Thứ ba 03/03/2026 17:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về bình đẳng giới trong pháp luật về thuế

Xét một cách tổng quát, có thể thấy pháp luật về thuế là bình đẳng và không thiên vị, tuy nhiên, để đạt được mục tiêu bình đẳng giới, Nhà nước đưa ra một số ưu đãi thuế dành cho đối tượng là phụ nữ. Dù vậy, khi đi sâu vào các quy định pháp luật thuế, vẫn có thể thấy tác động tiêu cực của một số quy định pháp luật thuế đến bình đẳng giới. Trong bài viết này, tác giả sẽ làm rõ thực trạng của một số quy định pháp luật về thuế liên quan đến bình đẳng giới và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.



1. Khái quát chung

Có nhiều khái niệm về thuế, Karl Marx (1818 - 1883) cho rằng “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản đến kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”[1]. Trong phạm vi nghiên cứu về thuế cũng như nội dung điều chỉnh của pháp luật, các chuyên gia pháp luật thuế cũng đã nhận định thuế là một trật tự hòa bình và được thiết lập giữa Chính phủ và xã hội nhằm thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách quốc gia về thuế, không phân biệt giữa các vùng lãnh thổ. Từ đó, có thể khái quát: Thuế là khoản nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Thuế ra đời và phát triển cùng với Nhà nước, là công cụ chủ yếu để Nhà nước thu ngân sách. Do đó, bản chất và công dụng xã hội của thuế gắn với bản chất của Nhà nước.

Với cách nhìn nhận khách quan về thuế, có thể thấy bản chất của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với Nhà nước, quan hệ giữa Nhà nước với người nộp thuế. Bản chất này không thay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau. Bất kể xã hội nào cũng thể hiện quan hệ thu và nộp như nhau[2].

Nhìn rộng ra, có thể thấy, thuế là nghĩa vụ bắt buộc mà Nhà nước quy định cho các cá nhân, tổ chức trong từng hoàn cảnh cụ thể. Thuế có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, không có sự phân biệt đối xử về giới tính.

Về bình đẳng giới, đây là một trong những quyền của con người. Phụ nữ có quyền sống theo ý mình và không sợ hãi. Bình đẳng giới cũng là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển và xóa đói giảm nghèo. Trao quyền cho phụ nữ giúp cải thiện sức khỏe phụ nữ và năng suất lao động của gia đình và cộng đồng, đồng thời củng cố triển vọng của các thế hệ tương lai.

Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người của mình, có cơ hội đóng góp vào sự phát triển xã hội và được hưởng các kết quả chung[3]. Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của các nước trên thế giới. Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu của thúc đẩy bình đẳng giới là hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định quyền bình đẳng của công dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, bình đẳng giới là vấn đề luôn được ưu tiên đặc biệt. Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Trên thực tế, phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các mặt trong đời sống xã hội. Sự phân biệt đối xử phổ biến trong một số lĩnh vực: Giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận các cơ hội kinh tế, lãnh đạo chính quyền... Sự phân biệt đối xử này xuất phát từ định kiến phụ nữ có ít quyền tự quyết hơn, ít nguồn lực hơn và ít ảnh hưởng hơn đến các quyết định liên quan đến xã hội và cuộc sống của họ. Nó đặt phụ nữ vào vị trí phải phục tùng và chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới.

Vì vậy, để tiến đến bình đẳng giới trong thực tế, Nhà nước đã đưa ra các chính sách và lồng ghép trong quy định pháp luật. Các quy định pháp luật về thuế cũng không ngoại lệ.

2. Những quy định pháp luật về thuế liên quan đến bình đẳng giới

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay, thuế được phân loại thành thuế trực thu và thuế gián thu, có thể kể đến những loại thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài…

Bất bình đẳng giới thể hiện trong mọi sự sắp đặt của nền kinh tế. Do đó, nếu các cam kết về bình đẳng giới vẫn chưa được thể hiện trong các luật thuế, kinh doanh, lao động, tài sản và luật khác có liên quan tới các khía cạnh kinh tế thì bất bình đẳng giới vẫn còn tiếp tục và gây khó khăn cho phụ nữ[4]. Các quy định pháp luật về thuế, ưu đãi thuế và các chương trình hỗ trợ thu nhập nhìn chung không có nhiều tác động đến xóa bỏ mọi hình thức của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và kinh tế. Nếu các cam kết về bình đẳng giới vẫn chưa được phản ánh trong các quy định về thuế, ưu đãi thuế, phân phối thu nhập, các chính sách về tài khóa sẽ càng gia tăng bất bình đẳng thu nhập và kinh tế.

Mọi loại thuế đều có tác động đến vấn đề giới, tuy nhiên, tác giả sẽ tập trung vào hai loại thuế chính là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, bởi đây là hai loại thuế trực thu quan trọng và có khả năng khắc phục tình trạng bất bình đẳng hơn.

Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì: Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động. Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm biện pháp ưu đãi thuế: “Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật” (điểm a khoản 2 Điều 12). Bộ luật Lao động năm 2019 về chính sách của Nhà nước: “Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế” (khoản 4 Điều 135). Bên cạnh đó, Điều 74 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động quy định về người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ là người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:

“1. Sử dụng từ 10 lao động nữ đến dưới 100 lao động nữ, trong đó số lao động nữ chiếm 50% trở lên so với tổng số lao động.

2. Sử dụng từ 100 lao động nữ đến dưới 1.000 lao động nữ, trong đó số lao động nữ chiếm 30% trở lên so với tổng số lao động.

3. Sử dụng từ 1.000 lao động nữ trở lên”.

Tuy nhiên, Điều 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng từ 10 đến 100 lao động nữ, trong đó số lao động nữ chiếm trên 50% tổng số lao động có mặt thường xuyên hoặc sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ mà số lao động nữ chiếm trên 30% tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động nữ…”. Theo quy định này, những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ nhưng phải hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải - đây là những ngành nghề có thể nói là “nặng nhọc”, thường ít có phụ nữ tham gia trực tiếp làm việc thì mới đủ điều kiện được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy, có thể nhận thấy sự ưu tiên về thuế thu nhập doanh nghiệp không phải được áp dụng rộng rãi cho toàn bộ các doanh nghiệp có sử dụng lao động nữ mà chỉ được áp dụng trên phạm vi hẹp của những ngành nghề xưa nay vốn ít có lao động nữ tham gia.

Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ không được hưởng lợi từ quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp này. Nguyên nhân là do các quy trình, thủ tục để được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp khá phức tạp, số tiền được giảm thuế chưa bù đắp được các chi phí khi áp dụng các ưu đãi dành cho lao động nữ và số lượng doanh nghiệp đáp ứng đủ yêu cầu để nhận ưu đãi cũng không nhiều, vì vậy, các doanh nghiệp thường “ngại” hoặc không muốn tiếp cận với chính sách ưu đãi này.

Tại Việt Nam cũng như ở các nước đang phát triển, phụ nữ vẫn tiếp tục là lực lượng chính cấu thành nhóm lao động nghèo, có thu nhập thấp hơn, dễ trở thành nạn nhân của tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp, hơn nữa, điều kiện việc làm “bấp bênh” hơn nam giới. Đa số các ngành nghề mà nam giới được ưu tiên tuyển dụng thường có kỹ năng cao hơn và thu nhập tốt hơn so với hầu hết các công việc dành cho phụ nữ[5]. Vì vậy, đối với thuế thu nhập cá nhân, thuế này có tác động đến nam và nữ khác nhau, mức thu nhập chung của nam giới thường cao hơn nữ giới, nữ giới cũng làm những công việc phi chính thức hay những công việc không được trả lương hoặc trả lương không đúng với sức lao động nhiều hơn nam giới. Chính điều này tác động đến mức tổng thu nhập của nữ giới và việc đóng thuế thu nhập của họ.

Thuế thu nhập cá nhân là thuế được tính trên thu nhập của các cá nhân từ tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác sau khi đã tính các khoản được giảm trừ. Nhìn một cách tổng quan, thuế thu nhập cá nhân tương đối bình đẳng giữa nam và nữ khi bất kể tình trạng hôn nhân hay cơ cấu gia đình, mỗi người có làm ra tiền đều có trách nhiệm khai thuế dựa trên thu nhập của họ và hệ thống này bảo đảm rằng số tiền chịu thuế của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình được tách biệt và thu nhập tính thuế cộng dồn cho nhau.

Tuy nhiên, ngay cả với mục đích bảo đảm khả năng đóng thuế, việc giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc vẫn có thể vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới. Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam có quy định về khấu trừ phụ thuộc cho từng người phụ thuộc cụ thể, bao gồm: Trẻ em, thành viên cao tuổi trong gia đình, vợ hoặc chồng phụ thuộc tài chính và các cá nhân có đủ các điều kiện khác. Có hai trường hợp khấu trừ thuế có thể vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới: (i) Trường hợp cá nhân mất khả năng lao động, có thể coi là người tàn tật tham gia các công việc có lương thì vợ hoặc chồng được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng là vợ hoặc chồng theo diện người phụ thuộc. Khoản khấu trừ phụ thuộc này có thể khuyến khích những người mất khả năng lao động bỏ các công việc được trả lương của họ. (ii) Khi cả hai vợ chồng đều có thu nhập, việc áp dụng giảm trừ gia cảnh vẫn có thể gây bất lợi về giới, bởi vì, chỉ được áp dụng một trường hợp giảm trừ cho một người và người được áp dụng thường là người có thu nhập cao hơn - phần lớn khả năng là người chồng.

Cả hai trường hợp nêu trên đều có tác động tiêu cực đến bình đẳng giới đối với phụ nữ thực hiện các công việc có thu nhập tính thuế theo cách khác nhau. Như phân tích ở trên, việc áp dụng giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc như hiện nay sẽ gây phân biệt đối xử với phụ nữ khi họ phải “nhường” giảm trừ cho chồng - người có thu nhập cao hơn. Ngay cả khi vợ và chồng có thu nhập tương đương nhau, việc chỉ một người được áp dụng giảm trừ cũng tạo ra bất lợi cho người vợ hơn. Theo thống kê năm 2016 về các công việc không được trả lương theo giới tại Việt Nam, trung bình người phụ nữ phải dành 314 phút mỗi ngày để làm các công việc nhà, còn nam giới chỉ là 190 phút[6]. Như vậy, ngoài khối lượng thời gian lao động tạo ra thu nhập như nhau, người vợ phải dành thêm một khối lượng thời gian gần gấp đôi người chồng để thực hiện các công việc không được trả lương như chăm sóc nhà cửa, con cái… và người vợ vẫn phải chịu thuế thu nhập cá nhân giống chồng, thậm chí là nhiều hơn khi gặp bất bình đẳng giới trong việc áp dụng giảm trừ cho người phụ thuộc.

Nhìn chung, việc giảm thuế suất chung đối với thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp có thể gây ra tác động tiêu cực đối với phụ nữ. Điều này xảy ra khi đối tượng (doanh nghiệp và cá nhân) có thu nhập cao nhưng nộp thuế theo tỷ lệ thấp hơn những người có thu nhập thấp hơn, bởi vì phụ nữ nhìn chung có xu hướng thu nhập thấp và ít hơn nam giới nên việc giảm thuế suất như vậy sẽ có tác động tiêu cực tới phụ nữ nhiều hơn nam giới. Có thể thấy, mức độ bất bình đẳng thu nhập nói chung tăng lên, bất bình đẳng giới trong thu nhập sau thuế cũng tăng lên.

Tuy nhiên, nếu chỉ sửa đổi hệ thống thuế trong nước và quốc tế sẽ không thể xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Các quy định pháp luật, vấn đề thực thi pháp luật và chính sách cần phải được xem xét kỹ lưỡng trong mối liên hệ với bất bình đẳng giới, đồng thời, tất cả các luật thuế, ưu đãi thuế và chi tiêu trực tiếp cũng cần được kiểm tra, xem xét tác động của chúng tới vấn đề bất bình đẳng giới đang diễn ra hiện nay.

3. Một số đề xuất nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật về thuế

Để các quy định pháp luật về thuế của Việt Nam đóng góp được nhiều hơn cho bình đẳng giới và xóa bỏ khoảng cách giới trong thuế, có thể áp dụng một số biện pháp sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần có các biện pháp thu ngân sách thông qua các biện pháp thuế công bằng và tiến bộ, từ đó, có nhiều nguồn lực tài chính hơn để giải quyết bất bình đẳng giới, giúp phân phối lại thu nhập với những công việc không được trả công, phân bổ chi tiêu công hợp lý để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, cung cấp nguồn nhân lực kinh tế, giáo dục, nhân lực cho thị trường và kéo gần khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ. Các mục tiêu bình đẳng giới sẽ đạt được hiệu quả hơn khi chính sách về thuế và chi ngân sách nhà nước được kết hợp để thúc đẩy và đóng góp vào mục tiêu tổng thể về bình đẳng giới thực chất.

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng cần nghiên cứu, phân tích sâu hơn tác động của pháp luật về thuế đến bình đẳng giới cả trên thực tế và lý luận, từ đó, có thể sửa đổi, bổ sung và đưa ra những quy định về thuế phù hợp hơn cho mục tiêu bình đẳng giới của quốc gia.

Thứ hai, giảm bớt quy định pháp luật như miễn thuế và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ và sử dụng lao động thiểu số. Loại bỏ những ưu đãi này sẽ làm cho chính sách thuế đơn giản hơn và giúp giảm bớt việc lợi dụng hành vi trốn thuế. Tất nhiên, với việc thực hiện đề xuất này, cũng cần chuyển việc thực hiện các chính sách ưu đãi thuế sang các hoạt động khác của Nhà nước, như tăng cường tín dụng cho các đối tượng này… Hoặc nếu vẫn áp dụng các quy định pháp luật thuế trong ưu đãi với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì nên giảm bớt các thủ tục hành chính và mở rộng các nhóm đối tượng ngành nghề được hưởng.

Thứ ba, đối với thuế thu nhập cá nhân, việc giảm trừ thuế cho đối tượng phụ thuộc có thể góp phần bình đẳng giới hơn trong các trường hợp: (i) Khuyến khích áp dụng giảm trừ gia cảnh cho người vợ hoặc chồng có thu nhập thấp hơn nếu có thể, từ đó, tạo động lực cho họ tham gia các công việc được trả lương nhiều hơn. (ii) Đưa ra quy định pháp luật về khoản giảm trừ thuế có thể hoàn lại như nhau cho hai vợ chồng, từ đó sẽ giảm áp lực cho người có thu nhập thấp, hạn chế họ nghỉ các công việc có mức lương thấp để làm các công việc không được trả lương (dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái…). Bên cạnh đó, cho phép mỗi người được tính giảm trừ gia cảnh với tỷ lệ phù hợp với hoàn cảnh gia đình hơn.

ThS. Hoàng Thị Hải Yến
Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam



[1]. https://luatminhkhue.vn/thue-la-gi-quy-dinh-phap-luat-ve-thue.aspx, truy cập ngày 11/02/2022.

[2]. https://luatminhkhue.vn/thue-la-gi-quy-dinh-phap-luat-ve-thue.aspx, truy cập ngày 11/02/2022.

[3]. http://laodongxahoi.net/binh-dang-gioi-vua-la-muc-tieu-vua-la-dong-luc-cua-phat-trien-1311474.html, truy cập ngày 11/02/2022.

[4]. UN Women, Bình đẳng giới và thuế ở Việt Nam: Các vấn đề đặt ra và khuyến nghị, năm 2016.

[5]. http://laodongxahoi.net/phan-biet-nam-nu-trong-tuyen-dung-lao-dong-rao-can-trong-tien-trinh-binh-dang-gioi-1310946.html, truy cập ngày 11/02/2022.

[6]. Actionaid Việt Nam, Công việc chăm sóc không lương tái phân bổ để phát triển bền vững, năm 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: