Thứ ba 10/03/2026 23:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bàn về các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1. Dẫn nhập

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số vấn đề về định tội và quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ công tác giải quyết, xét xử án hình sự tại các Tòa án.

2. Một số vấn đề về định tội danh

Thứ nhất, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP giải thích: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: Hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: Cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ...)”. Thực tiễn xét xử cho thấy hướng dẫn trên đã bao quát gần hết các hành vi biểu hiện ra bên ngoài liên quan đến tội phạm xâm hại tình dục nói chung, xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi nói riêng. Tuy nhiên, việc đối tượng dùng chất kích thích hoặc biện pháp kích dục khác khiến người dưới 16 tuổi không làm chủ bản thân, chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục lại không thuộc trường hợp hướng dẫn trên, trở thành vướng mắc trong việc xác định tội danh. Bởi lẽ, hoàn toàn không có cơ sở để cho rằng người phạm tội đã “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ” người dưới 16 tuổi khi mà người bị hại bị người phạm tội sử dụng hoặc hướng dẫn, ép buộc sử dụng chất kích dục, biện pháp kích dục, khiến bị hại chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục. Mặt khác, tình trạng sử dụng ma túy trong các hoạt động nhóm của học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và phim, ảnh, thuốc, phương tiện, biện pháp kích dục trong đời sống hiện nay đa dạng, chưa được kiểm soát tốt, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi dưới hình thức làm cho người bị hại tự nguyện, chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục. Do vậy, vấn đề tác giả đặt ra là cấp thiết, cần được quan tâm, xem xét, hướng dẫn kịp thời.

Thứ hai, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP giải thích: “Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây: a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác; b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác”. Thực tiễn phát sinh các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Một người dùng bộ phận khác trên cơ thể (miệng, lưỡi, tay, chân…) xâm nhập vào bộ phận sinh dục nam của người khác để thỏa mãn dục vọng của người đó. Ví dụ: A là nam thanh niên khống chế B và C (nam, dưới 16 tuổi), buộc B, C cởi quần và A tự dùng miệng xâm nhập vào bộ phận sinh dục của B và C khiến B và C xuất tinh. Rõ ràng hành vi này nguy hiểm và gây hậu quả nặng hơn so với việc A dùng ngón tay, chân, lưỡi xâm nhập vào hậu môn của B và C. Thế nhưng hành vi này chỉ được xử lý về Tội dâm ô theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP. Trong khi đó, đối tượng thực hiện hành vi tương tự vào hậu môn của bị hại sẽ bị xác định là “hành vi quan hệ tình dục khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trường hợp 2: Người phạm tội là nam đủ 18 tuổi, ép buộc người bị hại là nam dưới 16 tuổi đưa bộ phận sinh dục bị hại vào hậu môn của người phạm tội để họ thỏa mãn dục vọng. Có quan điểm cho rằng hành vi này thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP, nhưng đa số các quan điểm khác thì cho rằng trường hợp này không thỏa mãn hướng dẫn tại các điểm a, b khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết 06/2019, bởi đối tượng không đưa bộ phận sinh dục của mình vào hậu môn người khác mà ngược lại họ ép buộc người khác đưa bộ phận sinh dục vào hậu môn của mình.

Từ những vướng mắc trên, tác giả đề xuất bổ sung hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP, có thể cân nhắc theo các hướng:

- Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP về nội dung: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ, kích thích người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục…”.

- Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP về nội dung: “Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây: a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác hoặc đưa bộ phận sinh dục nam của người khác xâm nhập vào miệng, hậu môn của mình; b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục, hậu môn của người khác”.

3. Một số vấn đề về quyết định hình phạt

3.1. Một số vấn đề về tình tiết định khung hình phạt

Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP hướng dẫn một số tình tiết định khung liên quan đến các tội phạm xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và các hướng dẫn này đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác xét xử loại tội phạm này. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử phát sinh các vấn đề sau:

Thứ nhất, về tình tiết “đối với 02 người trở lên”: Thực tiễn xét xử chưa có nhận thức và quyết định thống nhất về việc xác định phạm vi số lượng người bị hại theo tình tiết này trong toàn bộ quá trình diễn biến của tội phạm. Bởi lẽ, tình huống thực tiễn cho thấy, có trường hợp trong cùng một khoảng thời gian, tại một địa điểm, bị cáo vừa xâm hại bị hại này xong thì liền tiếp xâm hại bị hại khác; có tình huống bị cáo xâm hại bị hại này xong, sau đó một thời gian ngắn thì tiếp tục xâm hại bị hại khác; cũng có tình huống trong cùng một khoảng thời gian, một địa điểm, bị cáo đồng thời thực hiện hành vi phạm tội xâm hại tình dục đối với nhiều người. Nghị quyết số 06/2019/HĐTP chưa hướng dẫn tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”. Hiện nay, một số Tòa án vận dụng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết “đối với 02 người trở lên” về các tội phạm khác (các tội phạm về ma túy…) để áp dụng tình tiết định khung hình phạt này, tuy nhiên cách làm này cần được hướng dẫn thống nhất.

Thứ hai, về tình tiết định khung “làm nạn nhân có thai”: Thực tiễn việc nạn nhân có thai xảy ra sau thời điểm phạm tội, nhưng có thể thai nhi không còn hoặc đã sinh con tại thời điểm phát hiện, xử lý hành vi phạm tội. Do vậy, việc cơ quan tố tụng chứng minh bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung này khi mà thai nhi không còn hoặc bị hại đã sinh con gặp phải khó khăn và phát sinh cách hiểu không thống nhất.

Trường hợp bị hại khai đã có thai nhưng không giữ được nên tại thời điểm phát hiện, xử lý hành vi phạm tội không thu thập được chứng cứ khoa học (kết quả giám định ADN) để chứng minh, nên việc truy cứu trách nhiệm của người phạm tội chỉ dựa trên lời khai của các bên là không bảo đảm tính ổn định và tính an toàn của kết quả xét xử. Bởi lẽ, thông thường trong những vụ án này bị hại và bị cáo dễ thay đổi lời khai theo hướng “hòa giải”, có lợi cho bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác, rất nhiều vụ án xảy ra do người phạm tội và bị hại đều thuộc người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế, tập tục liên quan đến thai nhi chết còn lạc hậu, do vậy, việc thu thập chứng cứ chứng minh hết sức khó khăn.

Trường hợp bị hại đã sinh con thì cơ quan tiến hành tố tụng đang xử lý theo hướng là “làm cho nạn nhân có thai thì mới có điều kiện để sinh con”, nên đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung này. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho rằng có thai là một việc, sinh con là một việc. Mặt khác, thực tiễn xét xử phát sinh trường hợp bị hại không hợp tác, ngăn cản cơ quan có thẩm quyền lấy mẫu AND của đứa trẻ đi giám định dẫn đến không có cơ sở khoa học để kết luận đứa trẻ là con của người phạm tội do hành vi phạm tội gây ra.

Thứ ba, về tình tiết định khung “gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc 61% trở lên”. Thực tiễn phát sinh các vướng mắc sau:

Trường hợp có 02 bị hại trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người đều dưới 31% nhưng tổng tổn thương cơ thể của tất cả các bị hại từ 31% đến 60% thì có áp dụng tình tiết định khung này không? Hay chỉ áp dụng 01 tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”?.

Trường hợp có 02 bị hại trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người đều từ 31% đến 60%, nhưng tổng tổn thương cơ thể của tất cả các bị hại trên 61% thì có áp dụng tình tiết định khung này không?.

Từ những vướng mắc trên, tác giả đề xuất bổ sung hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP. Có thể cân nhắc các theo hướng:

- Tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên” được hiểu là: Trong một lần phạm tội, người phạm tội đã hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với từ 02 người trở lên hoặc sử dụng 02 người dưới 16 tuổi trở lên vào mục đích khiêu dâm.

- Tòa án áp dụng tình tiết định khung hình phạt “làm nạn nhân có thai” khi có chứng cứ khoa học (kết quả giám định AND) xác định mối quan hệ huyết thống giữa bị cáo và thai nhi hoặc con sinh ra từ hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại. Trong trường hợp không có, không thu thập được chứng cứ khoa học (kết quả giám định AND) xác định về mối quan hệ huyết thống giữa bị cáo và thai nhi hoặc con sinh ra từ hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại thì Tòa án không áp dụng tình tiết định khung này.

- Được xem là phạm tội theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 141; điểm c khoản 2 Điều 142; điểm e khoản 2 Điều 143; điểm c khoản 2 Điều 144; điểm đ khoản 2 các Điều 145, Điều 146; điểm e khoản 2 Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi một lần phạm tội đối với 02 bị hại trở lên và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi bị hại đều dưới 31% nhưng tổng tổn thương cơ thể của các bị hại từ 31% đến 60%. Được xem là phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 3 các Điều 141, Điều 143, Điều 145, Điều 146, Điều 147; điểm d khoản 3 Điều 142; điểm b khoản 3 Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi một lần phạm tội đối với 02 bị hại trở lên và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi bị hại đều từ 31% đến 60% nhưng tổng tổn thương cơ thể của các bị hại từ 61% trở lên.

3.2. Một số vấn đề về quyết định loại, mức hình phạt

Thứ nhất, áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 141; khoản 4 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 phát sinh vướng mắc trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có nhiều người bị hại, trong đó có bị hại thuộc độ tuổi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có bị hại thuộc độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, tạo nên nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau của Tòa án khi quyết định hình phạt.

Ví dụ: Bị cáo A bị truy tố về tội hiếp dâm với tình tiết định khung là phạm tội đối với 02 người trở lên, trong đó có 01 bị hại 17 tuổi và 01 bị hại 19 tuổi. Trường hợp này, khi có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 141; khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phát sinh hai cách hiểu, cách làm khác nhau: (i) Cách 1 là quyết định hình phạt của bị cáo theo khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 141 (từ 02 năm tù đến 07 năm tù), khoản 1 Điều 143 (từ 01 năm tù đến 05 năm tù); (ii) Cách hai là quyết định hình phạt của bị cáo theo khung hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 141 (từ 05 tù năm đến 10 năm tù), khoản 4 Điều 143 (từ 02 năm tù đến 07 năm tù).

Thứ hai, trong một số trường hợp cụ thể, bị hại đã sinh con và sau đó bị cáo, gia đình bị cáo cung cấp tiền để bị hại sinh con, nuôi dưỡng con. Khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo thì tình tiết “chu cấp tiền để sinh con, nuôi dưỡng con” có được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không? Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này nên thực tiễn xét xử có nhiều cách áp dụng pháp luật khác nhau, một số địa phương chấp nhận tình tiết này theo điểm b khoản 1 Điều 51 và khi đủ điều kiện thì áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt của bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, nhưng cũng có một số địa phương áp dụng tình tiết này thuộc khoản 2 Điều 51 và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo.

Từ những vướng mắc trên, theo tác giả cần xem xét, bổ sung Nghị quyết số 06/2019/HĐTP theo hướng sau:

- Khi xét xử bị cáo phạm tội tại các Điều 141, Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 và vụ án có nhiều bị hại, có bị hại từ đủ 18 tuổi trở lên, có bị hại từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong trường hợp đủ điều kiện để áp dụng các khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án được quyết định hình phạt như trong trường hợp các bị hại là người đủ 18 tuổi; trường hợp các bị hại đều từ đủ 16 tuổi, đến dưới 18 tuổi thì Tòa án phải quyết định hình phạt theo mức hình phạt được quy định tại khoản 4 các Điều 141, Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Bị cáo nộp tiền hoặc tác động gia đình nộp tiền phục vụ việc sinh con, nuôi con sau khi thực hiện hành vi phạm tội khiến bị hại sinh con thì Tòa án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

ThS. Nguyễn Văn Dũng

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: