Thứ tư 23/09/2026 00:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua việc phân tích và bình luận một vụ án cụ thể

Bàn về căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua việc phân tích và bình luận một vụ án cụ thể

Bài viết tập trung phân tích hai căn cứ của việc xác lập quyền sở hữu, bao gồm xác lập quyền sở hữu thông qua việc chuyển quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu thông qua việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật trên cơ sở bình luận một vụ án cụ thể, từ đó, đưa ra một số kiến nghị liên quan đến vấn đề này.

Trong đời sống xã hội, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là một tranh chấp khá phổ biến. Trong đó, các bên tranh chấp phải có căn cứ để chứng minh tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhiều căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản. Song thực tế cho thấy, có những trường hợp mà bên nguyên đơn chứng minh được họ có quyền sở hữu theo căn cứ được chuyển quyền sở hữu, còn bị đơn thì chứng minh được họ đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Trong những trường hợp này, Tòa án phải công nhận quyền sở hữu của bên nào thì pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng và cũng chưa có án lệ hay hướng dẫn của Tòa án. Bài viết này làm rõ hơn vấn đề này thông qua việc phân tích, bình luận một vụ án cụ thể.

1. Quy định về xác lập quyền sở hữu do nhận quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu

1.1. Xác lập quyền sở hữu do chuyển quyền sở hữu

Khoản 2 Điều 221 và Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó. Để xác lập quyền sở hữu trong trường hợp này, các hợp đồng chuyển quyền sở hữu nói chung phải đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực pháp luật, bao gồm: (i) Các bên chủ thể phải có năng lực hành vi; (ii) Chủ thể xác lập giao dịch chuyển quyền đối với tài sản phải hoàn toàn tự nguyện; (iii) Nội dung, mục đích của giao dịch chuyển quyền sở hữu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (iv) Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải đáp ứng điều kiện về mặt hình thức và thủ tục thì giao dịch chuyển nhượng phải đáp ứng đủ hình thức và thủ tục đó. Các giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu có hiệu lực pháp luật làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng và phát sinh quyền sở hữu cho bên nhận chuyển nhượng.

1.2. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do được lợi không có căn cứ pháp luật là một căn cứ xác lập quyền sở hữu, theo đó, chủ thể có được quyền sở hữu sau một thời hạn chiếm hữu theo quy định của pháp luật. Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Từ quy định này, có thể hiểu rằng, chủ thể có thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu nếu đáp ứng đủ các điều kiện gồm: (i) Chiếm hữu ngay tình (Điều 180 Bộ luật Dân sự năm 2015); (ii) Chiếm hữu liên tục (Điều 182 Bộ luật Dân sự năm 2015); (iii) Chiếm hữu công khai - nghĩa là “việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu diếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình”; công khai ở đây cần được hiểu là về mặt khách quan, người chiếm hữu có những hành vi quản lý, sử dụng tài sản, khẳng định quyền của mình ở mức độ bất kỳ ai quan tâm đến tài sản và chủ sở hữu tài sản đều có thể biết được quyền của chủ thể đối với tài sản.

2. Nội dung vụ án và một số vấn đề pháp lý cần trao đổi

2.1. Nội dung vụ án

Bản án số 577/2020/DS-PT ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố H có nội dung tóm tắt như sau:

Nguồn gốc nhà đất tại số 222 Võ Văn K (số cũ 156 Bến Chương D), phường L, quận 1, Thành phố H là tài sản của ông Đ và bà N mua của bà Đo năm 1969 tại Phòng Chưởng Khế SG và trước bạ ngày 11/7/1969. Ông Đ chết năm 1979. Sau khi ông Đ chết, vợ ông là bà N cùng tất cả các con sang Mỹ định cư. Căn nhà trên do bà Th (là mẹ ruột của bà N, ông B1 và ông B2) quản lý, sử dụng. Các chứng cứ của vụ án không thể hiện rõ giữa bà N và bà Th có việc chuyển nhượng nhà, bà N cho bà Th ở nhờ hay bà N nhờ bà Th trông coi nhà cửa.

Năm 1997, bà N chết không để lại di chúc. Ngày 06/9/2014, các con của ông Đ và bà N gồm: Ông M, bà T, ông Th, bà A đều sinh sống tại Mỹ đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với căn nhà này tại Văn phòng công chứng B theo Văn bản khai nhận di sản thừa kế số công chứng 11752, quyển số 9 năm 2014. Sau đó, các ông bà trên ký Hợp đồng mua bán nhà, số công chứng là 02584 ngày 13/4/2017 tại Văn phòng công chứng H, chuyển nhượng nhà đất trên cho ông C. Giá chuyển nhượng là 8.000.000.000 đồng. Ông C đã giao đủ tiền cho bên bán nhưng ông B1, ông B2 không giao trả căn nhà cho ông C vì cho rằng, căn nhà nói trên là của bà Th để lại cho họ và họ chính là chủ sở hữu ngôi nhà. Hai bên xảy ra tranh chấp nên ông C khởi kiện B1, B2 ra Tòa án để đòi quyền sở hữu đối với căn nhà.

Về phía nguyên đơn, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho nguyên đơn dựa trên các tài liệu chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của nguyên đơn.

Về phía bị đơn, gồm B1 và B2 có yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu cho bị đơn dựa vào Giấy nhượng quyền nhà ngày 05/7/1979 được cho là do bà N lập và việc chiếm hữu, sử dụng thực tế, ổn định, công khai và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước từ đó đến khi tranh chấp.

Kết quả giải quyết vụ án như sau:

- Kết quả xét xử sơ thẩm: Tòa án xác định nhà đất số 222 Võ Văn K là di sản thừa kế do ông Đ bà N để lại, những người thừa kế của ông Đ bà N được quyền hưởng di sản thừa kế này. Do những người thừa kế của ông Đ bà N đều ở nước ngoài nên họ được quyền đứng một bên của hợp đồng để chuyển nhượng nhà ở này cho người khác; người nhận chuyển nhượng nhà từ những người thừa kế của ông Đ, bà N được sở hữu căn nhà hợp pháp, có căn cứ; buộc ông B1, ông B2 và những người đang sinh sống tại nhà đất nói trên phải có trách nhiệm giao trả nhà đất cho bên có quyền là ông C. Bị đơn đã kháng cáo bản án sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

- Kết quả xét xử phúc thẩm: Tòa án bác đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Một số vấn đề pháp lý cần trao đổi

Đây là một bản án điển hình cho tình huống tranh chấp quyền sở hữu giữa chủ sở hữu nhà ở và người chiếm hữu tài sản. Trong tranh chấp này, Tòa án phải xác định được quyền sở hữu nhà ở thuộc về bên nào. Phía nguyên đơn yêu cầu xác lập quyền sở hữu dựa vào các bằng chứng xác lập quyền sở hữu do nhận chuyển nhượng tài sản. Còn phía bị đơn, ban đầu yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu của mình dựa trên bằng chứng của việc chuyển nhượng quyền sở hữu, cuối cùng lại yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu dựa vào thực trạng chiếm hữu. Từ nội dung vụ án, có một số vấn đề pháp lý đặt ra về: (i) Tính khách quan, toàn diện trong việc đánh giá chứng cứ vụ án; (ii) Cơ sở pháp lý của việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn.

Thứ nhất, xét về tính khách quan, toàn diện trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ.

Trong vụ án này, Tòa án đã thu thập và kiểm tra đầy đủ các loại chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của nguyên đơn là ông C để kết luận nhà tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông C.

Theo quan điểm của tác giả, trong vụ án này, điểm chưa thuyết phục của vụ án là Hội đồng xét xử không thu thập chứng cứ và đánh giá điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật dù người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có yêu cầu. Điều này dẫn đến phán quyết của Tòa án là thiếu tính thuyết phục. Bị đơn dù không đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo chuyển nhượng nhưng chiếm hữu ngay tình, công khai, liên tục trong 37 năm là đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015). Để phán quyết của Tòa án được toàn diện và thuyết phục hơn, Tòa án cần phải xem xét các điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật của bị đơn bao gồm: (i) Hành vi khách quan và ý chí của bị đơn khi chiếm hữu tài sản; (ii) Chiếm hữu ngay tình; (iii) Chiếm hữu liên tục; (iv) Chiếm hữu công khai; (iv) Thời hiệu chiếm hữu. Trong vụ án này, cả hai bên chủ thể yêu cầu xác lập quyền sở hữu theo hai căn cứ khác nhau, mỗi căn cứ có những điều kiện xác lập quyền sở hữu riêng. Dù nguyên đơn có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo giấy tờ pháp lý nhưng bị đơn cũng có thể có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu. Cả về lý luận pháp luật và luật thực định đều cho rằng, hậu quả của việc thừa nhận căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu. Nếu bị đơn có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì quyền sở hữu của nguyên đơn sẽ chấm dứt. Nếu Hội đồng xét xử chỉ xem xét điều kiện xác lập quyền sở hữu của nguyên đơn mà không xem xét các điều kiện xác lập quyền sở hữu của bị đơn dễ dẫn đến một phán quyết phiến diện, xâm phạm quyền lợi của bị đơn.

Thứ hai, cơ sở pháp lý của việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn.

Bộ luật Dân sự năm 2015, án lệ và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện chưa có bất kỳ quy định trong trường hợp chủ sở hữu chứng minh được quyền sở hữu thông qua các loại giấy tờ, chứng nhận quyền sở hữu, còn người chiếm hữu đáp ứng đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì Tòa án phải áp dụng căn cứ nào để công nhận quyền sở hữu cho các bên. Sự “thiếu vắng” các quy định pháp lý rõ ràng là một trong các nguyên nhân dẫn đến phán quyết của Tòa án trong một số trường hợp sẽ không đủ sức thuyết phục.

Theo tác giả, để áp dụng pháp luật trong việc xác định quyền sở hữu thuộc về bên nào, cần phải nghiên cứu triết lý xây dựng pháp luật về xác lập quyền sở hữu do chuyển nhượng và xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với tài sản do chiếm hữu. Theo đó:

- Đối với việc xác lập quyền sở hữu thông qua giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu: Mục đích của nhà làm luật khi xây dựng căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua giao dịch chuyển quyền sở hữu là nhằm bảo đảm quyền tự do ý chí của chủ thể khi định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình. Quyền sở hữu là bất khả xâm phạm, quyền sở hữu không bị tước đoạt một cách trái pháp luật hoặc bằng bạo lực đối với chủ thể khác. Tuy nhiên, quyền sở hữu có thể được dịch chuyển theo ý chí tự nguyện của chủ thể. Trường hợp giao dịch dân sự diễn ra một cách tự nguyện, đúng pháp luật thì quyền sở hữu được xác lập cho bên nhận chuyển nhượng. Quyền sở hữu của bên nhận chuyển nhượng trong trường hợp này chỉ phát sinh nếu giao dịch đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi khi thực hiện giao dịch; việc giao dịch được thực hiện trên tinh thần tự nguyện; nội dung, mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch nếu pháp luật có quy định.

- Đối với việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật: Trong khoa học pháp lý, việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong pháp luật được đặt ra vì một số lý do sau đây: (i) Nhằm “ổn định các quan hệ có liên quan với nhau về mặt thời gian”[1]. Đối với các quan hệ xã hội này, những sự việc xảy ra đã quá lâu, các bên chủ thể liên quan đến sự việc đó còn không nhớ rõ về nó hoặc các chứng cứ chứng minh đã bị mất, bị thất lạc, bị hủy hoại bởi thời gian nhưng vì tranh chấp mà được xem xét lại. Thời hiệu trong trường hợp này được xem như là một chứng cứ mới, phủ định các chứng cứ đã có, bảo vệ quyền cho người có chứng cứ mới. (ii) Theo nguyên tắc tự do ý chí, “thời hiệu được xem là một suy đoán mặc nhiên về ý chí của chủ thể đối với quyền lợi”[2]. Nếu họ có quyền lợi nhưng không bảo vệ quyền lợi của mình trong thời hạn có thể bảo vệ mà không có lý do chính đáng nào “thì có thể suy đoán là họ đã từ bỏ quyền lợi của mình”. (iii) Khuyến khích chủ thể quản lý, khai thác, sử dụng tài sản của mình đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt, tiêu dùng, tạo ra của cải, vật chất cho xã hội. Tài sản là yếu tố mang lại lợi ích kinh tế cũng như đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cho bất kỳ chủ thể nào khai thác, sử dụng tài sản. Vì vậy, Nhà nước tuy không bắt buộc nhưng khuyến khích chủ sở hữu tài sản khai thác, sử dụng tài sản để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội hoặc đáp ứng các nhu cầu vật chất, tiêu dùng của xã hội. Việc có tài sản mà không khai thác, sử dụng hoặc quản lý tài sản bị cho là sự lãng phí của cải xã hội và không được ủng hộ. Một người có tài sản, có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản nhưng tài sản đó không được khai thác sử dụng trong một thời gian dài, để người khác khai thác, sử dụng mà không có tranh chấp thì không còn quyền tranh chấp. Pháp luật thực định cũng ủng hộ quan điểm này khi quy định một trong những căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là tài sản đã bị người khác xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu và điều kiện do pháp luật quy định[3].

Như vậy, từ góc độ phân tích triết lý xây dựng pháp luật của hai căn cứ xác lập quyền sở hữu, theo tác giả, trong trường hợp bên nguyên đơn chứng minh được quyền sở hữu dựa vào giấy tờ sở hữu nhưng không trực tiếp chiếm hữu, khai thác sử dụng tài sản; còn bên bị đơn, tuy không chứng minh được quyền sở hữu phát sinh do sự dịch chuyển quyền sở hữu hợp pháp nhưng nếu chứng minh được đã chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì Tòa án cần công nhận quyền sở hữu cho bị đơn. Việc bị đơn chiếm hữu trực tiếp, ngay tình, liên tục, công khai được coi là chứng cứ mới, chứng cứ này phủ định các chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của bị đơn đã có trước đó. Việc công nhận quyền sở hữu cho bị đơn dựa vào căn cứ chiếm hữu của của Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 là phù hợp với triết lý xây dựng pháp luật có liên quan.

3. Kiến nghị

Qua các phân tích trên, có thể thấy, việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn trong bản án mà chưa xem xét đến điều kiện công nhận quyền sở hữu của bị đơn là thiếu tính thuyết phục; bên cạnh đó, pháp luật vẫn còn bất cập khi chưa có quy định bên nào là bên được bảo vệ quyền sở hữu trong trường hợp tranh chấp quyền đối với tài sản mà người chiếm hữu đã thực tế chiếm hữu, sử dụng và đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Từ đó, tác giả kiến nghị, Tòa án nhân dân tối cao cần nhanh chóng ban hành hướng dẫn xét xử hoặc công bố án lệ để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét xử. Về hướng dẫn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn Tòa án cấp dưới trong trường hợp đương sự có yêu cầu công nhận quyền sở hữu dựa trên căn cứ chiếm hữu thì Tòa án cần phải đánh giá điều kiện xác lập quyền sở hữu của người chiếm hữu. Trường hợp người chiếm hữu đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu thì Tòa án cần phải bác yêu cầu công nhận quyền sở hữu của nguyên đơn. Mặt khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng cần phải tổng kết công tác xét xử của Tòa án cấp dưới, tìm ra bản án mà trong đó người chiếm hữu có đủ điều kiện để công nhận quyền sở hữu thì được Tòa án công nhận quyền sở hữu để đề xuất làm căn cứ công bố án lệ. Trong đó, án lệ cũng phải thừa nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu sau khi xem xét các điều kiện để công nhận quyền sở hữu theo Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Châu Thị Vân

Trường Đại học Quy Nhơn

[1]. Phạm Kim Anh, Chế Mỹ Chương Đài (chủ biên) (2014), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia, tr. 336.

[2]. Phạm Kim Anh, Chế Mỹ Chương Đài, tlđd.

[3]. Điều 240 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: