Thứ tư 26/08/2026 01:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bàn về các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1. Dẫn nhập

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số vấn đề về định tội và quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ công tác giải quyết, xét xử án hình sự tại các Tòa án.

2. Một số vấn đề về định tội danh

Thứ nhất, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP giải thích: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: Hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: Cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ...)”. Thực tiễn xét xử cho thấy hướng dẫn trên đã bao quát gần hết các hành vi biểu hiện ra bên ngoài liên quan đến tội phạm xâm hại tình dục nói chung, xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi nói riêng. Tuy nhiên, việc đối tượng dùng chất kích thích hoặc biện pháp kích dục khác khiến người dưới 16 tuổi không làm chủ bản thân, chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục lại không thuộc trường hợp hướng dẫn trên, trở thành vướng mắc trong việc xác định tội danh. Bởi lẽ, hoàn toàn không có cơ sở để cho rằng người phạm tội đã “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ” người dưới 16 tuổi khi mà người bị hại bị người phạm tội sử dụng hoặc hướng dẫn, ép buộc sử dụng chất kích dục, biện pháp kích dục, khiến bị hại chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục. Mặt khác, tình trạng sử dụng ma túy trong các hoạt động nhóm của học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và phim, ảnh, thuốc, phương tiện, biện pháp kích dục trong đời sống hiện nay đa dạng, chưa được kiểm soát tốt, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi dưới hình thức làm cho người bị hại tự nguyện, chủ động tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục. Do vậy, vấn đề tác giả đặt ra là cấp thiết, cần được quan tâm, xem xét, hướng dẫn kịp thời.

Thứ hai, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP giải thích: “Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây: a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác; b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác”. Thực tiễn phát sinh các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Một người dùng bộ phận khác trên cơ thể (miệng, lưỡi, tay, chân…) xâm nhập vào bộ phận sinh dục nam của người khác để thỏa mãn dục vọng của người đó. Ví dụ: A là nam thanh niên khống chế B và C (nam, dưới 16 tuổi), buộc B, C cởi quần và A tự dùng miệng xâm nhập vào bộ phận sinh dục của B và C khiến B và C xuất tinh. Rõ ràng hành vi này nguy hiểm và gây hậu quả nặng hơn so với việc A dùng ngón tay, chân, lưỡi xâm nhập vào hậu môn của B và C. Thế nhưng hành vi này chỉ được xử lý về Tội dâm ô theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP. Trong khi đó, đối tượng thực hiện hành vi tương tự vào hậu môn của bị hại sẽ bị xác định là “hành vi quan hệ tình dục khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trường hợp 2: Người phạm tội là nam đủ 18 tuổi, ép buộc người bị hại là nam dưới 16 tuổi đưa bộ phận sinh dục bị hại vào hậu môn của người phạm tội để họ thỏa mãn dục vọng. Có quan điểm cho rằng hành vi này thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP, nhưng đa số các quan điểm khác thì cho rằng trường hợp này không thỏa mãn hướng dẫn tại các điểm a, b khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết 06/2019, bởi đối tượng không đưa bộ phận sinh dục của mình vào hậu môn người khác mà ngược lại họ ép buộc người khác đưa bộ phận sinh dục vào hậu môn của mình.

Từ những vướng mắc trên, tác giả đề xuất bổ sung hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP, có thể cân nhắc theo các hướng:

- Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP về nội dung: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ, kích thích người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục…”.

- Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP về nội dung: “Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây: a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác hoặc đưa bộ phận sinh dục nam của người khác xâm nhập vào miệng, hậu môn của mình; b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục, hậu môn của người khác”.

3. Một số vấn đề về quyết định hình phạt

3.1. Một số vấn đề về tình tiết định khung hình phạt

Điều 4 Nghị quyết số 06/2019/HĐTP hướng dẫn một số tình tiết định khung liên quan đến các tội phạm xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và các hướng dẫn này đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác xét xử loại tội phạm này. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử phát sinh các vấn đề sau:

Thứ nhất, về tình tiết “đối với 02 người trở lên”: Thực tiễn xét xử chưa có nhận thức và quyết định thống nhất về việc xác định phạm vi số lượng người bị hại theo tình tiết này trong toàn bộ quá trình diễn biến của tội phạm. Bởi lẽ, tình huống thực tiễn cho thấy, có trường hợp trong cùng một khoảng thời gian, tại một địa điểm, bị cáo vừa xâm hại bị hại này xong thì liền tiếp xâm hại bị hại khác; có tình huống bị cáo xâm hại bị hại này xong, sau đó một thời gian ngắn thì tiếp tục xâm hại bị hại khác; cũng có tình huống trong cùng một khoảng thời gian, một địa điểm, bị cáo đồng thời thực hiện hành vi phạm tội xâm hại tình dục đối với nhiều người. Nghị quyết số 06/2019/HĐTP chưa hướng dẫn tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”. Hiện nay, một số Tòa án vận dụng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết “đối với 02 người trở lên” về các tội phạm khác (các tội phạm về ma túy…) để áp dụng tình tiết định khung hình phạt này, tuy nhiên cách làm này cần được hướng dẫn thống nhất.

Thứ hai, về tình tiết định khung “làm nạn nhân có thai”: Thực tiễn việc nạn nhân có thai xảy ra sau thời điểm phạm tội, nhưng có thể thai nhi không còn hoặc đã sinh con tại thời điểm phát hiện, xử lý hành vi phạm tội. Do vậy, việc cơ quan tố tụng chứng minh bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung này khi mà thai nhi không còn hoặc bị hại đã sinh con gặp phải khó khăn và phát sinh cách hiểu không thống nhất.

Trường hợp bị hại khai đã có thai nhưng không giữ được nên tại thời điểm phát hiện, xử lý hành vi phạm tội không thu thập được chứng cứ khoa học (kết quả giám định ADN) để chứng minh, nên việc truy cứu trách nhiệm của người phạm tội chỉ dựa trên lời khai của các bên là không bảo đảm tính ổn định và tính an toàn của kết quả xét xử. Bởi lẽ, thông thường trong những vụ án này bị hại và bị cáo dễ thay đổi lời khai theo hướng “hòa giải”, có lợi cho bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác, rất nhiều vụ án xảy ra do người phạm tội và bị hại đều thuộc người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế, tập tục liên quan đến thai nhi chết còn lạc hậu, do vậy, việc thu thập chứng cứ chứng minh hết sức khó khăn.

Trường hợp bị hại đã sinh con thì cơ quan tiến hành tố tụng đang xử lý theo hướng là “làm cho nạn nhân có thai thì mới có điều kiện để sinh con”, nên đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung này. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho rằng có thai là một việc, sinh con là một việc. Mặt khác, thực tiễn xét xử phát sinh trường hợp bị hại không hợp tác, ngăn cản cơ quan có thẩm quyền lấy mẫu AND của đứa trẻ đi giám định dẫn đến không có cơ sở khoa học để kết luận đứa trẻ là con của người phạm tội do hành vi phạm tội gây ra.

Thứ ba, về tình tiết định khung “gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc 61% trở lên”. Thực tiễn phát sinh các vướng mắc sau:

Trường hợp có 02 bị hại trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người đều dưới 31% nhưng tổng tổn thương cơ thể của tất cả các bị hại từ 31% đến 60% thì có áp dụng tình tiết định khung này không? Hay chỉ áp dụng 01 tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”?.

Trường hợp có 02 bị hại trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người đều từ 31% đến 60%, nhưng tổng tổn thương cơ thể của tất cả các bị hại trên 61% thì có áp dụng tình tiết định khung này không?.

Từ những vướng mắc trên, tác giả đề xuất bổ sung hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/HĐTP. Có thể cân nhắc các theo hướng:

- Tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên” được hiểu là: Trong một lần phạm tội, người phạm tội đã hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với từ 02 người trở lên hoặc sử dụng 02 người dưới 16 tuổi trở lên vào mục đích khiêu dâm.

- Tòa án áp dụng tình tiết định khung hình phạt “làm nạn nhân có thai” khi có chứng cứ khoa học (kết quả giám định AND) xác định mối quan hệ huyết thống giữa bị cáo và thai nhi hoặc con sinh ra từ hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại. Trong trường hợp không có, không thu thập được chứng cứ khoa học (kết quả giám định AND) xác định về mối quan hệ huyết thống giữa bị cáo và thai nhi hoặc con sinh ra từ hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại thì Tòa án không áp dụng tình tiết định khung này.

- Được xem là phạm tội theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 141; điểm c khoản 2 Điều 142; điểm e khoản 2 Điều 143; điểm c khoản 2 Điều 144; điểm đ khoản 2 các Điều 145, Điều 146; điểm e khoản 2 Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi một lần phạm tội đối với 02 bị hại trở lên và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi bị hại đều dưới 31% nhưng tổng tổn thương cơ thể của các bị hại từ 31% đến 60%. Được xem là phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 3 các Điều 141, Điều 143, Điều 145, Điều 146, Điều 147; điểm d khoản 3 Điều 142; điểm b khoản 3 Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi một lần phạm tội đối với 02 bị hại trở lên và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi bị hại đều từ 31% đến 60% nhưng tổng tổn thương cơ thể của các bị hại từ 61% trở lên.

3.2. Một số vấn đề về quyết định loại, mức hình phạt

Thứ nhất, áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 141; khoản 4 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 phát sinh vướng mắc trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có nhiều người bị hại, trong đó có bị hại thuộc độ tuổi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có bị hại thuộc độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, tạo nên nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau của Tòa án khi quyết định hình phạt.

Ví dụ: Bị cáo A bị truy tố về tội hiếp dâm với tình tiết định khung là phạm tội đối với 02 người trở lên, trong đó có 01 bị hại 17 tuổi và 01 bị hại 19 tuổi. Trường hợp này, khi có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 141; khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phát sinh hai cách hiểu, cách làm khác nhau: (i) Cách 1 là quyết định hình phạt của bị cáo theo khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 141 (từ 02 năm tù đến 07 năm tù), khoản 1 Điều 143 (từ 01 năm tù đến 05 năm tù); (ii) Cách hai là quyết định hình phạt của bị cáo theo khung hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 141 (từ 05 tù năm đến 10 năm tù), khoản 4 Điều 143 (từ 02 năm tù đến 07 năm tù).

Thứ hai, trong một số trường hợp cụ thể, bị hại đã sinh con và sau đó bị cáo, gia đình bị cáo cung cấp tiền để bị hại sinh con, nuôi dưỡng con. Khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo thì tình tiết “chu cấp tiền để sinh con, nuôi dưỡng con” có được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không? Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này nên thực tiễn xét xử có nhiều cách áp dụng pháp luật khác nhau, một số địa phương chấp nhận tình tiết này theo điểm b khoản 1 Điều 51 và khi đủ điều kiện thì áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt của bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, nhưng cũng có một số địa phương áp dụng tình tiết này thuộc khoản 2 Điều 51 và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo.

Từ những vướng mắc trên, theo tác giả cần xem xét, bổ sung Nghị quyết số 06/2019/HĐTP theo hướng sau:

- Khi xét xử bị cáo phạm tội tại các Điều 141, Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 và vụ án có nhiều bị hại, có bị hại từ đủ 18 tuổi trở lên, có bị hại từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong trường hợp đủ điều kiện để áp dụng các khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án được quyết định hình phạt như trong trường hợp các bị hại là người đủ 18 tuổi; trường hợp các bị hại đều từ đủ 16 tuổi, đến dưới 18 tuổi thì Tòa án phải quyết định hình phạt theo mức hình phạt được quy định tại khoản 4 các Điều 141, Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Bị cáo nộp tiền hoặc tác động gia đình nộp tiền phục vụ việc sinh con, nuôi con sau khi thực hiện hành vi phạm tội khiến bị hại sinh con thì Tòa án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

ThS. Nguyễn Văn Dũng

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: