Chủ nhật 15/03/2026 18:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua việc phân tích và bình luận một vụ án cụ thể

Bàn về căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua việc phân tích và bình luận một vụ án cụ thể

Bài viết tập trung phân tích hai căn cứ của việc xác lập quyền sở hữu, bao gồm xác lập quyền sở hữu thông qua việc chuyển quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu thông qua việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật trên cơ sở bình luận một vụ án cụ thể, từ đó, đưa ra một số kiến nghị liên quan đến vấn đề này.

Trong đời sống xã hội, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là một tranh chấp khá phổ biến. Trong đó, các bên tranh chấp phải có căn cứ để chứng minh tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhiều căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản. Song thực tế cho thấy, có những trường hợp mà bên nguyên đơn chứng minh được họ có quyền sở hữu theo căn cứ được chuyển quyền sở hữu, còn bị đơn thì chứng minh được họ đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Trong những trường hợp này, Tòa án phải công nhận quyền sở hữu của bên nào thì pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng và cũng chưa có án lệ hay hướng dẫn của Tòa án. Bài viết này làm rõ hơn vấn đề này thông qua việc phân tích, bình luận một vụ án cụ thể.

1. Quy định về xác lập quyền sở hữu do nhận quyền sở hữu và xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu

1.1. Xác lập quyền sở hữu do chuyển quyền sở hữu

Khoản 2 Điều 221 và Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó. Để xác lập quyền sở hữu trong trường hợp này, các hợp đồng chuyển quyền sở hữu nói chung phải đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực pháp luật, bao gồm: (i) Các bên chủ thể phải có năng lực hành vi; (ii) Chủ thể xác lập giao dịch chuyển quyền đối với tài sản phải hoàn toàn tự nguyện; (iii) Nội dung, mục đích của giao dịch chuyển quyền sở hữu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (iv) Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải đáp ứng điều kiện về mặt hình thức và thủ tục thì giao dịch chuyển nhượng phải đáp ứng đủ hình thức và thủ tục đó. Các giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu có hiệu lực pháp luật làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng và phát sinh quyền sở hữu cho bên nhận chuyển nhượng.

1.2. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do được lợi không có căn cứ pháp luật là một căn cứ xác lập quyền sở hữu, theo đó, chủ thể có được quyền sở hữu sau một thời hạn chiếm hữu theo quy định của pháp luật. Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Từ quy định này, có thể hiểu rằng, chủ thể có thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu nếu đáp ứng đủ các điều kiện gồm: (i) Chiếm hữu ngay tình (Điều 180 Bộ luật Dân sự năm 2015); (ii) Chiếm hữu liên tục (Điều 182 Bộ luật Dân sự năm 2015); (iii) Chiếm hữu công khai - nghĩa là “việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu diếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình”; công khai ở đây cần được hiểu là về mặt khách quan, người chiếm hữu có những hành vi quản lý, sử dụng tài sản, khẳng định quyền của mình ở mức độ bất kỳ ai quan tâm đến tài sản và chủ sở hữu tài sản đều có thể biết được quyền của chủ thể đối với tài sản.

2. Nội dung vụ án và một số vấn đề pháp lý cần trao đổi

2.1. Nội dung vụ án

Bản án số 577/2020/DS-PT ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố H có nội dung tóm tắt như sau:

Nguồn gốc nhà đất tại số 222 Võ Văn K (số cũ 156 Bến Chương D), phường L, quận 1, Thành phố H là tài sản của ông Đ và bà N mua của bà Đo năm 1969 tại Phòng Chưởng Khế SG và trước bạ ngày 11/7/1969. Ông Đ chết năm 1979. Sau khi ông Đ chết, vợ ông là bà N cùng tất cả các con sang Mỹ định cư. Căn nhà trên do bà Th (là mẹ ruột của bà N, ông B1 và ông B2) quản lý, sử dụng. Các chứng cứ của vụ án không thể hiện rõ giữa bà N và bà Th có việc chuyển nhượng nhà, bà N cho bà Th ở nhờ hay bà N nhờ bà Th trông coi nhà cửa.

Năm 1997, bà N chết không để lại di chúc. Ngày 06/9/2014, các con của ông Đ và bà N gồm: Ông M, bà T, ông Th, bà A đều sinh sống tại Mỹ đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với căn nhà này tại Văn phòng công chứng B theo Văn bản khai nhận di sản thừa kế số công chứng 11752, quyển số 9 năm 2014. Sau đó, các ông bà trên ký Hợp đồng mua bán nhà, số công chứng là 02584 ngày 13/4/2017 tại Văn phòng công chứng H, chuyển nhượng nhà đất trên cho ông C. Giá chuyển nhượng là 8.000.000.000 đồng. Ông C đã giao đủ tiền cho bên bán nhưng ông B1, ông B2 không giao trả căn nhà cho ông C vì cho rằng, căn nhà nói trên là của bà Th để lại cho họ và họ chính là chủ sở hữu ngôi nhà. Hai bên xảy ra tranh chấp nên ông C khởi kiện B1, B2 ra Tòa án để đòi quyền sở hữu đối với căn nhà.

Về phía nguyên đơn, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho nguyên đơn dựa trên các tài liệu chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của nguyên đơn.

Về phía bị đơn, gồm B1 và B2 có yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu cho bị đơn dựa vào Giấy nhượng quyền nhà ngày 05/7/1979 được cho là do bà N lập và việc chiếm hữu, sử dụng thực tế, ổn định, công khai và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước từ đó đến khi tranh chấp.

Kết quả giải quyết vụ án như sau:

- Kết quả xét xử sơ thẩm: Tòa án xác định nhà đất số 222 Võ Văn K là di sản thừa kế do ông Đ bà N để lại, những người thừa kế của ông Đ bà N được quyền hưởng di sản thừa kế này. Do những người thừa kế của ông Đ bà N đều ở nước ngoài nên họ được quyền đứng một bên của hợp đồng để chuyển nhượng nhà ở này cho người khác; người nhận chuyển nhượng nhà từ những người thừa kế của ông Đ, bà N được sở hữu căn nhà hợp pháp, có căn cứ; buộc ông B1, ông B2 và những người đang sinh sống tại nhà đất nói trên phải có trách nhiệm giao trả nhà đất cho bên có quyền là ông C. Bị đơn đã kháng cáo bản án sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

- Kết quả xét xử phúc thẩm: Tòa án bác đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Một số vấn đề pháp lý cần trao đổi

Đây là một bản án điển hình cho tình huống tranh chấp quyền sở hữu giữa chủ sở hữu nhà ở và người chiếm hữu tài sản. Trong tranh chấp này, Tòa án phải xác định được quyền sở hữu nhà ở thuộc về bên nào. Phía nguyên đơn yêu cầu xác lập quyền sở hữu dựa vào các bằng chứng xác lập quyền sở hữu do nhận chuyển nhượng tài sản. Còn phía bị đơn, ban đầu yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu của mình dựa trên bằng chứng của việc chuyển nhượng quyền sở hữu, cuối cùng lại yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu dựa vào thực trạng chiếm hữu. Từ nội dung vụ án, có một số vấn đề pháp lý đặt ra về: (i) Tính khách quan, toàn diện trong việc đánh giá chứng cứ vụ án; (ii) Cơ sở pháp lý của việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn.

Thứ nhất, xét về tính khách quan, toàn diện trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ.

Trong vụ án này, Tòa án đã thu thập và kiểm tra đầy đủ các loại chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của nguyên đơn là ông C để kết luận nhà tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông C.

Theo quan điểm của tác giả, trong vụ án này, điểm chưa thuyết phục của vụ án là Hội đồng xét xử không thu thập chứng cứ và đánh giá điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật dù người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có yêu cầu. Điều này dẫn đến phán quyết của Tòa án là thiếu tính thuyết phục. Bị đơn dù không đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo chuyển nhượng nhưng chiếm hữu ngay tình, công khai, liên tục trong 37 năm là đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015). Để phán quyết của Tòa án được toàn diện và thuyết phục hơn, Tòa án cần phải xem xét các điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật của bị đơn bao gồm: (i) Hành vi khách quan và ý chí của bị đơn khi chiếm hữu tài sản; (ii) Chiếm hữu ngay tình; (iii) Chiếm hữu liên tục; (iv) Chiếm hữu công khai; (iv) Thời hiệu chiếm hữu. Trong vụ án này, cả hai bên chủ thể yêu cầu xác lập quyền sở hữu theo hai căn cứ khác nhau, mỗi căn cứ có những điều kiện xác lập quyền sở hữu riêng. Dù nguyên đơn có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo giấy tờ pháp lý nhưng bị đơn cũng có thể có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu. Cả về lý luận pháp luật và luật thực định đều cho rằng, hậu quả của việc thừa nhận căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu. Nếu bị đơn có đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì quyền sở hữu của nguyên đơn sẽ chấm dứt. Nếu Hội đồng xét xử chỉ xem xét điều kiện xác lập quyền sở hữu của nguyên đơn mà không xem xét các điều kiện xác lập quyền sở hữu của bị đơn dễ dẫn đến một phán quyết phiến diện, xâm phạm quyền lợi của bị đơn.

Thứ hai, cơ sở pháp lý của việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn.

Bộ luật Dân sự năm 2015, án lệ và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện chưa có bất kỳ quy định trong trường hợp chủ sở hữu chứng minh được quyền sở hữu thông qua các loại giấy tờ, chứng nhận quyền sở hữu, còn người chiếm hữu đáp ứng đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì Tòa án phải áp dụng căn cứ nào để công nhận quyền sở hữu cho các bên. Sự “thiếu vắng” các quy định pháp lý rõ ràng là một trong các nguyên nhân dẫn đến phán quyết của Tòa án trong một số trường hợp sẽ không đủ sức thuyết phục.

Theo tác giả, để áp dụng pháp luật trong việc xác định quyền sở hữu thuộc về bên nào, cần phải nghiên cứu triết lý xây dựng pháp luật về xác lập quyền sở hữu do chuyển nhượng và xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với tài sản do chiếm hữu. Theo đó:

- Đối với việc xác lập quyền sở hữu thông qua giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu: Mục đích của nhà làm luật khi xây dựng căn cứ xác lập quyền sở hữu thông qua giao dịch chuyển quyền sở hữu là nhằm bảo đảm quyền tự do ý chí của chủ thể khi định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình. Quyền sở hữu là bất khả xâm phạm, quyền sở hữu không bị tước đoạt một cách trái pháp luật hoặc bằng bạo lực đối với chủ thể khác. Tuy nhiên, quyền sở hữu có thể được dịch chuyển theo ý chí tự nguyện của chủ thể. Trường hợp giao dịch dân sự diễn ra một cách tự nguyện, đúng pháp luật thì quyền sở hữu được xác lập cho bên nhận chuyển nhượng. Quyền sở hữu của bên nhận chuyển nhượng trong trường hợp này chỉ phát sinh nếu giao dịch đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi khi thực hiện giao dịch; việc giao dịch được thực hiện trên tinh thần tự nguyện; nội dung, mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch nếu pháp luật có quy định.

- Đối với việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật: Trong khoa học pháp lý, việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong pháp luật được đặt ra vì một số lý do sau đây: (i) Nhằm “ổn định các quan hệ có liên quan với nhau về mặt thời gian”[1]. Đối với các quan hệ xã hội này, những sự việc xảy ra đã quá lâu, các bên chủ thể liên quan đến sự việc đó còn không nhớ rõ về nó hoặc các chứng cứ chứng minh đã bị mất, bị thất lạc, bị hủy hoại bởi thời gian nhưng vì tranh chấp mà được xem xét lại. Thời hiệu trong trường hợp này được xem như là một chứng cứ mới, phủ định các chứng cứ đã có, bảo vệ quyền cho người có chứng cứ mới. (ii) Theo nguyên tắc tự do ý chí, “thời hiệu được xem là một suy đoán mặc nhiên về ý chí của chủ thể đối với quyền lợi”[2]. Nếu họ có quyền lợi nhưng không bảo vệ quyền lợi của mình trong thời hạn có thể bảo vệ mà không có lý do chính đáng nào “thì có thể suy đoán là họ đã từ bỏ quyền lợi của mình”. (iii) Khuyến khích chủ thể quản lý, khai thác, sử dụng tài sản của mình đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt, tiêu dùng, tạo ra của cải, vật chất cho xã hội. Tài sản là yếu tố mang lại lợi ích kinh tế cũng như đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cho bất kỳ chủ thể nào khai thác, sử dụng tài sản. Vì vậy, Nhà nước tuy không bắt buộc nhưng khuyến khích chủ sở hữu tài sản khai thác, sử dụng tài sản để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội hoặc đáp ứng các nhu cầu vật chất, tiêu dùng của xã hội. Việc có tài sản mà không khai thác, sử dụng hoặc quản lý tài sản bị cho là sự lãng phí của cải xã hội và không được ủng hộ. Một người có tài sản, có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản nhưng tài sản đó không được khai thác sử dụng trong một thời gian dài, để người khác khai thác, sử dụng mà không có tranh chấp thì không còn quyền tranh chấp. Pháp luật thực định cũng ủng hộ quan điểm này khi quy định một trong những căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là tài sản đã bị người khác xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu và điều kiện do pháp luật quy định[3].

Như vậy, từ góc độ phân tích triết lý xây dựng pháp luật của hai căn cứ xác lập quyền sở hữu, theo tác giả, trong trường hợp bên nguyên đơn chứng minh được quyền sở hữu dựa vào giấy tờ sở hữu nhưng không trực tiếp chiếm hữu, khai thác sử dụng tài sản; còn bên bị đơn, tuy không chứng minh được quyền sở hữu phát sinh do sự dịch chuyển quyền sở hữu hợp pháp nhưng nếu chứng minh được đã chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì Tòa án cần công nhận quyền sở hữu cho bị đơn. Việc bị đơn chiếm hữu trực tiếp, ngay tình, liên tục, công khai được coi là chứng cứ mới, chứng cứ này phủ định các chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của bị đơn đã có trước đó. Việc công nhận quyền sở hữu cho bị đơn dựa vào căn cứ chiếm hữu của của Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 là phù hợp với triết lý xây dựng pháp luật có liên quan.

3. Kiến nghị

Qua các phân tích trên, có thể thấy, việc công nhận quyền sở hữu cho nguyên đơn trong bản án mà chưa xem xét đến điều kiện công nhận quyền sở hữu của bị đơn là thiếu tính thuyết phục; bên cạnh đó, pháp luật vẫn còn bất cập khi chưa có quy định bên nào là bên được bảo vệ quyền sở hữu trong trường hợp tranh chấp quyền đối với tài sản mà người chiếm hữu đã thực tế chiếm hữu, sử dụng và đủ điều kiện để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Từ đó, tác giả kiến nghị, Tòa án nhân dân tối cao cần nhanh chóng ban hành hướng dẫn xét xử hoặc công bố án lệ để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét xử. Về hướng dẫn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn Tòa án cấp dưới trong trường hợp đương sự có yêu cầu công nhận quyền sở hữu dựa trên căn cứ chiếm hữu thì Tòa án cần phải đánh giá điều kiện xác lập quyền sở hữu của người chiếm hữu. Trường hợp người chiếm hữu đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu thì Tòa án cần phải bác yêu cầu công nhận quyền sở hữu của nguyên đơn. Mặt khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng cần phải tổng kết công tác xét xử của Tòa án cấp dưới, tìm ra bản án mà trong đó người chiếm hữu có đủ điều kiện để công nhận quyền sở hữu thì được Tòa án công nhận quyền sở hữu để đề xuất làm căn cứ công bố án lệ. Trong đó, án lệ cũng phải thừa nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu sau khi xem xét các điều kiện để công nhận quyền sở hữu theo Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Châu Thị Vân

Trường Đại học Quy Nhơn

[1]. Phạm Kim Anh, Chế Mỹ Chương Đài (chủ biên) (2014), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia, tr. 336.

[2]. Phạm Kim Anh, Chế Mỹ Chương Đài, tlđd.

[3]. Điều 240 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: