Thứ bảy 14/03/2026 19:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam hiện nay

Bài viết nghiên cứu thực trạng kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Thuật ngữ “chia sẻ” thường được nhận diện bởi thay vì sở hữu thì chỉ cần truy cập tạm thời và phân phối lại hàng hóa vật chất, tài sản, không gian hoặc thời gian[1]. Mô hình kinh doanh này còn được định nghĩa là xuất phát từ xu hướng sử dụng tài sản hoặc dịch vụ theo nhu cầu tiêu dùng thay vì sở hữu tài sản vĩnh viễn hoặc ký hợp đồng dịch vụ dài hạn[2].

Logistics có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, theo đó, trong tiếng Việt, từ tương đương gần nhất là “hậu cần”. Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu hậu cần quân sự trong việc cung cấp cho quân đội trong quá trình hành quân ra tiền tuyến[3]. Logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh từ những năm 1950. Logistics là một phần của chuỗi cung ứng, bao gồm tổng thể những công việc liên quan đến hàng hóa gồm: Quá trình chuẩn bị hàng hóa, sắp xếp, đóng gói, kẻ ký mã hiệu và bảo quản hàng hóa, vận chuyển hàng hóa ra cảng và làm thủ tục thông quan xuất khẩu hoặc nhập khẩu cho hàng[4].

Theo Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ (CSCMP) thì “Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng”.

Logistics được coi là xương sống của chuỗi cung ứng, do đó, yêu cầu phát triển ngành logistics là yêu cầu quan trọng trong nền kinh tế. Trong những năm gần đây, ngành logistics trên thế giới đang có xu hướng chuyển dịch sang ứng dụng công nghệ số với tên gọi “logistics 4.0”. Mục tiêu của logistics 4.0 là đơn giản hóa các quy trình, tăng hiệu quả và ổn định chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tại Việt Nam, vai trò chuyển đổi số trong hoạt động logistics được quan tâm, trong đó có phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực này để giải quyết các vấn đề khan hiếm tài nguyên và tiết kiệm chi phí. Bộ Công Thương nhận định, với vị trí trung tâm của chuỗi cung ứng, chuyển đổi số trong logistics có tác dụng kích hoạt chuyển đổi số của nhiều ngành khác. Đồng thời, làm cơ sở tiến đến kinh tế chia sẻ, kinh tế nền tảng, mạng cung ứng[5]. Logistics thông minh để không còn những chuyến xe rỗng, kho bãi và vật tư sử dụng tối đa, cắt giảm chi phí và giải quyết vấn đề thiếu vật tư, nguồn lực là những bài toán đòi hỏi phải nghiên cứu và áp dụng kinh tế chia sẻ vào lĩnh vực này.

Hiện nay, trên thế giới, mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics gồm 07 nhóm: (i) Kho hàng chia sẻ (Shared Warehousing); (ii) Kho đô thị đơn giản (Urban Discreet Warehousing); (iii) Hàng hóa cộng đồng theo nhu cầu (Community Goods On-demand); (iv) Chia sẻ tài sản logistics (Logistics Asset Sharing); (v) Chia sẻ năng lực vận chuyển (Transport Capacity Sharing); (vi) Nhân lực theo nhu cầu (On-Demand Staffing); (vii) Chia sẻ dữ liệu logistics (Logistics Data Sharing)[6]. Trong khi đó, ở Việt Nam, kinh tế chia sẻ chỉ mới “manh nha” ở 03 nhóm: (i); (ii) và (v). Hiện nay, nước ta cũng chưa có khung pháp lý riêng điều chỉnh cho mô hình kinh doanh này. Do đó, một số vấn đề pháp lý đặt ra cần giải quyết như sau: (i) Pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics nằm rải rác trong nhiều văn bản áp dụng chung với các lĩnh vực khác nên nhận thức về logistics còn khá “mơ hồ” và nhầm lẫn với dịch vụ vận tải thông thường, gây khó khăn cho các doanh nghiệp tra cứu, áp dụng; (ii) Chưa có khung pháp lý riêng điều chỉnh mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam; (iii) Thiếu khung pháp lý và chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi số tiến đến kinh tế chia sẻ.

2. Khái quát về mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics

Kinh tế chia sẻ là mô hình kinh doanh mới nổi, có nhiều khái niệm khác nhau và chưa được thống nhất. Rachel Botsman cho rằng, kinh tế chia sẻ là mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ tài sản chưa sử dụng hết thông qua nền tảng công nghệ để tạo ra những lợi ích tài chính hoặc phi tài chính[7].

Theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Thương mại năm 2005) thì “dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”.

Hiện nay, Việt Nam chưa có định nghĩa chính thức về kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics. Tuy nhiên, thông qua những phân tích ở trên, có thể hiểu, kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics là mô hình kinh doanh, trong đó có bên thứ ba làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ kết nối giữa bên có nguồn lực dư thừa và bên có nhu cầu, bằng việc chia sẻ mô hình này là “chìa khóa” giải quyết các bài toán về khan hiếm nguồn lực và giúp tiết kiệm chi phí trong logistics hiện nay.

Các mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics gồm:

- Kho hàng chia sẻ: Kho chia sẻ hay kho chung là một kho duy nhất hoạt động như một trung tâm phân phối hỗ trợ nhiều doanh nghiệp. Ý tưởng về một nhà kho dành cho nhiều khách hàng không có gì mới đối với các công ty logistics. Tuy nhiên, ở đây kho được chia sẻ linh hoạt bằng cách sử dụng nền tảng chia sẻ kỹ thuật số giúp người có nhu cầu tìm thấy không gian họ cần, ở đúng vị trí và đặt chỗ trực tuyến. Tại Hoa Kỳ, hai đại diện tiên phong trong lĩnh vực này là DHL Spaces và công ty khởi nghiệp Flexe.

- Kho đô thị tinh giản: Với không gian ở các thành phố ở mức cao, nhu cầu doanh nghiệp về việc lưu trữ ngày càng tăng. Mô hình kho đô thị đơn giản xuất phát từ hai công ty khởi nghiệp của Mỹ là MakeSpace và Omni. Các công ty này giúp kết nối những người có nhu cầu về kho chứa với chủ sở hữu không gian chưa sử dụng trong nhà, văn phòng thông qua điện thoại di động và nền tảng website.

- Hàng hóa cộng đồng theo nhu cầu: Dịch vụ chia sẻ hàng hóa cộng đồng theo nhu cầu xuất hiện lần đầu tại Hà Lan, Công ty khởi nghiệp Peerby đã biến những món đồ ít sử dụng của các hộ gia đình thành nguồn thu nhập thông qua nền tảng chia sẻ hàng hóa ngang hàng. Một công ty khác, Công ty khởi nghiệp Logistics Shyp của Hoa Kỳ cũng cung cấp dịch vụ này.

- Chia sẻ tài sản logistics: Mô hình chia sẻ này xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ, các mô hình dựa trên nền tảng tốt để chia sẻ tài sản lớn với hai đại diện là công ty như MuniRent và công ty khởi nghiệp Turo. Các công ty này cho phép chủ sở hữu phương tiện cá nhân cho thuê phương tiện cá nhân, các công ty xây dựng và chính quyền chia sẻ máy móc hạng nặng đắt tiền.

- Chia sẻ năng lực vận chuyển: Sự phát triển nhanh chóng ngày nay của các nền tảng kỹ thuật số dành cho môi giới vận tải hàng hóa đang giúp giải quyết tình trạng lãng phí khi lái những chiếc xe tải rỗng hoặc chở đầy một phần. Các công ty đứng đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến như Saloodo của DHL ở châu Âu, Freightos, Convoy và Loadsmart ở Mỹ và Huochebang ở Trung Quốc.

- Nhân lực theo nhu cầu: Trong những “mùa cao điểm” cần nhân lực trong dịch vụ logistics, việc chia sẻ nhân lực theo yêu cầu giúp kết nối hiệu quả giữa nhân công “nhàn rỗi” và các doanh nghiệp có nhu cầu. Khởi đầu từ Công ty khởi nghiệp Jobdoh ở Hồng Kông, hiện nay ở Hoa Kỳ có các đại diện như Postmate và TaskRabbit.

- Chia sẻ dữ liệu logistics: Lượng dữ liệu khổng lồ được thu thập bởi các nền tảng và ứng dụng chia sẻ kỹ thuật số có thể là vô giá đối với chất lượng và hiệu quả của các thành phố. Điển hình về chia sẻ dữ liệu logistics là nhóm Hitachi (Hitachi’s Social Innovation) đã đi tiên phong trong nền tảng Trao đổi Dữ liệu Thành phố (City Data Exchange platform) tại Copenhagen, Đan Mạch vào năm 2015[8].

Có thể thấy, kinh tế chia sẻ đã phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực logistics với nhiều dịch vụ phong phú.

3. Thực trạng pháp luật về kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam

Chuyển đổi số và ứng dụng kinh tế chia sẻ vào lĩnh vực logistics là vấn đề được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm. Theo Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, logictics là một trong số 08 ngành được ưu tiên chuyển đổi số.

Ở Việt Nam hiện nay, dịch vụ logistics tập trung vào 17 nhóm dịch vụ và được sắp xếp thành 04 nhóm lớn: (i) Dịch vụ vận tải; (ii) Dịch vụ kho bãi; (iii) Dịch vụ giao nhận, chuyển phát; (iv) Dịch vụ khác. Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô 20 - 22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Hiện nay, theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 04 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái Lan[9].

Về thực trạng mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam hiện nay, kinh tế chia sẻ phát triển chỉ ở 03 hình thức, cụ thể:

- Kho hàng chia sẻ: Cushman & Wakefield trong Báo cáo thị trường 2023 cho biết, nguồn cung nhà kho ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt lần lượt 2,022 triệu m2 và 5,13 triệu m2[10]. Xuất phát từ tình trạng khan hiếm nguồn cung kho nhu cầu chia sẻ kho hàng phát sinh và mô hình kinh tế chia sẻ được vận dụng. Ở Việt Nam, Khochiase, Nhật Việt Logistics là những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kho chia sẻ. Ngoài ra, FM Logistic có trụ sở chính tại Pháp cũng thành lập công ty con tại Việt Nam để khai thác thị trường dịch vụ này.

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định kho chia sẻ theo mô hình kinh tế chia sẻ hay kinh doanh dịch vụ kết nối chia sẻ kho. Vì thế, khi đăng ký kinh doanh dịch vụ kinh doanh này, các doanh nghiệp đăng ký dưới các ngành, nghề truyền thống: Kho bãi và lưu giữ hàng hóa (mã 5210); kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê gồm cho thuê kho bãi, kinh doanh bất động sản (mã 6810); xử lý dữ liệu, cho thuê và các hoạt động liên quan (mã 6311).

- Kho đô thị tinh giản: Hiện nay, tại Việt Nam, trong khâu lưu trữ và giao nhận hàng hóa, các kho hàng lớn và tập trung thường đặt cách xa khu đô thị nên việc vận chuyển đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí và nhân công. Trong khi các tòa nhà văn phòng, cửa hàng, quán ăn tại các khu trung tâm, ngoài không gian phục vụ cho hoạt động kinh doanh chính, vẫn còn nhiều khu vực để trống chưa được sử dụng. Thông qua dịch vụ kết nối, kinh tế chia sẻ giúp kết hợp hai yếu tố cung và cầu trên. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định riêng về hoạt động này. Vì vậy, việc cho thuê kho dưới hình thức chia sẻ các không gian trống chưa sử dụng phải đáp ứng điều kiện kinh doanh theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023.

- Chia sẻ năng lực vận chuyển: Tại Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Logivan Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ EcoTruck là những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ năng lực vận chuyển đường bộ. Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2023, mô hình chia sẻ trong logistics tại Việt Nam phát triển mạnh nhất ở lĩnh vực vận tải hàng hóa đường bộ[11].

Một số vấn đề pháp lý đặt ra đối với mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất, chưa có khung pháp lý điều chỉnh riêng cho lĩnh vực này, các văn bản pháp lý liên quan rất rộng và bao trùm nhiều lĩnh vực[12], vì vậy, phát sinh nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics.

Thứ hai, hệ thống pháp luật về logistics chưa thống nhất gây khó khăn cho công tác thống kê và áp dụng trên thực tế, cụ thể: (i) Chưa thống nhất trong khái niệm phân ngành dịch vụ logistics giữa các văn bản như: Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, quy định gồm 17 phân ngành logistics. Trong khi đó, theo cam kết với ASEAN về logistics lại phân thành 11 phân ngành. Sự thiếu đồng nhất về khái niệm này gây nhiều khó khăn cho các công tác quản lý, điều hành đặc biệt là khi có ứng dụng công nghệ để chia sẻ vận tải hoặc kho bãi và công tác thống kê các chỉ tiêu về logistics. (ii) Chưa có quy định về hợp đồng giữa các bên ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ; các quy định hiện có về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ logistics còn nằm rải rác trong nhiều văn bản và vẫn còn tồn tại một số điều, khoản chưa rõ gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn.

Thứ ba, kinh tế chia sẻ chưa phát triển trên nhiều nhóm ngành của logistics theo xu hướng chung của thế giới: Như phân tích ở trên, trên thế giới có 07 dịch vụ ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics thì Việt Nam mới chỉ có 03 dịch vụ.

Thứ tư, cơ sở hạ tầng và quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics chưa hoàn thiện: Theo Dự thảo Đề án Chiến lược Phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, một trong những tồn tại và hạn chế hiện nay trong lĩnh vực này là cơ sở hạ tầng logistics còn yếu kém, chưa đồng bộ, phân tán và thiếu tính kết nối[13].

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, nghiên cứu, tiến tới thừa nhận và phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này. Theo báo cáo của Bộ Công Thương về logistics năm 2023, với yêu cầu xanh hóa hoạt động logistics, một số yêu cầu đề ra gồm: (i) Sử dụng hệ thống quản lý vận tải thông minh trong việc tối ưu lộ trình vận tải và giảm thiểu nhiên liệu tiêu thụ; (ii) Giảm tỷ lệ % phương tiện chạy rỗng; (iii) Thực hiện việc chia sẻ vận tải cho các đơn hàng[14]. Trong đó, áp dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong logistics sẽ giải quyết được các vấn đề trên. Giải pháp này cũng phù hợp với xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới như thị trường châu Âu và Hoa Kỳ[15]. Như vậy, việc thừa nhận và phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics là cần thiết và phù hợp với xu thế trên thế giới, đồng thời cũng mang nhiều lợi ích cho xã hội thông qua việc khai thác tiềm năng thị trường chia sẻ vận tải và kho bãi tại Việt Nam.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật liên quan để phát triển kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics theo hướng: (i) Thống nhất về khái niệm dịch vụ logistic tại các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và các cam kết quốc tế; (ii) Thống nhất quy định hợp đồng trong lĩnh vực logistics trong một văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có hợp đồng giữa các bên trong mô hình kinh tế chia sẻ lĩnh vực logistics.

Thứ ba, phát triển cơ sở hạ tầng và hoàn thiện quá trình chuyển đổi số của các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Giải pháp này mang tính chất quan trọng trong phát triển ngành logistics nói chung và kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực này nói riêng.

Thứ tư, ban hành chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực logistics như hỗ trợ vốn, tài chính, tập huấn, tuyên truyền./.

ThS. NCS. Hồ Thị Thanh Trúc

Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing

(Ảnh: Internet)

[1]. Kathan, W., Matzler, K., Veider, V., 2016, The sharing economy: Your business model’s friend or foe?, Business Horizons, 59, 663- 672, http://dx.doi.org/10.1016/j.bushor.2016.06.006.

[2]. Deloitte, 2016, The rise of the sharing economy. Impact on the transportation space, 1 - 12.

[3]. Jovan T Ilija Tanackov,epić, Gordan Stojić(2011), Ancient logistics - historical timeline and etymology, https://www.researchgate.net/publication/283863501_Ancient_logistics__historical_timeline_and_etymology, truy cập ngày 30/4/2024.

[4]. Vương Thị Bích Ngà (2022), Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành Logistics Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, tr. 31,

http://lrc.quangbinhuni.edu.vn:8181/dspace/bitstream/DHQB_123456789/5733/1/C%C3%A1c%20y%E1%BA%BFu%20t%E1%BB%

91%20%E1%BA%A3nh%20h%C6%B0%E1%BB%9Fng%20%C4%91%E1%BA%BFn%20s%E1%BB%B1%20ph%C3%A1t%20tri%

E1%BB%83n%20c%E1%BB%A7a%20ng%C3%A0nh%20logistics%20Vi%E1%BB%87t%20Nam.pdf, truy cập ngày 28/4/2024.

[5]. Đông Phong (2021), Chuyển đổi số trong logistics là cơ sở xây dựng nền kinh tế chia sẻ, https://vietnamnet.vn/chuyen-doi-so-trong-logistics-la-co-so-xay-dung-nen-kinh-te-chia-se-i398368.html, truy cập ngày 28/4/2024.

[6]. Matthias Heutger (2017), The Sharing Economy: How logistics can contribute and benefit, https://www.linkedin.com/pulse/sharing-economy-how-logistics-can-contribute-benefit-matthias-heutger, truy cập ngày 28/4/2024.

[7]. Rachel Botsman (2015), Defining the sharing economy what is collaborative consumption and what isnt, https://www.fastcompany.com/3046119/defining-the-sharing-economy-what-is-collaborative-consumption-and-what-isnt,truy cập ngày 28/4/2024.

[8]. Shigeyuki Tani (2023), Social Reforms Accelerated by Data Distribution https://www.hitachi.com/rev/archive/2017/r2017_06/pdf/p53-59_R6-04.pdf, truy cập ngày 03/5/2024.

[9]. Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính (2024), https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiettin?dDocName=MOFUCM096861#:~:text=D%E1%BB%8Bch%20v%E1%BB%A5%20logistics%20%E1%BB%9F%20Vi%E1%BB%87t,

Singapore%2C%20Malaysia%2C%20Th%C3%A1i%20Lan, truy cập ngày 28/4/2024.

[10]. Vũ Anh (2023), Gia tăng “cơn khát” nguồn cung nhà xưởng, kho bãi, https://baodautu.vn/batdongsan/gia-tang-con-khat-nguon-cung-nha-xuong-kho-bai-d200849.html, truy cập ngày 29/4/2024.

[11]. Bộ Công Thương (2023), tr. 59, https://valoma.vn/wp-content/uploads/2023/12/Bao-cao-Logistics-Viet-Nam-2023.pdf, truy cập ngày 28/4/2024.

[12]. Nguyễn Xuân Quyết và Trần Thị Ngọc Lan (2019), Nghiên cứu thực trạng dịch vụ hậu cần điện tử (e-logistics) tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Công nghệ và Thực phẩm, 19(2), tr. 147 - 159.

[13]. Bộ Công Thương (2024), Dự thảo Đề án Chiến lược Phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr. 52, https://drive.google.com/drive/folders/17EQYjMlj6l-J5rljLSMNJnM0CxFyTA-P, truy cập ngày 30/4/2024.

[14]. Bộ Công Thương (2023), tlđd, tr. 91.

[15]. Kołacz, M. K. (2022). Sharing Economy in Logistics: Towards a legal framework for co-operation (Doctoral dissertation, University of Antwerp).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: