ai Cập, Pháp, Đức, Guatemala, Ấn Độ, Iraq, Israel, Kenya, Lebanon, Malaysia, Mauritius , Mexico, Morocco, Nigeria, Na Uy, Pakistan, Ả Rập Saudi, Serbia, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Tunisia, Anh, Mỹ, Zambia và các quốc gia quan sát bao gồm: Argentina, Armenia, Bulgaria, Chile, Síp, Côte d'Ivoire, Phần Lan, Hồng Kông, Hungary, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Litva, Macau, Mông Cổ, Hà Lan, New Zealand, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Nga , Thái Lan, Uruguay.

4. Áp dụng tiêu chuẩn ISO 37001 vào công tác phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vừa được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2018 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2019 đã đưa ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc phòng ngừa và chống lại tệ nạn tham nhũng. Theo đó, các hành vi như đưa và nhận hối lộ, tham ô, lạm dụng quyền, chức vụ để thu lợi bất chính đều bị coi là các hành vi tham nhũng, thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này.

Tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 12/07/2016, Chính phủ Việt Nam đã thẳng thắn thừa nhận công tác phòng chống tham nhũng chưa đạt được mục tiêu đã đề ra, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực. Theo Tổ chức Hướng tới minh bạch (TT), Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) tại Việt Nam cho rằng, việc tăng nhẹ điểm CPI trong hai năm liên tiếp (2016 - 2017) là chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua. Tuy nhiên, xét trên thang điểm từ 0 - 100 của CPI, trong đó 0 là tham nhũng nghiêm trọng và 100 là rất trong sạch, vấn đề tham nhũng ở Việt Nam vẫn được cho là rất nghiêm trọng. Kết quả này cũng tái khẳng định đánh giá của Đảng và Nhà nước về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam: Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân[4].

Vì vậy, áp dụng tiêu chuẩn ISO 37001 vào công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là một trong các giải pháp giúp thay đổi về mặt cấu trúc và văn hóa chống hối lộ trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận, bao gồm các hoạt động hối lộ bởi tổ chức hoặc các nhân viên của tổ chức và hoạt động hối lộ được trả hoặc được nhận bởi một bên thứ ba. Đặc biệt, là việc thực thi có hiệu quả Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vừa được Quốc hội thông qua.

Để thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực công, lĩnh vực tư và các lĩnh vực phi lợi nhuận có cơ sở để áp dụng ISO 37001, Bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 37001:2018 “Hệ thống quản lý chống hối lộ - Các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng” đã được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tại quyết định số 3762/QĐ-BKHCN và có hiệu lực từ ngày 07/12/2018. Đây chính là nỗ lực lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc cam kết giải quyết nạn hối lộ thông qua các thỏa thuận quốc tế như: Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Công ước về chống hối lộ với những người thực hiện nhiệm vụ công ở nước ngoài trong các giao dịch thương mại quốc tế của OECD và Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC).

Tiêu chuẩn TCVN ISO 37001:2018 có sự phù hợp với các yêu cầu của ISO đối với tiêu chuẩn về hệ thống quản lý. Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng kết hợp với các tiêu chuẩn khác về hệ thống quản lý (ví dụ như: TCVN ISO 9001, TCNV ISO 14001, TCVN ISO/IEC 27001 và ISO 19600) và các tiêu chuẩn về quản lý (ví dụ như: TCVN 26000, TCVN ISO 31000).

Hiện nay, hối lộ là một trong những nguyên nhân làm gia tăng những nguy cơ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, đạo đức, kinh tế và chính trị, làm suy yếu việc điều hành, cản trở sự phát triển và bóp méo cạnh tranh. Hối lộ cũng có thể dẫn đến thiệt hại về tính mạng và tài sản, hủy hoại lòng tin vào các tổ chức và cản trở việc vận hành công bằng và hiệu quả của thị trường. Do đó, chỉ có luật pháp thì chưa đủ để giải quyết toàn diện cho vấn đề này, vì vậy, rất cần các tổ chức có trách nhiệm chủ động tham gia vào đấu tranh chống hối lộ. Điều này có thể đạt được thông qua hệ thống quản lý chống hối lộ được đưa ra trong tiêu chuẩn TCVN ISO 37001:2018 và thông qua cam kết của lãnh đạo đối với việc thiết lập văn hóa liêm chính, minh bạch, công khai và tuân thủ. Các tổ chức, doanh nghiệp cần có trách nhiệm chủ động tham gia vào đấu tranh để chống hối lộ hiệu quả.

ThS. Luật gia Lê Quang Kiệm

Thanh tra tỉnh Đồng Nai


[1] Lê Quang Kiệm (2018), Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Viện Đại học Mở Hà Nội, số 47 - Tháng 9/2018, tr. 43.

[2] Khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[3] Khoản 10, Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]https://vov.vn/chinh-tri/chi-so-cam-nhan-tham-nhung-cpi-2017-viet-nam-co-tin-hieu-tich-cuc-732005.vov.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: