Thứ năm 05/03/2026 07:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, sự hiểu biết về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo. Bài viết dưới đây với những phân tích so sánh nhằm bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội.


1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp xã hội

Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ doanh nghiệp xã hội (DNXH) được sử dụng khá phổ biến. Hình hài của DNXH đã xuất hiện từ khá lâu. Theo một nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế trung ương, DNXH đầu tiên xuất hiện ở nước Anh từ thế kỷ XVII, tuy nhiên, chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980[1]. Có nghiên cứu cho thấy, thuật ngữ DNXH sinh ra từ ý tưởng của William Drayton (người sáng lập Ashoka – tổ chức đầu tiên của thế giới thúc đẩy DNXH) mà ý tưởng này xuất hiện khi ông đi thăm Ấn Độ vào những năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XIX lấy cảm hứng từ “Phong trào tặng đất” ở đây, theo đó, người giàu hiến đất cho người nghèo để xóa bỏ vòng đói khổ trên tinh thần tái phân phối công bằng hơn[2].

Wrigleys Solicitors LLP nhận xét định nghĩa về DNXH không xuất phát từ cấu trúc pháp lý của doanh nghiệp mà xuất phát từ mục đích và hiệu quả của nó[3]. Nhận xét này có ý nghĩa quan trọng cho thấy hai vấn đề: (i) Khó có thể định nghĩa DNXH trên căn bản các loại hình của nó; (ii) Cũng có nghĩa là DNXH biểu lộ ra bên ngoài có thể bằng những hình thức thông thường như những doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Thực vậy, hiện nay, hầu hết các định nghĩa về DNXH dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp. Chẳng hạn: “Doanh nghiệp xã hội là một doanh thương với các mục tiêu xã hội là trước hết mà các giá trị thặng dư của nó chủ yếu tái đầu tư nhằm mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng, khác hơn được dồn vào nhu cầu cần thiết tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và chủ sở hữu”[4].

Ở Châu Âu, thuật ngữ DNXH được sử dụng để mô tả một cách thức khác trong kinh doanh mà bao gồm thành tố kinh doanh nhiều hơn so với khu vực phi lợi nhuận và yếu tố đổi mới của phong trào hợp tác xã, theo đó, xuất hiện một đặc điểm đặc biệt trong khái niệm DNXH ở Châu Âu là việc thiết lập một cấu trúc thể chế theo đuổi mục tiêu xã hội thách thức quan niệm truyền thống là doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu lợi nhuận tối đa[5].

Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012 định nghĩa: “Thuật ngữ DNXH dùng để chỉ một doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp với Điều 7 là một doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu xã hội, chẳng hạn như nâng chất lượng sống của cư dân địa phương…, cung cấp cho các nhóm dễ bị tổn thương với các dịch vụ xã hội hoặc công việc trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, ví dụ như sản xuất và mua bán hàng hóa và dịch vụ…”[6]. Tuy nhiên, có công trình luận giải so sánh cho thấy có sự khác biệt phần nào về khái niệm DNXH ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu. Theo Matthew F. Doeringer, có sự khác biệt này trong định nghĩa khái niệm DNXH giữa hai bờ Đại Tây Dương là do có những khó khăn về kinh tế mà mỗi bên phải đối diện trong quá khứ. Ông nhận xét định nghĩa khái niệm DNXH của Hoa Kỳ tập trung vào sự phát sinh ra thu nhập đối với các tổ chức mà cung cấp dịch vụ đặc thù có ý định như được cung cấp bởi khu vực phi lợi nhuận, chẳng hạn như một tổ chức cung cấp miễn phí kiểm tra thị lực trong khi bán kính với giá thấp cho những người có thu nhập thấp, trong khi đó khái niệm DNXH ở Châu Âu khái quát từ việc giải quyết vấn đề thất nghiệp kéo dài[7].

Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002, Chính phủ Anh đưa ra định nghĩa: “DNXH là một doanh thương có các mục tiêu xã hội trước hết mà lợi nhuận của nó chủ yếu được tái đầu tư cho mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng khác hơn được để lại bởi nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và các chủ sở hữu”[8]. Định nghĩa này được sao chép nguyên văn trong tài liệu nói về “Doanh nghiệp xã hội: Tổng quan về khung chính sách ở Ấn Độ”[9]. Cũng như vậy, cuốn “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách” do British Council, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và CSIP giới thiệu chép nguyên văn định nghĩa nói trên của Anh Quốc với đoạn dịch như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”[1]0.

Về khái niệm DNXH, cả trong học thuật cũng như trong thực tiễn ở Hoa Kỳ nói chung là rộng hơn và tập trung hơn vào mục tiêu làm phát sinh lợi nhuận so với những nơi khác[11]. Sự khác biệt này được Janelle A. Kerlin giới thiệu định nghĩa dưới đây phù hợp với nhận thức của các trường kinh doanh thuộc các đại học tốp đầu ở Hoa Kỳ: “Trong giới học thuật Hoa Kỳ, doanh nghiệp xã hội được hiểu bao gồm những tổ chức mà chấp nhận sự tiếp tục từ kinh doanh có định hướng lợi nhuận tiến hành các hoạt động vì lợi ích xã hội (trách nhiệm xã hội hay trách nhiệm từ thiện của doanh nghiệp) tới hoạt động kinh doanh với mục đích kép mà làm trung gian giữa các mục tiêu lợi nhuận với các mục tiêu xã hội tới tổ chức phi lợi nhuận tiến hành hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh (tổ chức có mục tiêu xã hội. Đối với tổ chức có mục tiêu xã hội, hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh có thể bao gồm chỉ sự làm phát sinh lợi tức mà hỗ trợ đặt chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động mà đồng thời làm phát sinh lợi tức và cung cấp chương trình mà đáp ứng các mục tiêu sứ mệnh như hội thảo về nhà ở cho người khuyết tật (Young, 2001; 2003a). Doanh nghiệp xã hội tiến hành bởi phi lợi nhuận có thể khác các hình thức tổ chức khác bao gồm các dự án thương mại nội bộ, các chi nhánh lợi nhuận và phi lợi nhuận và các hợp danh với các doanh thương bao gồm tiếp thị liên hệ tới sự nghiệp (cause-related marketing)”[12].

Như vậy, theo định nghĩa này, xét về mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận, có thể chia doanh nghiệp nói chung thành mấy loại sau: Một là, các doanh nghiệp lợi nhuận đơn thuần; hai là, các doanh nghiệp lợi nhuận có hoạt động vì lợi ích xã hội nói chung; ba là, các doanh nghiệp có mục tiêu kép (cả lợi nhuận và cả phi lợi nhuận); bốn là, các doanh nghiệp phi lợi nhuận có tiến hành các hành vi thương mại hỗ trợ. Cách phân loại này khá linh động và có khả năng khuyến khích cao cho các doanh nghiệp tham gia vào các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên sẽ dễ bị lợi dụng bởi các doanh nghiệp để thu lợi bất chính và sẽ là khó cho việc thiết kế chính sách và các qui tắc pháp lý để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh, nhất là ở những nước có nền tảng pháp lý yếu và hay bị biến động như Việt Nam. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả vẫn tiếp nhận sự lựa chọn của nhà làm luật khi xây dựng Luật Doanh nghiệp năm 2014, tức là lựa chọn theo quan niệm DNXH của Châu Âu.

EMES (một mạng lưới nghiên cứu quốc tế của 16 trung tâm nghiên cứu do các trường đại học thiết lập và nhiều nhà nghiên cứu độc lập có mục tiêu từng bước xây dựng ở Châu Âu một bộ tài liệu về kiến thức kinh nghiệm và lý thuyết đa ngành, đa phương pháp luận xung quanh DNXH và những vấn đề về khu vực thứ ba[13]) đưa ra định nghĩa về DNXH như sau: “Các doanh nghiệp xã hội là các tổ chức tư nhân phi lợi nhuận cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan trực tiếp tới mục tiêu rõ ràng của họ vì lợi ích của cộng đồng. Họ dựa trên động cơ tập thể bao gồm những dạng khác nhau của những người có lợi ích trong các cấu thành dưới sự điều chỉnh của họ, họ đặt giá trị cao trên sự tự trị của họ và họ gánh chịu các rủi ro kinh tế liên quan tới hoạt động của mình”[14].

2. Bản chất và các đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

DNXH nhấn mạnh tới sự thay đổi xã hội hơn là nhằm tới lợi nhuận, phản ứng lại với những hoạt động kinh doanh lựa chọn điểm cốt yếu có khuynh hướng lợi ích ngắn hạn trên những chi phí phúc lợi dài hạn đối với xã hội[15]. Tìm hiểu về lịch sử DNXH mới phát hiện ra rằng, DNXH thường bởi sáng kiến của một cá nhân mà người này thiết lập các quy tắc và công cụ liên quan tới tinh thần doanh nhân và động cơ làm giàu và giúp đỡ cho xã hội hơn là làm giàu cho bản thân[16].

Tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) và Chương trình LEED (Local Economic and Employment Development Programme) nghiên cứu và đi đến kết luận rằng: DNXH đã phát triển từ và trong khu vực kinh tế xã hội mà có ranh giới giữa thị trường và Nhà nước và thường được liên hệ với khái niệm “khu vực thứ ba” (third sector) và “khu vực phi lợi nhuận” (non-profit sector); khái niệm DNXH không cố gắng tìm kiếm thay thế các khái niệm của khu vực phi lợi nhuận hay kinh tế xã hội, mà nó có ý tưởng làm cầu nối giữa hai khái niệm bởi tập trung vào tinh thần (động cơ) doanh nhân mới về các sáng kiến công dân theo đuổi mục tiêu xã hội[17].

Từ các nghiên cứu trên cho thấy, bản chất của DNXH là một thực thể hỗ trợ các vấn đề xã hội bằng các hoạt động kinh doanh. Thực thể này có hình thức hầu như giống với các hình thức thương nhân thông thường và có thể có các hình thức riêng biệt và tiến hành các hành vi thương mại nhưng lợi nhuận hầu hết dành cho giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.

Sự khác biệt giữa tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận đã được Paul Miesing tổng kết lại bao gồm:

- Về sứ mệnh: Tổ chức lợi nhuận lấy lợi nhuận làm sứ mệnh; còn tổ chức phi lợi nhuận lấy sự kiến tạo giá trị xã hội làm sứ mệnh.

- Về mục tiêu: Mục tiêu của tổ chức lợi nhuận rõ ràng và dứt khoát; còn mục tiêu của tổ chức phi lợi nhuận phức tạp và có những ưu tiên khác biệt.

- Về những người có lợi ích liên quan: Đối với tổ chức lợi nhuận, là các cổ đông (thành viên); còn đối với tổ chức phi lợi nhuận, là đa diện, phức tạp.

- Về ảnh hưởng chính trị: Tổ chức lợi nhuận ảnh hưởng tối thiểu và gián tiếp; còn tổ chức phi lợi nhuận ảnh hưởng cao hơn.

- Về quỹ tài chính: Các quỹ của tổ chức lợi nhuận phát sinh từ nguồn vốn của bản thân tổ chức; còn của tổ chức phi lợi nhuận thường phát sinh từ sự hiến tặng.

- Về phương cách thực hiện: Tổ chức lợi nhuận sử dụng tài chính và tài sản vật chất; còn tổ chức phi lợi nhuận sử dụng ảnh hưởng xã hội.

- Về người nhận dịch vụ: Đối với tổ chức lợi nhuận là khách hàng chi trả; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận điển hình là người hưởng lợi không chi trả.

- Về rủi ro: Tổ chức lợi nhuận bằng lòng chấp nhận; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận thông thường không thích rủi ro.

- Về quản trị: Tổ chức lợi nhuận từng trải qua hoạt động phát sinh lợi nhuận; còn tổ chức phi lợi nhuận thiếu kinh nghiệm, kỹ năng kinh doanh cần thiết[18].

J.A. Kerlin xác định rằng, DNXH được hình thành bởi sự ảnh hưởng của bốn yếu tố thể chế kết nối với nhau bao gồm: (i) Văn hóa, toàn cầu, khu vực và hệ thống chính quyền địa phương và lịch sử kinh tế chính trị; (ii) Kiểu loại chính quyền (dân chủ, độc tài, hỗ trợ (supportive), không hỗ trợ (unsupportive); (iii) Các giai đoạn phát triển kinh tế (đổi mới, hiệu quả và thực tế); và (iv) Mô hình xã hội dân sự (tự do, đối tác phúc lợi, dân chủ xã hội, trì trệ)[19]. Vì vậy, việc cân nhắc để xây dựng một mô hình DNXH có hiệu quả và phù hợp cần phải tính đến trong chiến lược liên quan và định hướng xây dựng pháp luật.

Sau khảo cứu về các định nghĩa DNXH, tổ chức Community Waltham Forest đã rút ra các đặc điểm cơ bản sau của DNXH: (i) Có sứ mệnh xã hội và môi trường rõ ràng được thiết lập trong văn bản điều chỉnh của họ; (ii) 50% thu nhập của họ phát sinh từ thương mại hoặc mua bán hàng hóa và dịch vụ; (iii) Tái đầu tư phần lớn lợi nhuận cho các hoạt động của chính DNXH; (iv) Độc lập với nhà chức trách quốc gia và địa phương; và (v) Phần lớn được kiểm soát liên quan tới lợi ích của sứ mệnh xã hội hơn lợi ích của các thành viên[20].

Sự khác biệt giữa doanh nhân (business entrepreneur) và doanh nhân xã hội (social entrepreneur) tập trung ở sứ mệnh của hai loại doanh nhân này. Đối với doanh nhân thông thường thì sáng tạo có tính chất của cải là tiêu chuẩn quan trọng bởi gắn với thị trường nơi mà doanh nhân phải thu hút khách hàng chi trả cho hàng hóa và dịch vụ do doanh nhân bán; còn đối với doanh nhân xã hội thì sứ mệnh xã hội là tiêu chuẩn quan trọng và thị trường không phải là tốt cho mục tiêu xã hội vì những người trong nhóm được hướng tới trong mục tiêu xã hội khó có thể chi trả cho hàng hóa và dịch vụ[21].

Tóm lại, các nghiên cứu ở trên cho thấy, sự hiểu biết về DNXH ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo, trong khi chúng ta đã vội vã đưa một vài qui định đơn lẻ về DNXH vào Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quy định này bị lạc lõng trong một vô số các quy định về doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Điều đáng nói nhất là khi chưa có các nghiên cứu đầy đủ về các mô hình khác nhau của DNXH trên thế giới, chúng ta đã lấy ngay một vài quan niệm của Vương quốc Anh để gắn vào pháp luật, do đó, đã làm mất tính thống nhất của pháp luật nói chung và của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nói riêng. Vì vậy, trước hết cần có nghiên cứu sâu rộng thêm về doanh nghiệp xã hội và hướng tới xây dựng một đạo luật riêng cho khu vực này.

ThS. Nguyễn Văn Quang

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam





[1]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội. tr. XI.

[2]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[3]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[4]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[5]. Carlo Borzaga, Giulia Galera (2012), “The Concept and Practice of Social Enterprise. Lessons from the Italian Experience” (tr. 85 – 102), International Review of Social Research, International Review of Social Research, IRSR Volume 2, Issue 2, June 2012, tr. 89.

[6]. Khoản 1 Điều 2 Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012.

[7]. Matthew F. Doeringer (2010), “Fostering Social Enterprise: A Historical and International Analysis”, Duke Journal of Comparative & International Law, Vol 20:291, tr. 292.

[8]. Nguyên văn: “A social enterprise is a business with primarily social objectives whose surpluses are principally reinvested for that purpose in the business or in the community, rather than being driven by the need to maximise profit for shareholders and owners” (Department of Trade and Industry (2002), Social Enterprise – A Strategy for Success, [http://www.dti.gov.uk/], DTI/Pub 6058/5k/07/02/NP. URN 02/1054, tr. 7).

[9]. British Council India (2015), Social Enterprise: An Overview of Policy Framework in India, tr. 10.

[10]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, tr. 4.

[11]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[12]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[13]. Third Sector Impact (2017),EMES International Research Network, Partner Description, [http://thirdsectorimpact.eu/partners/emes-international-research-network/].

[14]. Jacques Defourny & Marthe Nyssens (2008), “Social Enterprise in Europe: Introduction to An Update” (tr. 4 – 12), Social Enterprise in Europe: Recent Trends and Developments, Edited by Jacques Defourny & Marthe Nyssens, WP no. 08/01, tr. 5.

[15]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[16]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[17]. OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) and LEED Programme (Local Economic and Employment Development Programme) (2013), The Social Enterprise Sector: A Conceptual Framework, [www.oecd.org/employment/leed/37753595.pdf].

[18]. Paul Miesing (2016), Defining and Distinguishing Social Entrepreneurship, School of Business, UAlbany-SUNY, Albany, New York, [https://www.albany.edu/faculty/miesing/teaching/socent/2%20Defining%20and%20Distinguishing% 20Social%20Entrepreneurship.pdf].

[19]. Heather Douglas (2014), Conceptualising the baggy beast: An institutional framework for social entrepreneurship and social enterprise, Social Innovation and Entrepreneurship Research Colloquium @RMIT.

[20]. Community Waltham Forest (2016), An Introduction to Social Enterprise, [http://www.communitywalthamforest.org/sites/default/files/images/An%20Introduction%20to%20Social%20Enterprise_0.pdf], Registered Charity No. 1105835. Company limited by guarantee in England and Wales No. 5090324, tr. 2.

[21]. J. Gregory Dees (2001), The Meaning of “Social Entrepreneurship”, Dule Innovation & Entrepreneurship, [https://entrepreneurship.duke.edu/news-item/the-meaning-of-social-entrepreneurship/].

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: