Thứ tư 21/01/2026 12:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, sự hiểu biết về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo. Bài viết dưới đây với những phân tích so sánh nhằm bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội.


1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp xã hội

Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ doanh nghiệp xã hội (DNXH) được sử dụng khá phổ biến. Hình hài của DNXH đã xuất hiện từ khá lâu. Theo một nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế trung ương, DNXH đầu tiên xuất hiện ở nước Anh từ thế kỷ XVII, tuy nhiên, chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980[1]. Có nghiên cứu cho thấy, thuật ngữ DNXH sinh ra từ ý tưởng của William Drayton (người sáng lập Ashoka – tổ chức đầu tiên của thế giới thúc đẩy DNXH) mà ý tưởng này xuất hiện khi ông đi thăm Ấn Độ vào những năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XIX lấy cảm hứng từ “Phong trào tặng đất” ở đây, theo đó, người giàu hiến đất cho người nghèo để xóa bỏ vòng đói khổ trên tinh thần tái phân phối công bằng hơn[2].

Wrigleys Solicitors LLP nhận xét định nghĩa về DNXH không xuất phát từ cấu trúc pháp lý của doanh nghiệp mà xuất phát từ mục đích và hiệu quả của nó[3]. Nhận xét này có ý nghĩa quan trọng cho thấy hai vấn đề: (i) Khó có thể định nghĩa DNXH trên căn bản các loại hình của nó; (ii) Cũng có nghĩa là DNXH biểu lộ ra bên ngoài có thể bằng những hình thức thông thường như những doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Thực vậy, hiện nay, hầu hết các định nghĩa về DNXH dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp. Chẳng hạn: “Doanh nghiệp xã hội là một doanh thương với các mục tiêu xã hội là trước hết mà các giá trị thặng dư của nó chủ yếu tái đầu tư nhằm mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng, khác hơn được dồn vào nhu cầu cần thiết tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và chủ sở hữu”[4].

Ở Châu Âu, thuật ngữ DNXH được sử dụng để mô tả một cách thức khác trong kinh doanh mà bao gồm thành tố kinh doanh nhiều hơn so với khu vực phi lợi nhuận và yếu tố đổi mới của phong trào hợp tác xã, theo đó, xuất hiện một đặc điểm đặc biệt trong khái niệm DNXH ở Châu Âu là việc thiết lập một cấu trúc thể chế theo đuổi mục tiêu xã hội thách thức quan niệm truyền thống là doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu lợi nhuận tối đa[5].

Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012 định nghĩa: “Thuật ngữ DNXH dùng để chỉ một doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp với Điều 7 là một doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu xã hội, chẳng hạn như nâng chất lượng sống của cư dân địa phương…, cung cấp cho các nhóm dễ bị tổn thương với các dịch vụ xã hội hoặc công việc trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, ví dụ như sản xuất và mua bán hàng hóa và dịch vụ…”[6]. Tuy nhiên, có công trình luận giải so sánh cho thấy có sự khác biệt phần nào về khái niệm DNXH ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu. Theo Matthew F. Doeringer, có sự khác biệt này trong định nghĩa khái niệm DNXH giữa hai bờ Đại Tây Dương là do có những khó khăn về kinh tế mà mỗi bên phải đối diện trong quá khứ. Ông nhận xét định nghĩa khái niệm DNXH của Hoa Kỳ tập trung vào sự phát sinh ra thu nhập đối với các tổ chức mà cung cấp dịch vụ đặc thù có ý định như được cung cấp bởi khu vực phi lợi nhuận, chẳng hạn như một tổ chức cung cấp miễn phí kiểm tra thị lực trong khi bán kính với giá thấp cho những người có thu nhập thấp, trong khi đó khái niệm DNXH ở Châu Âu khái quát từ việc giải quyết vấn đề thất nghiệp kéo dài[7].

Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002, Chính phủ Anh đưa ra định nghĩa: “DNXH là một doanh thương có các mục tiêu xã hội trước hết mà lợi nhuận của nó chủ yếu được tái đầu tư cho mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng khác hơn được để lại bởi nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và các chủ sở hữu”[8]. Định nghĩa này được sao chép nguyên văn trong tài liệu nói về “Doanh nghiệp xã hội: Tổng quan về khung chính sách ở Ấn Độ”[9]. Cũng như vậy, cuốn “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách” do British Council, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và CSIP giới thiệu chép nguyên văn định nghĩa nói trên của Anh Quốc với đoạn dịch như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”[1]0.

Về khái niệm DNXH, cả trong học thuật cũng như trong thực tiễn ở Hoa Kỳ nói chung là rộng hơn và tập trung hơn vào mục tiêu làm phát sinh lợi nhuận so với những nơi khác[11]. Sự khác biệt này được Janelle A. Kerlin giới thiệu định nghĩa dưới đây phù hợp với nhận thức của các trường kinh doanh thuộc các đại học tốp đầu ở Hoa Kỳ: “Trong giới học thuật Hoa Kỳ, doanh nghiệp xã hội được hiểu bao gồm những tổ chức mà chấp nhận sự tiếp tục từ kinh doanh có định hướng lợi nhuận tiến hành các hoạt động vì lợi ích xã hội (trách nhiệm xã hội hay trách nhiệm từ thiện của doanh nghiệp) tới hoạt động kinh doanh với mục đích kép mà làm trung gian giữa các mục tiêu lợi nhuận với các mục tiêu xã hội tới tổ chức phi lợi nhuận tiến hành hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh (tổ chức có mục tiêu xã hội. Đối với tổ chức có mục tiêu xã hội, hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh có thể bao gồm chỉ sự làm phát sinh lợi tức mà hỗ trợ đặt chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động mà đồng thời làm phát sinh lợi tức và cung cấp chương trình mà đáp ứng các mục tiêu sứ mệnh như hội thảo về nhà ở cho người khuyết tật (Young, 2001; 2003a). Doanh nghiệp xã hội tiến hành bởi phi lợi nhuận có thể khác các hình thức tổ chức khác bao gồm các dự án thương mại nội bộ, các chi nhánh lợi nhuận và phi lợi nhuận và các hợp danh với các doanh thương bao gồm tiếp thị liên hệ tới sự nghiệp (cause-related marketing)”[12].

Như vậy, theo định nghĩa này, xét về mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận, có thể chia doanh nghiệp nói chung thành mấy loại sau: Một là, các doanh nghiệp lợi nhuận đơn thuần; hai là, các doanh nghiệp lợi nhuận có hoạt động vì lợi ích xã hội nói chung; ba là, các doanh nghiệp có mục tiêu kép (cả lợi nhuận và cả phi lợi nhuận); bốn là, các doanh nghiệp phi lợi nhuận có tiến hành các hành vi thương mại hỗ trợ. Cách phân loại này khá linh động và có khả năng khuyến khích cao cho các doanh nghiệp tham gia vào các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên sẽ dễ bị lợi dụng bởi các doanh nghiệp để thu lợi bất chính và sẽ là khó cho việc thiết kế chính sách và các qui tắc pháp lý để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh, nhất là ở những nước có nền tảng pháp lý yếu và hay bị biến động như Việt Nam. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả vẫn tiếp nhận sự lựa chọn của nhà làm luật khi xây dựng Luật Doanh nghiệp năm 2014, tức là lựa chọn theo quan niệm DNXH của Châu Âu.

EMES (một mạng lưới nghiên cứu quốc tế của 16 trung tâm nghiên cứu do các trường đại học thiết lập và nhiều nhà nghiên cứu độc lập có mục tiêu từng bước xây dựng ở Châu Âu một bộ tài liệu về kiến thức kinh nghiệm và lý thuyết đa ngành, đa phương pháp luận xung quanh DNXH và những vấn đề về khu vực thứ ba[13]) đưa ra định nghĩa về DNXH như sau: “Các doanh nghiệp xã hội là các tổ chức tư nhân phi lợi nhuận cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan trực tiếp tới mục tiêu rõ ràng của họ vì lợi ích của cộng đồng. Họ dựa trên động cơ tập thể bao gồm những dạng khác nhau của những người có lợi ích trong các cấu thành dưới sự điều chỉnh của họ, họ đặt giá trị cao trên sự tự trị của họ và họ gánh chịu các rủi ro kinh tế liên quan tới hoạt động của mình”[14].

2. Bản chất và các đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

DNXH nhấn mạnh tới sự thay đổi xã hội hơn là nhằm tới lợi nhuận, phản ứng lại với những hoạt động kinh doanh lựa chọn điểm cốt yếu có khuynh hướng lợi ích ngắn hạn trên những chi phí phúc lợi dài hạn đối với xã hội[15]. Tìm hiểu về lịch sử DNXH mới phát hiện ra rằng, DNXH thường bởi sáng kiến của một cá nhân mà người này thiết lập các quy tắc và công cụ liên quan tới tinh thần doanh nhân và động cơ làm giàu và giúp đỡ cho xã hội hơn là làm giàu cho bản thân[16].

Tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) và Chương trình LEED (Local Economic and Employment Development Programme) nghiên cứu và đi đến kết luận rằng: DNXH đã phát triển từ và trong khu vực kinh tế xã hội mà có ranh giới giữa thị trường và Nhà nước và thường được liên hệ với khái niệm “khu vực thứ ba” (third sector) và “khu vực phi lợi nhuận” (non-profit sector); khái niệm DNXH không cố gắng tìm kiếm thay thế các khái niệm của khu vực phi lợi nhuận hay kinh tế xã hội, mà nó có ý tưởng làm cầu nối giữa hai khái niệm bởi tập trung vào tinh thần (động cơ) doanh nhân mới về các sáng kiến công dân theo đuổi mục tiêu xã hội[17].

Từ các nghiên cứu trên cho thấy, bản chất của DNXH là một thực thể hỗ trợ các vấn đề xã hội bằng các hoạt động kinh doanh. Thực thể này có hình thức hầu như giống với các hình thức thương nhân thông thường và có thể có các hình thức riêng biệt và tiến hành các hành vi thương mại nhưng lợi nhuận hầu hết dành cho giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.

Sự khác biệt giữa tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận đã được Paul Miesing tổng kết lại bao gồm:

- Về sứ mệnh: Tổ chức lợi nhuận lấy lợi nhuận làm sứ mệnh; còn tổ chức phi lợi nhuận lấy sự kiến tạo giá trị xã hội làm sứ mệnh.

- Về mục tiêu: Mục tiêu của tổ chức lợi nhuận rõ ràng và dứt khoát; còn mục tiêu của tổ chức phi lợi nhuận phức tạp và có những ưu tiên khác biệt.

- Về những người có lợi ích liên quan: Đối với tổ chức lợi nhuận, là các cổ đông (thành viên); còn đối với tổ chức phi lợi nhuận, là đa diện, phức tạp.

- Về ảnh hưởng chính trị: Tổ chức lợi nhuận ảnh hưởng tối thiểu và gián tiếp; còn tổ chức phi lợi nhuận ảnh hưởng cao hơn.

- Về quỹ tài chính: Các quỹ của tổ chức lợi nhuận phát sinh từ nguồn vốn của bản thân tổ chức; còn của tổ chức phi lợi nhuận thường phát sinh từ sự hiến tặng.

- Về phương cách thực hiện: Tổ chức lợi nhuận sử dụng tài chính và tài sản vật chất; còn tổ chức phi lợi nhuận sử dụng ảnh hưởng xã hội.

- Về người nhận dịch vụ: Đối với tổ chức lợi nhuận là khách hàng chi trả; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận điển hình là người hưởng lợi không chi trả.

- Về rủi ro: Tổ chức lợi nhuận bằng lòng chấp nhận; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận thông thường không thích rủi ro.

- Về quản trị: Tổ chức lợi nhuận từng trải qua hoạt động phát sinh lợi nhuận; còn tổ chức phi lợi nhuận thiếu kinh nghiệm, kỹ năng kinh doanh cần thiết[18].

J.A. Kerlin xác định rằng, DNXH được hình thành bởi sự ảnh hưởng của bốn yếu tố thể chế kết nối với nhau bao gồm: (i) Văn hóa, toàn cầu, khu vực và hệ thống chính quyền địa phương và lịch sử kinh tế chính trị; (ii) Kiểu loại chính quyền (dân chủ, độc tài, hỗ trợ (supportive), không hỗ trợ (unsupportive); (iii) Các giai đoạn phát triển kinh tế (đổi mới, hiệu quả và thực tế); và (iv) Mô hình xã hội dân sự (tự do, đối tác phúc lợi, dân chủ xã hội, trì trệ)[19]. Vì vậy, việc cân nhắc để xây dựng một mô hình DNXH có hiệu quả và phù hợp cần phải tính đến trong chiến lược liên quan và định hướng xây dựng pháp luật.

Sau khảo cứu về các định nghĩa DNXH, tổ chức Community Waltham Forest đã rút ra các đặc điểm cơ bản sau của DNXH: (i) Có sứ mệnh xã hội và môi trường rõ ràng được thiết lập trong văn bản điều chỉnh của họ; (ii) 50% thu nhập của họ phát sinh từ thương mại hoặc mua bán hàng hóa và dịch vụ; (iii) Tái đầu tư phần lớn lợi nhuận cho các hoạt động của chính DNXH; (iv) Độc lập với nhà chức trách quốc gia và địa phương; và (v) Phần lớn được kiểm soát liên quan tới lợi ích của sứ mệnh xã hội hơn lợi ích của các thành viên[20].

Sự khác biệt giữa doanh nhân (business entrepreneur) và doanh nhân xã hội (social entrepreneur) tập trung ở sứ mệnh của hai loại doanh nhân này. Đối với doanh nhân thông thường thì sáng tạo có tính chất của cải là tiêu chuẩn quan trọng bởi gắn với thị trường nơi mà doanh nhân phải thu hút khách hàng chi trả cho hàng hóa và dịch vụ do doanh nhân bán; còn đối với doanh nhân xã hội thì sứ mệnh xã hội là tiêu chuẩn quan trọng và thị trường không phải là tốt cho mục tiêu xã hội vì những người trong nhóm được hướng tới trong mục tiêu xã hội khó có thể chi trả cho hàng hóa và dịch vụ[21].

Tóm lại, các nghiên cứu ở trên cho thấy, sự hiểu biết về DNXH ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo, trong khi chúng ta đã vội vã đưa một vài qui định đơn lẻ về DNXH vào Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quy định này bị lạc lõng trong một vô số các quy định về doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Điều đáng nói nhất là khi chưa có các nghiên cứu đầy đủ về các mô hình khác nhau của DNXH trên thế giới, chúng ta đã lấy ngay một vài quan niệm của Vương quốc Anh để gắn vào pháp luật, do đó, đã làm mất tính thống nhất của pháp luật nói chung và của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nói riêng. Vì vậy, trước hết cần có nghiên cứu sâu rộng thêm về doanh nghiệp xã hội và hướng tới xây dựng một đạo luật riêng cho khu vực này.

ThS. Nguyễn Văn Quang

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam





[1]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội. tr. XI.

[2]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[3]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[4]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[5]. Carlo Borzaga, Giulia Galera (2012), “The Concept and Practice of Social Enterprise. Lessons from the Italian Experience” (tr. 85 – 102), International Review of Social Research, International Review of Social Research, IRSR Volume 2, Issue 2, June 2012, tr. 89.

[6]. Khoản 1 Điều 2 Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012.

[7]. Matthew F. Doeringer (2010), “Fostering Social Enterprise: A Historical and International Analysis”, Duke Journal of Comparative & International Law, Vol 20:291, tr. 292.

[8]. Nguyên văn: “A social enterprise is a business with primarily social objectives whose surpluses are principally reinvested for that purpose in the business or in the community, rather than being driven by the need to maximise profit for shareholders and owners” (Department of Trade and Industry (2002), Social Enterprise – A Strategy for Success, [http://www.dti.gov.uk/], DTI/Pub 6058/5k/07/02/NP. URN 02/1054, tr. 7).

[9]. British Council India (2015), Social Enterprise: An Overview of Policy Framework in India, tr. 10.

[10]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, tr. 4.

[11]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[12]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[13]. Third Sector Impact (2017),EMES International Research Network, Partner Description, [http://thirdsectorimpact.eu/partners/emes-international-research-network/].

[14]. Jacques Defourny & Marthe Nyssens (2008), “Social Enterprise in Europe: Introduction to An Update” (tr. 4 – 12), Social Enterprise in Europe: Recent Trends and Developments, Edited by Jacques Defourny & Marthe Nyssens, WP no. 08/01, tr. 5.

[15]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[16]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[17]. OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) and LEED Programme (Local Economic and Employment Development Programme) (2013), The Social Enterprise Sector: A Conceptual Framework, [www.oecd.org/employment/leed/37753595.pdf].

[18]. Paul Miesing (2016), Defining and Distinguishing Social Entrepreneurship, School of Business, UAlbany-SUNY, Albany, New York, [https://www.albany.edu/faculty/miesing/teaching/socent/2%20Defining%20and%20Distinguishing% 20Social%20Entrepreneurship.pdf].

[19]. Heather Douglas (2014), Conceptualising the baggy beast: An institutional framework for social entrepreneurship and social enterprise, Social Innovation and Entrepreneurship Research Colloquium @RMIT.

[20]. Community Waltham Forest (2016), An Introduction to Social Enterprise, [http://www.communitywalthamforest.org/sites/default/files/images/An%20Introduction%20to%20Social%20Enterprise_0.pdf], Registered Charity No. 1105835. Company limited by guarantee in England and Wales No. 5090324, tr. 2.

[21]. J. Gregory Dees (2001), The Meaning of “Social Entrepreneurship”, Dule Innovation & Entrepreneurship, [https://entrepreneurship.duke.edu/news-item/the-meaning-of-social-entrepreneurship/].

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: