Chủ nhật 16/08/2026 04:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, sự hiểu biết về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo. Bài viết dưới đây với những phân tích so sánh nhằm bàn lại về bản chất và sứ mạng của doanh nghiệp xã hội.


1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp xã hội

Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ doanh nghiệp xã hội (DNXH) được sử dụng khá phổ biến. Hình hài của DNXH đã xuất hiện từ khá lâu. Theo một nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế trung ương, DNXH đầu tiên xuất hiện ở nước Anh từ thế kỷ XVII, tuy nhiên, chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980[1]. Có nghiên cứu cho thấy, thuật ngữ DNXH sinh ra từ ý tưởng của William Drayton (người sáng lập Ashoka – tổ chức đầu tiên của thế giới thúc đẩy DNXH) mà ý tưởng này xuất hiện khi ông đi thăm Ấn Độ vào những năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XIX lấy cảm hứng từ “Phong trào tặng đất” ở đây, theo đó, người giàu hiến đất cho người nghèo để xóa bỏ vòng đói khổ trên tinh thần tái phân phối công bằng hơn[2].

Wrigleys Solicitors LLP nhận xét định nghĩa về DNXH không xuất phát từ cấu trúc pháp lý của doanh nghiệp mà xuất phát từ mục đích và hiệu quả của nó[3]. Nhận xét này có ý nghĩa quan trọng cho thấy hai vấn đề: (i) Khó có thể định nghĩa DNXH trên căn bản các loại hình của nó; (ii) Cũng có nghĩa là DNXH biểu lộ ra bên ngoài có thể bằng những hình thức thông thường như những doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Thực vậy, hiện nay, hầu hết các định nghĩa về DNXH dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp. Chẳng hạn: “Doanh nghiệp xã hội là một doanh thương với các mục tiêu xã hội là trước hết mà các giá trị thặng dư của nó chủ yếu tái đầu tư nhằm mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng, khác hơn được dồn vào nhu cầu cần thiết tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và chủ sở hữu”[4].

Ở Châu Âu, thuật ngữ DNXH được sử dụng để mô tả một cách thức khác trong kinh doanh mà bao gồm thành tố kinh doanh nhiều hơn so với khu vực phi lợi nhuận và yếu tố đổi mới của phong trào hợp tác xã, theo đó, xuất hiện một đặc điểm đặc biệt trong khái niệm DNXH ở Châu Âu là việc thiết lập một cấu trúc thể chế theo đuổi mục tiêu xã hội thách thức quan niệm truyền thống là doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu lợi nhuận tối đa[5].

Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012 định nghĩa: “Thuật ngữ DNXH dùng để chỉ một doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp với Điều 7 là một doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu xã hội, chẳng hạn như nâng chất lượng sống của cư dân địa phương…, cung cấp cho các nhóm dễ bị tổn thương với các dịch vụ xã hội hoặc công việc trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, ví dụ như sản xuất và mua bán hàng hóa và dịch vụ…”[6]. Tuy nhiên, có công trình luận giải so sánh cho thấy có sự khác biệt phần nào về khái niệm DNXH ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu. Theo Matthew F. Doeringer, có sự khác biệt này trong định nghĩa khái niệm DNXH giữa hai bờ Đại Tây Dương là do có những khó khăn về kinh tế mà mỗi bên phải đối diện trong quá khứ. Ông nhận xét định nghĩa khái niệm DNXH của Hoa Kỳ tập trung vào sự phát sinh ra thu nhập đối với các tổ chức mà cung cấp dịch vụ đặc thù có ý định như được cung cấp bởi khu vực phi lợi nhuận, chẳng hạn như một tổ chức cung cấp miễn phí kiểm tra thị lực trong khi bán kính với giá thấp cho những người có thu nhập thấp, trong khi đó khái niệm DNXH ở Châu Âu khái quát từ việc giải quyết vấn đề thất nghiệp kéo dài[7].

Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002, Chính phủ Anh đưa ra định nghĩa: “DNXH là một doanh thương có các mục tiêu xã hội trước hết mà lợi nhuận của nó chủ yếu được tái đầu tư cho mục đích đó trong kinh doanh hoặc trong cộng đồng khác hơn được để lại bởi nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông và các chủ sở hữu”[8]. Định nghĩa này được sao chép nguyên văn trong tài liệu nói về “Doanh nghiệp xã hội: Tổng quan về khung chính sách ở Ấn Độ”[9]. Cũng như vậy, cuốn “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách” do British Council, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và CSIP giới thiệu chép nguyên văn định nghĩa nói trên của Anh Quốc với đoạn dịch như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”[1]0.

Về khái niệm DNXH, cả trong học thuật cũng như trong thực tiễn ở Hoa Kỳ nói chung là rộng hơn và tập trung hơn vào mục tiêu làm phát sinh lợi nhuận so với những nơi khác[11]. Sự khác biệt này được Janelle A. Kerlin giới thiệu định nghĩa dưới đây phù hợp với nhận thức của các trường kinh doanh thuộc các đại học tốp đầu ở Hoa Kỳ: “Trong giới học thuật Hoa Kỳ, doanh nghiệp xã hội được hiểu bao gồm những tổ chức mà chấp nhận sự tiếp tục từ kinh doanh có định hướng lợi nhuận tiến hành các hoạt động vì lợi ích xã hội (trách nhiệm xã hội hay trách nhiệm từ thiện của doanh nghiệp) tới hoạt động kinh doanh với mục đích kép mà làm trung gian giữa các mục tiêu lợi nhuận với các mục tiêu xã hội tới tổ chức phi lợi nhuận tiến hành hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh (tổ chức có mục tiêu xã hội. Đối với tổ chức có mục tiêu xã hội, hành vi thương mại hỗ trợ sứ mệnh có thể bao gồm chỉ sự làm phát sinh lợi tức mà hỗ trợ đặt chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động mà đồng thời làm phát sinh lợi tức và cung cấp chương trình mà đáp ứng các mục tiêu sứ mệnh như hội thảo về nhà ở cho người khuyết tật (Young, 2001; 2003a). Doanh nghiệp xã hội tiến hành bởi phi lợi nhuận có thể khác các hình thức tổ chức khác bao gồm các dự án thương mại nội bộ, các chi nhánh lợi nhuận và phi lợi nhuận và các hợp danh với các doanh thương bao gồm tiếp thị liên hệ tới sự nghiệp (cause-related marketing)”[12].

Như vậy, theo định nghĩa này, xét về mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận, có thể chia doanh nghiệp nói chung thành mấy loại sau: Một là, các doanh nghiệp lợi nhuận đơn thuần; hai là, các doanh nghiệp lợi nhuận có hoạt động vì lợi ích xã hội nói chung; ba là, các doanh nghiệp có mục tiêu kép (cả lợi nhuận và cả phi lợi nhuận); bốn là, các doanh nghiệp phi lợi nhuận có tiến hành các hành vi thương mại hỗ trợ. Cách phân loại này khá linh động và có khả năng khuyến khích cao cho các doanh nghiệp tham gia vào các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên sẽ dễ bị lợi dụng bởi các doanh nghiệp để thu lợi bất chính và sẽ là khó cho việc thiết kế chính sách và các qui tắc pháp lý để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh, nhất là ở những nước có nền tảng pháp lý yếu và hay bị biến động như Việt Nam. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả vẫn tiếp nhận sự lựa chọn của nhà làm luật khi xây dựng Luật Doanh nghiệp năm 2014, tức là lựa chọn theo quan niệm DNXH của Châu Âu.

EMES (một mạng lưới nghiên cứu quốc tế của 16 trung tâm nghiên cứu do các trường đại học thiết lập và nhiều nhà nghiên cứu độc lập có mục tiêu từng bước xây dựng ở Châu Âu một bộ tài liệu về kiến thức kinh nghiệm và lý thuyết đa ngành, đa phương pháp luận xung quanh DNXH và những vấn đề về khu vực thứ ba[13]) đưa ra định nghĩa về DNXH như sau: “Các doanh nghiệp xã hội là các tổ chức tư nhân phi lợi nhuận cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan trực tiếp tới mục tiêu rõ ràng của họ vì lợi ích của cộng đồng. Họ dựa trên động cơ tập thể bao gồm những dạng khác nhau của những người có lợi ích trong các cấu thành dưới sự điều chỉnh của họ, họ đặt giá trị cao trên sự tự trị của họ và họ gánh chịu các rủi ro kinh tế liên quan tới hoạt động của mình”[14].

2. Bản chất và các đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

DNXH nhấn mạnh tới sự thay đổi xã hội hơn là nhằm tới lợi nhuận, phản ứng lại với những hoạt động kinh doanh lựa chọn điểm cốt yếu có khuynh hướng lợi ích ngắn hạn trên những chi phí phúc lợi dài hạn đối với xã hội[15]. Tìm hiểu về lịch sử DNXH mới phát hiện ra rằng, DNXH thường bởi sáng kiến của một cá nhân mà người này thiết lập các quy tắc và công cụ liên quan tới tinh thần doanh nhân và động cơ làm giàu và giúp đỡ cho xã hội hơn là làm giàu cho bản thân[16].

Tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) và Chương trình LEED (Local Economic and Employment Development Programme) nghiên cứu và đi đến kết luận rằng: DNXH đã phát triển từ và trong khu vực kinh tế xã hội mà có ranh giới giữa thị trường và Nhà nước và thường được liên hệ với khái niệm “khu vực thứ ba” (third sector) và “khu vực phi lợi nhuận” (non-profit sector); khái niệm DNXH không cố gắng tìm kiếm thay thế các khái niệm của khu vực phi lợi nhuận hay kinh tế xã hội, mà nó có ý tưởng làm cầu nối giữa hai khái niệm bởi tập trung vào tinh thần (động cơ) doanh nhân mới về các sáng kiến công dân theo đuổi mục tiêu xã hội[17].

Từ các nghiên cứu trên cho thấy, bản chất của DNXH là một thực thể hỗ trợ các vấn đề xã hội bằng các hoạt động kinh doanh. Thực thể này có hình thức hầu như giống với các hình thức thương nhân thông thường và có thể có các hình thức riêng biệt và tiến hành các hành vi thương mại nhưng lợi nhuận hầu hết dành cho giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.

Sự khác biệt giữa tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận đã được Paul Miesing tổng kết lại bao gồm:

- Về sứ mệnh: Tổ chức lợi nhuận lấy lợi nhuận làm sứ mệnh; còn tổ chức phi lợi nhuận lấy sự kiến tạo giá trị xã hội làm sứ mệnh.

- Về mục tiêu: Mục tiêu của tổ chức lợi nhuận rõ ràng và dứt khoát; còn mục tiêu của tổ chức phi lợi nhuận phức tạp và có những ưu tiên khác biệt.

- Về những người có lợi ích liên quan: Đối với tổ chức lợi nhuận, là các cổ đông (thành viên); còn đối với tổ chức phi lợi nhuận, là đa diện, phức tạp.

- Về ảnh hưởng chính trị: Tổ chức lợi nhuận ảnh hưởng tối thiểu và gián tiếp; còn tổ chức phi lợi nhuận ảnh hưởng cao hơn.

- Về quỹ tài chính: Các quỹ của tổ chức lợi nhuận phát sinh từ nguồn vốn của bản thân tổ chức; còn của tổ chức phi lợi nhuận thường phát sinh từ sự hiến tặng.

- Về phương cách thực hiện: Tổ chức lợi nhuận sử dụng tài chính và tài sản vật chất; còn tổ chức phi lợi nhuận sử dụng ảnh hưởng xã hội.

- Về người nhận dịch vụ: Đối với tổ chức lợi nhuận là khách hàng chi trả; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận điển hình là người hưởng lợi không chi trả.

- Về rủi ro: Tổ chức lợi nhuận bằng lòng chấp nhận; còn đối với tổ chức phi lợi nhuận thông thường không thích rủi ro.

- Về quản trị: Tổ chức lợi nhuận từng trải qua hoạt động phát sinh lợi nhuận; còn tổ chức phi lợi nhuận thiếu kinh nghiệm, kỹ năng kinh doanh cần thiết[18].

J.A. Kerlin xác định rằng, DNXH được hình thành bởi sự ảnh hưởng của bốn yếu tố thể chế kết nối với nhau bao gồm: (i) Văn hóa, toàn cầu, khu vực và hệ thống chính quyền địa phương và lịch sử kinh tế chính trị; (ii) Kiểu loại chính quyền (dân chủ, độc tài, hỗ trợ (supportive), không hỗ trợ (unsupportive); (iii) Các giai đoạn phát triển kinh tế (đổi mới, hiệu quả và thực tế); và (iv) Mô hình xã hội dân sự (tự do, đối tác phúc lợi, dân chủ xã hội, trì trệ)[19]. Vì vậy, việc cân nhắc để xây dựng một mô hình DNXH có hiệu quả và phù hợp cần phải tính đến trong chiến lược liên quan và định hướng xây dựng pháp luật.

Sau khảo cứu về các định nghĩa DNXH, tổ chức Community Waltham Forest đã rút ra các đặc điểm cơ bản sau của DNXH: (i) Có sứ mệnh xã hội và môi trường rõ ràng được thiết lập trong văn bản điều chỉnh của họ; (ii) 50% thu nhập của họ phát sinh từ thương mại hoặc mua bán hàng hóa và dịch vụ; (iii) Tái đầu tư phần lớn lợi nhuận cho các hoạt động của chính DNXH; (iv) Độc lập với nhà chức trách quốc gia và địa phương; và (v) Phần lớn được kiểm soát liên quan tới lợi ích của sứ mệnh xã hội hơn lợi ích của các thành viên[20].

Sự khác biệt giữa doanh nhân (business entrepreneur) và doanh nhân xã hội (social entrepreneur) tập trung ở sứ mệnh của hai loại doanh nhân này. Đối với doanh nhân thông thường thì sáng tạo có tính chất của cải là tiêu chuẩn quan trọng bởi gắn với thị trường nơi mà doanh nhân phải thu hút khách hàng chi trả cho hàng hóa và dịch vụ do doanh nhân bán; còn đối với doanh nhân xã hội thì sứ mệnh xã hội là tiêu chuẩn quan trọng và thị trường không phải là tốt cho mục tiêu xã hội vì những người trong nhóm được hướng tới trong mục tiêu xã hội khó có thể chi trả cho hàng hóa và dịch vụ[21].

Tóm lại, các nghiên cứu ở trên cho thấy, sự hiểu biết về DNXH ở Việt Nam chưa thật sự thấu đáo, trong khi chúng ta đã vội vã đưa một vài qui định đơn lẻ về DNXH vào Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quy định này bị lạc lõng trong một vô số các quy định về doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận. Điều đáng nói nhất là khi chưa có các nghiên cứu đầy đủ về các mô hình khác nhau của DNXH trên thế giới, chúng ta đã lấy ngay một vài quan niệm của Vương quốc Anh để gắn vào pháp luật, do đó, đã làm mất tính thống nhất của pháp luật nói chung và của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nói riêng. Vì vậy, trước hết cần có nghiên cứu sâu rộng thêm về doanh nghiệp xã hội và hướng tới xây dựng một đạo luật riêng cho khu vực này.

ThS. Nguyễn Văn Quang

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam





[1]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội. tr. XI.

[2]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[3]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[4]. Wrigleys Solicitors LLP, A Guide to Legal Structures for Social Enterprise, (www.wrigleys.co.uk), tr. 1.

[5]. Carlo Borzaga, Giulia Galera (2012), “The Concept and Practice of Social Enterprise. Lessons from the Italian Experience” (tr. 85 – 102), International Review of Social Research, International Review of Social Research, IRSR Volume 2, Issue 2, June 2012, tr. 89.

[6]. Khoản 1 Điều 2 Luật Khuyến khích doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc năm 2012.

[7]. Matthew F. Doeringer (2010), “Fostering Social Enterprise: A Historical and International Analysis”, Duke Journal of Comparative & International Law, Vol 20:291, tr. 292.

[8]. Nguyên văn: “A social enterprise is a business with primarily social objectives whose surpluses are principally reinvested for that purpose in the business or in the community, rather than being driven by the need to maximise profit for shareholders and owners” (Department of Trade and Industry (2002), Social Enterprise – A Strategy for Success, [http://www.dti.gov.uk/], DTI/Pub 6058/5k/07/02/NP. URN 02/1054, tr. 7).

[9]. British Council India (2015), Social Enterprise: An Overview of Policy Framework in India, tr. 10.

[10]. British Council, CIEM và CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, tr. 4.

[11]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[12]. Janelle A. Kerlin (2006), “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences” (tr. 247 – 263), Voluntas (2006), 17:247–263, DOI 10.1007/s11266-006-9016-2, Original Paper, tr. 248.

[13]. Third Sector Impact (2017),EMES International Research Network, Partner Description, [http://thirdsectorimpact.eu/partners/emes-international-research-network/].

[14]. Jacques Defourny & Marthe Nyssens (2008), “Social Enterprise in Europe: Introduction to An Update” (tr. 4 – 12), Social Enterprise in Europe: Recent Trends and Developments, Edited by Jacques Defourny & Marthe Nyssens, WP no. 08/01, tr. 5.

[15]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[16]. N. Nayab (2011), “History of Social Entrepreneurship”, Edited by Jean Scheid, Bright Hub, [http://www.brighthub.com/office/entrepreneurs/articles/73851.aspx].

[17]. OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) and LEED Programme (Local Economic and Employment Development Programme) (2013), The Social Enterprise Sector: A Conceptual Framework, [www.oecd.org/employment/leed/37753595.pdf].

[18]. Paul Miesing (2016), Defining and Distinguishing Social Entrepreneurship, School of Business, UAlbany-SUNY, Albany, New York, [https://www.albany.edu/faculty/miesing/teaching/socent/2%20Defining%20and%20Distinguishing% 20Social%20Entrepreneurship.pdf].

[19]. Heather Douglas (2014), Conceptualising the baggy beast: An institutional framework for social entrepreneurship and social enterprise, Social Innovation and Entrepreneurship Research Colloquium @RMIT.

[20]. Community Waltham Forest (2016), An Introduction to Social Enterprise, [http://www.communitywalthamforest.org/sites/default/files/images/An%20Introduction%20to%20Social%20Enterprise_0.pdf], Registered Charity No. 1105835. Company limited by guarantee in England and Wales No. 5090324, tr. 2.

[21]. J. Gregory Dees (2001), The Meaning of “Social Entrepreneurship”, Dule Innovation & Entrepreneurship, [https://entrepreneurship.duke.edu/news-item/the-meaning-of-social-entrepreneurship/].

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: